Hôm nay,  

Đọc ‘Đuổi Bắt Một Mùi Hương’ Của Phan Tấn Hải Như Quán Công Án Thiền

13/02/202600:00:00(Xem: 1275)
Đuổi-Bắt-Một-Mùi-Hương-Cover
 
Công án Thiền là gì? Có lẽ đây là câu hỏi đầu tiên mà độc giả bài này muốn có câu trả lời để biết trước khi có thể đọc tiếp.

Một cách tóm lược và đơn giản, công án Thiền là những lời chỉ dạy của một thiền sư dành cho một đệ tử trong một hoàn cảnh đặc biệt nào đó để vị đệ tử này dùng lời chỉ dạy ấy như một pháp quán để ngộ hay kiến tánh. Trong Thiền Tông Trung Hoa có khoảng 1,700 công án được tích tập bởi những lời dạy của nhiều thiền sư qua các thế hệ. Nhiều vị học Thiền không có cơ duyên thân cận với một bậc Thầy đắc đạo để nhận sự chỉ giáo trực tiếp thì dùng một trong các công án này để tự mình kiến tánh.

Nói cho đúng ra, tất cả công án Thiền chỉ có một mục đích duy nhất là làm sạch tạp niệm trong tâm của người tu để khi tâm đạt đến tình trạng tĩnh lặng tuyệt đối thì trí tuệ rốt ráo bừng sáng và có thể thấy tánh. Giống như khi mặt nước lắng trong thì mặt trăng hiện nguyên hình. Vì vậy, quán công án Thiền không phải để tìm câu giải đáp bí ẩn nào đó nằm trong công án ấy mà để tẩy sạch vọng tâm điên đảo. Cho nên, các công án Thiền rất bí hiểm, rất tối nghĩa, rất nghịch lý. Chẳng hạn, công án mà tổ Minh Hoằng Tử Dung trao cho ngài Liễu Quán, “Vạn pháp quy nhất, nhất quy hà xứ?” (Muôn pháp về một, một về chỗ nào?). Người quán công án này không thể nào tìm ra câu trả lời được, bởi vì chỉ khi nào vị ấy kiến tánh thì mới biết câu trả lời đích thực mà thôi. Nhưng một công án phải có công năng làm cho người quán nó đạt đến tình trạng cao điểm của nghi. Tức là người quán công án phải tự tra vấn và gõ tất cả các cửa có khả năng giải đáp nó cho đến khi không còn có cách nào để hiểu được nữa thì năng lực của nghi tình, theo thuật ngữ của Thiền, mới đạt đến tột đỉnh, hay là trạng thái nhất tâm bất loạn. Và rồi, trong một khoảnh khắc sát-na tâm nào đó, rất bất chợt, người quán công án ấy do một cơ duyên rất tình cờ nào đó bỗng dưng bùng vỡ tâm thức của mình ra để thấy tánh mà Thiền gọi là ngộ. Ngộ tức là thấy được bản tâm, mà Thiền gọi là bản lai diện mục.

Nhà văn Phan Tấn Hải, pháp danh Nguyên Giác, là người có công rất lớn vào việc giới thiệu Thiền đốn ngộ cho độc giả Việt Nam trong và ngoài nước qua các bản dịch và trước tác của anh về Thiền, về Kinh điển thời kỳ đầu tiên mà đức Phật chỉ dạy cách thấy tánh, nhìn thẳng vào bản tâm của mình không cần qua trung gian của pháp môn nào khác. Thiền Tổ Sư gọi đó là “Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật” (Chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật). Nhà văn Phan Tấn Hải đã ấn hành hàng chục tác phẩm về Thiền, về Phật Pháp trong nhiều thập niên qua.

