Bài Hát của Bà Mẹ INUT

23/01/202621:07:00(Xem: 1035)
VB  (6)

 

Mùa Đông đang tới ở Bắc Mỹ, tuyết rơi, tuyết rơi! Lạnh và đẹp, làm người ta liên tưởng tới những vùng Green Land, nơi gần như tuyết giá quanh năm, nơi có những con người sống với giá lạnh và nơi có những nguồn khoáng sản trù phú mà những cường quốc trên thế giới lúc nào cũng manh tâm chiếm đoạt.

 

Hãy thưởng thức một bài hát của bà mẹ Inut, một bài ru con rất đơn sơ và cảm động, cảm động như khi ta hát bài hát ru con của những bà mẹ Việt Nam: Cái ngủ mày ngủ cho lâu/Mẹ mày đi cấy ruông sâu chưa về.

Nếu cường quốc đến chiếm những vùng đất đai này, họ có tước cả những bài hát này không? Bà mẹ Inut có còn được ôm con trước hiên nhà ru con bằng những bài hát tràn ngập tình tự quê hương của mình?

 

BÀI HÁT CỦA BÀ MẸ INUT

 

       Ngôi nhà tĩnh mịch quá,

       Ngôi nhà thật êm ả

       Bão tuyết kêu bên ngoài

       Những con chó giấu mũi

       dưới những cái đuôi dài

 

        Con trai nhỏ của tôi

        Đang nằm trên bậu cửa

        ngửa mặt lên trần nhà

        ngủ vùi trong hơi thở

        miệng con hơi hé mở

        bụng con phập phồng cong

   

        Ôi thật là lạ lùng

        Nếu bây giờ tôi khóc

        Với niềm vui ngập lòng!

  (Thơ của người Inuit, tmt chuyển ngữ từ bài English)

 
*

The Mother’s Song
It is so still in the house.
There is a calm in the house;
The snowstorm wails out there,
And the dogs are rolled up with snouts under the tail.
My little boy is sleeping on the ledge,
On his back he lies, breathing through his open mouth.
His little stomach is bulging round - 
Is it strange if I start to cry with joy? ANONYMOUS

Poetry Background

The Mother's Song is a traditional Eskimo poem translated by Peter Freuchen, a Danish explorer who had spent many years among the Eskimo people. The poem is published in his Book of the Eskimos (1961)which is crammed full of information on the history, lifestyles, and rapid changes in this civilization's lives.

 

tmt-Jan.8/2026

Mưa Mưa Mưa Bên kia biển Mưa có lạnh không em Dúi ngón chân son dưới lòng cát ấm Cát sẽ phủ chân em Biển vuốt ve trìu mến Sóng nhấp nhô mưa đời
Tam quan mái lạnh người không tới | Cả ngôi chùa đứng khóc trong mưa.
Trước khi là một bài thơ, "Hòn Đá Làm Ra Lửa" đã là một hành vi kỳ lạ đối với chính khái niệm văn bản. Nó ra đời không trên trang giấy mà trong trí nhớ, giữa hai trại tù Gia Trung và Hàm Tân, suốt gần một thập niên, chỉ được ghi thành chữ lần đầu khi tác giả đã đặt chân tới Thụy Điển, theo tài liệu, nhưng tôi nghĩ, phải trước đó, khi ra khỏi tù hay đến chốn an toàn, phải ghi lại dù không được tề chỉnh như sau này. Phần đông người đọc dừng lại tắc lưỡi, xem đây là một chi tiết cảm động về nghị lực.
Tôi gặp lại anh bên kia ngọn núi / Trong nắng chiều sắp tối / Sao anh không về nhà? / Cha khóc con tàn hết mùa hoa / Mẹ chờ con khuyết cả trăng rằm / Nhà xưa em vẫn đợi / Đó không phải là nhà / Đó là cái còn lại / Của bóng tối. Khuôn mặt tôi không còn nữa / Bên kia cánh cửa: không ai chờ / Làng quê xa vời vợi: tiếng gà gáy sáng / Chó sủa đêm trăng.
Như đứa trẻ nghịch ngợm xé ra trên mặt nước những vòng tròn quấn quít trăm điểm mở
buổi chiều trở về từ cuộc đi bộ | nghe chút hương thơm của hoa jasmin | trắng như bạch ngọc
Cách tốt nhất để giết một con chim | là thế này: dù nó đang cãi cọ hay cất tiếng kêu, | bạn hãy viết rằng chú chim nhỏ đang hót.
Thưa Công nương mắt hương thu u uất Mùa thu không trở lại trong đôi mắt đại dương xanh đầy móng vuốt và, tiếng hát của nàng rắc hoa trên đường về quê cũ xa xăm. Công nương không tin ư
Chuỗi hạt mẹ nằm trên trang | Ý thờ sâu lắng miên man niệm tình
Trận Mậu Thân xãy ra, đơn vị tôi đánh nhau với vc ngay sân nhà.Trận Gò Me Biên Hòa cách hậu cứ tôi chừng 500 mét. Thằng em tôi, thằng em… tôi vừa cưới vợ cho nó nằm lại cùng chiến trường. Vợ nó đón đơn vị quay về ngay tại sân cờ, nhìn quanh không thấy nó, mang cái bầu, xông thẳng đến tôi, không một giọt nước mắt đấm vào ngực tôi bình bịch ‘chồng em đâu, mất rồi hả anh hai’. Vâng đời lính là vậy, vợ lính là vậy.
Để hiểu một nhà thơ, đôi khi phải bắt đầu từ chỗ thân xác họ đã đi qua. Với Nguyễn Hoàng Nam, chỗ ấy là một chiếc ghe đánh cá ra cửa biển Rạch Giá. Trong bài Về nguồn (1990), ông ghi lại khoảnh khắc mửa thốc mật xanh trong hầm ghe, và chính trong cơn say sóng kinh hoàng đó, ký ức quê nhà bật lên: xứ Bưởi Biên Hòa, căn nhà số 66 đường Phan Đình Phùng nơi người mẹ mang ông trong lòng. Rồi đến trại tị nạn Songkhla ở Thái Lan với nắng cháy tóc và sứa lửa phỏng da, sau những bữa ăn cá sình rau vụn. Rồi đến Bolsa, đến tượng Phước Lộc Thọ, đến những bãi biển California.
Môi thầm ngậm nửa lời kinh | Tưởng như thập giá ẩn mình trong sương | Trả lại Chúa những vết thương
tâm trí và khói lang thang | bên này, bên kia trái đất | hồ nước cạn, con đường ngập | cánh rừng tự thiêu | tảng băng bắc cực lững lờ