Tôi có được cơ duyên quen biết nhà văn Phan Tấn Hải từ hơn ba thập niên trước, nhưng cho đến khi tôi vào làm việc ở tòa soạn nhật báo Việt Báo vào giữa năm 2008 thì mới có cơ hội gần gũi để học hỏi từ anh nhiều điều mà trong đó có nghề làm báo và Thiền. Phan Tấn Hải là một người mang tâm Phật. Anh rất cẩn trọng trong từng lời, từng chữ viết bởi vì anh không muốn làm tổn thương cho bất cứ ai để chính mình tạo nghiệp. Anh từng nhắc nhở tôi rằng làm báo là nghề để kiếm sống nhưng đừng để mình tạo nghiệp. Cho nên anh khuyên tôi phải luôn luôn giữ cái đầu “lạnh” và trái tim “ấm.” Nghề làm báo ở khu phố Bolsa mà cái đầu “nóng” và trái tim “lạnh” thì dễ tạo nghiệp lắm!

Nhà văn Phan Tấn Hải có sức làm việc và sáng tác phi thường mà tôi bái phục vô cùng. Hiện anh đã bước qua cái tuổi “cổ lai hy” mà vẫn còn có sức viết khó ai bì kịp. Dường như nếu tôi thấy không lầm thì mỗi ngày nhà văn Phan Tấn Hải đều có bài viết hay bài dịch mới cho đăng trên Việt Báo và các trang mạng khác. Anh đã từng nói với các anh chị em trong tòa soạn Việt Báo rằng anh luôn luôn nghĩ tối nay mình sẽ chết. Nên nếu bây giờ và hôm nay không tận sức thì sẽ không còn cơ hội nữa.

Tập truyện “Đuổi Bắt Một Mùa Hương” của nhà văn Phan Tấn Hải vừa được nhà xuất bản Văn Học Press và Việt Báo Foundation ấn hành tại California vào đầu năm 2026.

Tập truyện “Đuổi Bắt Một Mùi Hương” gồm 33 truyện mà nhà văn Phan Tấn Hải viết từ trước và sau năm 1975 ở trong nước và ở hải ngoại. Những truyện viết trước năm 1975 kể về thời học sinh của anh trong bối cảnh Miền Nam đang lên cơn sốt vì cuộc chiến ngày càng khốc liệt. Những truyện viết sau năm 1975 ở trong nước kể về những khốn khó về kinh tế và bất an về xã hội của người dân Miền Nam sau khi cộng sản cai trị cả nước. Những truyện viết khi đi ra hải ngoại cho đến gần đây kể về cuộc sống mới trong một xã hội mới hay những hồi ức về một thời nào đó mà anh đã trải nghiệm.

Các truyện trong tập truyện “Đuổi Bắt Một Mùi Hương” bàng bạc chất Phật và chất người. Trong tập truyện này, một cách hiển lộ hay ẩn mật những giáo nghĩa của nhà Phật, từ nhân quả nghiệp báo đến Tánh Không của Bát-nhã và Thiền đốn ngộ. Trong đó cũng chứa đựng các phẩm chất của một người bình thường như tình yêu nam nữ, lòng hiếu thảo đối với cha mẹ, tình yêu quê hương và dân tộc, nỗi thao thức và đồng cảm cho thân phận con người trước những bất an của xã hội và thời thế, v.v…  

 “Đuổi Bắt Một Mùi Hương” là truyện chủ đề của tập truyện vừa mới xuất bản năm 2026. Tôi rất thích truyện này không phải vì nó là truyện mang chủ đề của tập truyện mà vì nó có cái gì đó lôi cuốn tôi ngay từ lúc mới đọc qua tựa đề.

Lần đầu đọc qua tựa đề “Đuổi Bắt Một Mùi Hương,” tôi đã không ngừng đặt ra nhiều câu hỏi: Mùi hương ấy là gì? Tại sao phải “Đuổi Bắt Một Mùi Hương”? Làm thế nào và có thể nào “Đuổi Bắt Một Mùi Hương”? Tâm trạng tôi lúc đó y hệt như tâm thái của một thiền sinh mới vừa đọc được một công án Thiền mà mình đã bất chợt bắt gặp đâu đó. Nó cuốn hút tôi vào vòng xoáy truy tìm cái bản lai diện mục của một mùi hương. Nó xô đẩy tôi vào một con đường độc đạo không thể quay đầu trở lại mà chỉ có thể đi tới. Nó có sức hút mãnh liệt đến không thể cưỡng nổi của một công án đối với một thiền sinh đang khát khao tìm cầu kiến tánh để giải quyết vấn nạn sanh tử đã bám riết theo mình từ vô lượng kiếp. Khi đọc vào truyện này tôi mới biết rằng không phải chỉ mình tôi bị cái mùi hương gì đó lôi cuốn mà chính tác giả Phan Tấn Hải cũng lâm vào tình cảnh y hệt.

“Giấc ngủ đêm hôm đó, mùi hương bay tràn ngập trong hồn tôi. Sáng ra, khi ngồi uống trà với Thầy Đồng Nguyên và gật gù, tôi tự nhủ: ‘Đúng vậy hồn mình đã bị mùi hương kia đoạt rồi, ngay khi mình đuổi bắt hay chạy trốn là mình đã bị chụp bắt rồi’.”

Tôi biết bạn đọc đang rất muốn biết chuyện gì đã xảy ra trong truyện “Đuổi Bắt Một Mùi Hương,” đúng không?

Chuyện là như thế này, theo lời kể của nhà văn Phan Tấn Hải, lúc đó chàng chỉ mới 17 tuổi, còn nàng thì nhỏ hơn một hai tuổi gì đó và đang theo học ở trường nữ Gia Long. Vào một buổi chiều gần tối ngay trước cổng chùa Xá Lợi ở Sài Gòn, nàng đang đứng đợi ai đó, có lẽ là người chị đến trễ để đón về nhà sau khi nàng tan học. Chàng cũng đứng đó một mình và hai người đang trò chuyện. Nên nhớ lúc đó ngay tại chỗ đó chỉ có đôi trai gái này thôi nhé. Bỗng dưng nàng đề nghị trò chơi hai người nhìn vào mắt nhau để xem ai chớp mắt trước. Khi nghe nói vậy thì chàng đương nhiên đồng ý ngay, và rồi trò chơi bắt đầu… Chàng kể rằng:

Tôi nhìn, chỉ thấy mắt nàng đen lánh, tóc xõa chấm vai... Bất chợt, không hiểu sao, tự nhiên tôi nắm tay cô bé. Bây giờ nhớ lại, tôi nghĩ, có thể lúc đó cô bé tự động nắm tay tôi trước.

Tay tôi như điện chạy tê rần, hốt nhiên giật lại. Một mùi hương từ sân chùa theo gió bay ra. Tôi không nhớ chính xác rằng chị cô bé tới khi nào. Cũng không hiểu tại sao không nhớ. Vì chị cô bé đi xe Honda dame, hễ tới là mình phải thấy chứ. Khi nhìn lại, cô bé biến đi rồi.

Nhà văn Phan Tấn Hải kể rằng sáng hôm sau ông lên chùa Xá Lợi đi vòng quanh chùa để tìm xem mùi hương ấy xuất phát từ đâu. Nhưng ông nói hoàn toàn không tìm ra được loại mùi hương đó nơi chùa Xá Lợi. Ông cũng nói rằng mùi hương ấy tuyệt nhiên không phải là cái mùi hương con gái hay mùi nước hoa từ nàng. Mùi hương đó cứ theo ông cả nhiều thập niên. Mãi cho đến khi ông vượt biên ra hải ngoại định cư tại Mỹ mà mùi hương đó vẫn theo ông. Điều rất kỳ lạ là, theo Phan Tấn Hải kể, ông không chỉ ngửi được mùi hương mà còn nhìn thấy cả mùi hương nữa.

Mùi hương mà cũng thấy được ư? Theo tôi nghĩ, khi tu tập thiền đến mức có chút thành tựu nào đó thì người ta có thể dụng tâm biến mãn khắp thân tâm, khắp vũ trụ pháp giới. Tới mức ấy thì người tu không phải chỉ nghe bằng tai mà bằng cả lục căn. Cũng vậy, không phải chỉ ngửi bằng mũi mà bằng cả sáu căn - mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý nữa. Đây chính là trạng thái của người quán công án đạt đến chỗ vo tròn thân tâm thành một khối nhất như vô phân biệt, hay là trạng thái của nhất tâm.

Một chi tiết khác khá thú vị trong truyện “Đuổi Bắt Một Mùi Hương” là khi đã có thể nhìn thấy mùi hương thì nhà văn Phan Tấn Hải quyết định lấy giấy bút để vẽ mùi hương đó. Và dưới đây là hai đoạn văn hay và ý nghĩa cao siêu nhất trong tập truyện này:

“Ngay khi cầm cọ lên, tôi mới nhận ra rằng không có gì tự có trên đời này cả. Không có mùi hương nào là tự có cả. Tôi nhớ lời Thầy Tịch Chiếu nói năm xưa, rằng khi tôi trở về sân chùa ngồi và khi trên đồi vẫn còn chim kêu và vẫn còn gió thổi ào ạt, vậy thì tiếng chim kêu và tiếng gió bạt ở đâu.

“Tôi vẽ vòng tròn Thiền Tông lên giấy. Mực tàu loang trên giấy, và tôi thấy mình hiện ra trên đó, trên nét mực đó, có khuôn mặt của tôi, có khuôn mặt của nàng, có tiếng cười của mấy tên bạn đùa nghịch sân chùa Xá Lợi, có tiếng chim kêu trên núi Bình Dương, có tiếng Thầy Đồng Nguyên nói vọng lại từ Đại Tùng Lâm, có tiếng sóng biển Vũng Tàu, và trong nét mực trước mặt tôi đã có tất cả những âm thanh của trần gian này...”

Tại sao nhìn vào vết mực loang trên giấy, Phan Tấn Hải lại có thể nhìn thấy được nhiều thứ như thế?

Nhà văn họ Phan nói rằng ông đã vẽ “vòng tròn Thiền Tông.” Vậy vòng tròn Thiền Tông này là gì? Trong Mười Tranh Chăn Trâu (Thập Mục Ngưu Đồ) của Thiền Tông qua nét vẽ của hai nhà sư họa sĩ Quách Am và Thanh Cư ở Trung Hoa, thì vòng tròn thuộc bức tranh thứ tám có tên gọi là “nhân ngưu câu vong,” tức là cả người [chăn trâu] và trâu đều quên, mà được biểu thị bằng một vòng tròn. Người và trâu đều quên hết ấy là buông bỏ chấp ngã và chấp pháp, nhờ diệu dụng của trí tuệ Bát-nhã thấu suốt Tánh Không của vạn hữu. Đó cũng là tâm tịch lặng, rỗng suốt không ngăn ngại, giống như tấm gương trong sáng có thể phản chiếu mọi vật lên đó một cách trọn vẹn. Cho nên, nhà văn Phan Tấn Hải mới nói là ông thấy cả ông và mọi thứ đều xuất hiện trên cái vòng tròn ấy.

Đến đây, có lẽ có bạn sẽ hỏi: Vậy thì mùi hương kia từ đâu đến? Mùi hương chính là tâm, tâm chính là mùi hương. Khi tâm nghĩ tới mùi hương thì mùi hương hiện khởi. Khi tâm tĩnh lặng thì mùi hương tịch lặng. Cả tâm và mùi hương vốn xưa này là rỗng lặng. Nói có cũng không đúng mà nói không cũng chẳng phải. Đó là ý nghĩa của câu “sắc tức là không, và không tức là sắc,” trong Bát-nhã Tâm Kinh. Như nhà văn Phan Tấn Hải viết trong truyện:

“Tôi mỉm cười trước trang giấy với nét vẽ vòng tròn Thiền Tông. ‘Vậy à, khi không có một ai đứng nơi đồi chim đó, những âm thanh đó ở đâu.’ Tôi nghe lại giọng từ tốn của Thầy Bình Dương, rằng khi không có một tâm nào nơi đó, cảnh kia ở đâu hiện ra. ‘Vâng, thưa Thầy, con biết, sắc tức là không, và không tức là sắc’.”

Đến lúc này, nhà văn Phan Tấn Hải đã bùng vỡ ra cái công án mùi hương mà ông đã quán chiếu nó suốt mấy chục năm trời. Nhờ vậy anh đã ngộ ra rằng, “…là hoàn toàn không có ai đuổi bắt mùi hương cả, và cũng không thực sự có mùi hương nào để được đuổi bắt hay chạy trốn cả. Và các pháp tự thân đã là vắng lặng, dù mùi hương có đến hay đi.”

Truyện “Đuổi Bắt Một Mùi Hương” không những hay vì ý nghĩa thâm diệu của giáo lý “sắc tức thị không, không tức thị sắc” của Bát-nhã Tâm Kinh, hay diệu dụng bất khả tư nghì của pháp quán công án trong Thiền tông, mà còn qua cấu trúc ảo diệu của truyện qua ngòi bút của nhà văn Phan Tấn Hải.

Quả thật vậy, lồng pháp tu Thiền đốn ngộ trong câu chuyện tình lãng mạn của tuổi học trò mà tâm hồn còn trong sáng và thơ ngây là một điều không phải dễ chút nào đối với những người cầm bút, bởi vì đó là hai thế giới khác nhau theo suy nghĩ bình thường của thế nhân. Nhưng nhà văn Phan Tấn Hải đã làm được một cách tuyệt hảo. Có lẽ nhà văn Phan Tấn Hải khi đặt bút viết truyện này anh cũng thừa hiểu được rằng đó là hai thế giới khác nhau. Một bên là tình của thế gian, tức là tục đế, nói theo thuật ngữ nhà Phật. Còn bên kia là đạo xuất thế gian, tức là chân đế. Để vượt qua cái hố ngăn cách này, nhà văn họ Phan đã sử dụng đến tuyệt chiêu mà chỉ có người trong nghề mới biết: Nhị đế dung thông! Tục đế và chân đế, hay đời và đạo dung thông vô ngại. Nhưng để có thể sử dụng được tuyệt chiêu này người dùng nó phải có bản lãnh thâm nhập được vào pháp giới viên dung vô ngại của nhất tâm, hay cái tâm rỗng lặng, mà Thiền gọi là bản lai diện mục. Từ điều này, chúng ta hiểu tại sao khi vẽ mùi hương, nhà văn Phan Tấn Hải đã vẽ một vòng tròn Thiền Tông, vòng tròn viên dung vô ngại.  

Chính vì thế, những mối tình trong “Đuổi Bắt Một Mùi Hương” của Phan Tấn Hải rất thơ mộng, rất lãng mạn, rất trong sáng và đôi khi cũng rất ngây thơ. Chàng và nàng đứng trước cổng chùa Xá Lợi vào một buổi tối trời, không một bóng người qua lại, vậy mà chỉ có “nắm tay” nhau thôi, ngay cả một nụ hôn cũng chẳng có. Tình mà “thánh thiện” như vậy hỏi làm sao “chân, tục” không dung thông vô ngại!  

Xin cảm ơn nhà văn Phan Tấn Hải. Xin cảm ơn nhà xuất bản Văn Học Press và Việt Báo Foundation.
 
Huỳnh Kim Quang
 

Buổi tối hôm đó, gió thổi nhẹ qua những hàng quán nhỏ, và trong một góc phố không mấy nổi bật, tôi thấy Jean-François Lyotard ngồi một mình trước một quán mì gói bình dân. Không phải quán fancy kiểu “mì ramen concept Japan fusion” gì cả. Chỉ là một quán lề đường với cái mái tôn lủng vài lỗ, mấy cái ghế nhựa xanh đỏ, và mùi hành phi thơm theo cách… giới hạn ngân sách.
Chiều Chủ Nhật, 23 tháng Tám, độc giả Việt Báo lâu nay quen gặp nhà văn Ngu Yên qua những bài bình luận trên trang nhất đã có dịp gặp ông “bằng xương bằng thịt” — để chuyện trò, nghe thơ, nghe nhạc, và quan trọng hơn hết, để “rước” sách ông về nhà. Từ Houston sang Nam California, Ngu Yên có một buổi ra mắt sách đông vui ngoài dự liệu. Bước lên sân khấu, nhìn hơn một trăm khách từ nhiều nơi về ngồi kín Coffee Factory, ông cảm động theo kiểu rất ‘Ngu Yên’: “Có lẽ quý vị yêu sách. Có lẽ quý vị yêu tôi, hay yêu Việt Báo. Cũng có lẽ quý vị hơi… không bình thường, khi bỏ một buổi chiều Chủ Nhật đẹp như hôm nay để đến đây ngồi nghe chúng tôi nói chuyện chữ nghĩa.” Khán phòng cười ồ. Và từ phút đó, buổi ra mắt sách không còn giống một buổi ra mắt sách ‘bình thường’ nữa. Nhà báo Đinh Quang Anh Thái dí dỏm ví đây là một “lễ rước sách.”
Bài viết này là câu chuyện về một cuộc tranh đấu khác trong chiến tranh: giữ lại bằng chứng rằng một con người đã từng sống, từng yêu, từng nhớ, trước khi họ bị xóa khỏi thế gian.
Trong cuốn hồi ký kinh điển viết về nạn khủng bố của nhà nước Sô Viết thời thập niên 1930, cuốn Hope Against Hope, bà Nadezhda Mandelstam kể lại những năm cuối cùng của cuộc hôn nhân với thi sĩ Osip Mandelstam, khi hai vợ chồng phải trốn tránh hết thành phố này đến làng mạc khác, sống nhờ lòng hảo tâm của một số ít bạn bè và người lạ can đảm, bị trục xuất khỏi căn nhà ở Mạc Tư Khoa vì bị xem là kẻ thù của chế độ. Tội trạng chính của Osip chỉ là đã đọc lên, trong một bữa tiệc, một bài thơ mà ông chưa từng viết ra giấy, càng chưa từng cho xuất bản, nhằm chế giễu Stalin và vạch trần chế độ tàn bạo của y.
Concrete Poetry hay Visual poetry, thơ Cụ Thể hay thơ Thị Giác, tôi không thể xác định, có lẽ cả hai. Nhà thơ Nguyễn Hoàng Nam là người ngắn tiểu sử. Ông xuất hiện gần như từ đầu của dòng thơ hải ngoại và từ tốn làm thơ. Không tự thắp sáng mình, cũng không tự đốt mình như một số nhà thơ đã cháy. Thoạt nhìn, thơ của ông bình thường nhưng nhìn đi nhìn lại, có thứ gì ẩn núp bên dưới chữ nghĩa hình ảnh rất khác thường, mới một cách không khoe. Ví dụ như những ngày trống, tâm tư đầy quá khiến cảm giác rỗng, ông làm, có phải thơ hay không?
Câu danh ngôn bất hủ của Edward Bulwer-Lytton, và nhìn lại lịch sử của nhân loại toàn cầu, đã chứng minh một chân lý vô song. Những đế chế hùng mạnh nhất lịch sử thế giới như Đế quốc Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo, chinh phục từ Á sang Âu, hay Đế quốc La Mã do Hoàng đế Augustus Julius Caesar chỉ huy, hùng mạnh vô địch làm ảnh hưởng cả châu Âu suốt 2.000 năm, rồi cũng lụi tàn. Nhưng những tác phẩm văn học được viết bằng máu và tâm huyết thì trường tồn vĩnh cửu.
Xin thú nhận: sẽ không lãng mạn tí nào khi nói rằng hạnh phúc là lúc chạy theo banh. Biết làm sao được, chắc chắn rằng có nhiều tỷ người trên địa cầu này đồng ý như thế, kể cả những người đã từng trải qua một thời tuổi nhỏ đã tưng bừng chạy nhảy, với trang phục quần đùi và áo thung, đuổi theo banh trên sân cỏ hay nơi các góc vỉa hè. Tôi tin rằng hầu hết, nếu không phải tất cả, người Việt Nam trong và ngoài nước đều có một số kỷ niệm thời thơ ấu với môn bóng tròn, chữ xưa còn gọi là túc cầu, bây giờ thường gọi là bóng đá. Nghĩa là, nếu bạn không từng tham dự trận banh nào, không từng mang giày và chạy ra sân, hẳn là bạn cũng từng ngồi bên sân cỏ để nhìn bằng hữu và trẻ em trong làng, trong xóm rủ nhau chạy theo banh, hay đang đưa chân nhồi banh vượt qua hàng hậu vệ của đội phòng thủ. Và khi một cầu thủ nhi đồng nào đó đưa chân sút, hẳn là bạn cũng há hốc mồm nhìn theo quả banh rồi vung tay và hú lên, dù để mừng vui hay thất vọng.
Nhân chứng chuyện gì và để làm gì? Khác với những loại nhân chứng tội phạm, xã hội, chính tri, hoặc chiến tranh, nhà thơ là nhân chứng về cái đẹp của ý nghĩa qua cái đẹp của ngôn ngữ và tạo nên giá trị đẹp. Họ “vén bức màn che giấu vẻ đẹp tiềm ẩn của thế giới, và khiến những vật thể quen thuộc trở nên như thể chúng không hề quen thuộc.” (Percy Bysshe Shelley. Poetry lifts the veil from the hidden beauty of the world, and makes familiar objects be as if they were not familiar.)
Trong mọi từ của một ngôn ngữ, có lẽ không từ nào vừa nhỏ vừa nặng như chữ tôi. Nó chỉ có một âm, nhưng mỗi lần xuất hiện trong một trang văn hay một câu thơ, nó kéo theo cả một câu hỏi chưa bao giờ được trả lời dứt khoát: ai đang nói đây. Người đọc bình thường có một phản xạ tự nhiên, là tin rằng chữ tôi trên trang giấy chính là tác giả, người có tên in ngoài bìa sách. Nhưng văn học, ngay từ buổi có ý thức về chính mình, đã liên tục phá vỡ phản xạ ấy. Cái tôi trong văn học hiếm khi đơn giản là người viết. Nó là một vai, một mặt nạ, đôi khi là một đám đông giả trang thành một người. Bài viết này thử lần theo những hóa thân ấy, từ cái tôi là chính tác giả, tới cái tôi là kẻ khác, tới cái tôi tập thể mà Annie Ernaux đã đẩy tới tận cùng, rồi quay về với chữ ta đặc biệt của tiếng Việt, và cuối cùng đặt một câu hỏi cay: phải chăng thi ca hiện đại đã lạm dụng chữ tôi.
Vì không cứ nhìn là thấy. Thấy là việc của mắt. Nhìn là việc của tâm hồn. Người ta có thể thấy rất nhiều mà không thực sự nhìn ra điều gì. Có thể đi qua cả một khu vườn, biết tên từng loài cây mà chưa từng nghe tiếng mùa trong lá. Có thể học hết bản đồ sông núi mà không nhận ra điệu nhạc của dòng nước.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.