Hôm nay,  

‘Bình An’: Cái Cớ Để Bảo Nhau Im Lặng

2/27/202600:00:00(View: 12097)

Xuân-Bình-An
Tết đến, ai cũng mong một chút yên ổn. Nhưng nếu “bình an” đồng nghĩa với việc ai cũng co lại, bớt nói, bớt nhìn, thì đó không còn là bình an nữa, mà là một thứ im lặng vì sợ. Photo: Nguyễn Lập Hậu.

Chiều mùng Hai Tết, cả bọn chúng tôi hẹn nhau ở quán Qua. Một người bạn bảo, Qua là cho qua đi mọi phiền hà rắc rối của năm cũ để đón năm mới nhẹ đầu hơn; một người khác lại nói, Qua nghe như nước, mà nước chảy vào nhà thì cả năm may mắn. Giữa tiếng chén đũa và tiếng cụng ly, chúng tôi chúc nhau những điều quen thuộc: vui, khỏe, thành đạt. Nhưng năm nay, hầu như ai cũng kèm thêm hai chữ “bình an” – không phải theo nghĩa tâm linh, mà như một tấm bùa để tránh rắc rối.

Mấy chị bạn thân, lâu nay vẫn âm thầm bấm like bài tôi viết, lần này nói thẳng: “Năm nay bớt viết mấy chuyện chính trị lại đi em, nguy hiểm lắm. Thời buổi này không đơn giản đâu.” Các bạn không hỏi tôi nghĩ gì; họ chỉ quan tâm liệu tôi có còn an toàn không khi vẫn đều đặn lên tiếng, vẫn gọi đích danh những điều đang xảy ra ở Hoa Kỳ mà nhiều người chọn lướt qua cho nhẹ đầu. Câu chúc “bình an”, trong không khí Tết, bỗng như một lời nhắc nhở: hãy coi chừng.

Sống trong một nền cộng hòa trưởng thành, người dân Mỹ thường tin rằng luật pháp rồi sẽ thắng. Chính quyền có thể sai, có thể lạm quyền, nhưng cuối cùng thì tòa án sẽ lên tiếng và mọi bất công phải dừng lại ở đó. Câu chuyện “tòa sẽ lo” ấy, ở Mỹ, từng là nền tảng chống đỡ mọi hành động tự do. Người ta dám viết, dám nói, dám biểu tình, dám bỏ phiếu chống lại người cầm quyền, vì tin rằng sau mọi tranh cãi đúng sai vẫn có một nơi công minh luật pháp được thi hành – nơi bản án của tòa buộc kẻ mạnh phải nghe theo. Bây giờ, ngồi nghe người thân chúc “bình an” như dựng sẵn một hàng rào, tôi hiểu niềm tin ấy đã bắt đầu rạn nứt.

Trong một bài bình luận gần đây trên Raw Story, Thom Hartmann – nhà báo, người dẫn chương trình lâu năm trên đài SiriusXM, giọng nói quen thuộc với nhiều tài xế Mỹ mỗi buổi sáng – gọi đó là khởi điểm của sự kết liễu nền dân chủ. Ông không dựng cảnh đảo chính, không vẽ xe quân đội đậu trên đại lộ Pennsylvania. Ông cúi xuống chồng hồ sơ tòa án, lần từng bản án liên quan đến chính quyền Trump, và đặt một câu hỏi khó chịu: sau những bản án ấy, thực tế đã đổi khác được bao nhiêu.

Con số ông đưa ra lạnh gáy: các tòa án trên khắp nước Mỹ đã hơn bốn ngàn lần phán rằng những vụ giam giữ của ICE là trái luật. Bốn ngàn lần đóng dấu “bất hợp pháp” lên việc làm của chính quyền Trump. Thế nhưng hơn bảy chục ngàn người, kể cả gia đình và trẻ em, vẫn còn bị giam giữ trong các trại giam hàng rào kẽm gai ngày một mở rộng. Một thẩm phán ký lệnh trả tự do cho một người di dân, cơ quan hành pháp lập tức chuyển sang một điều khoản khác để giữ người đó lại. Một tòa khác chặn một kế hoạch trục xuất, Nhà Trắng liền bám vào một cách giải thích luật khác để tiếp tục con đường cũ. Mặt tiền tòa án, chữ công lý hay “Justice” vẫn sáng. Bên ngoài hàng rào, đời sống của những người trong cuộc không nhích được bao nhiêu.

Alexander Hamilton, trong Federalist số 78, từng viết rằng ngành tư pháp là nhánh ít nguy hiểm nhất vì “không có lưỡi gươm, không nắm quyền chi tiền; chỉ có phán quyết”. Đoạn này, trong lớp học, thường được nhắc lại như một đoạn sử ký. Hartmann kéo nó về hiện tại, đặt cạnh những bản án bị lách: nếu người nắm quân đội và ngân khố chỉ xem phán quyết như một trở ngại kỹ thuật – thua cửa này, vòng cửa khác – thì “phán quyết” chỉ còn là một câu chữ cổ. Một nền dân chủ không biến mất trong một đêm; nó tan rã dần mỗi khi bản án không được thi hành, mỗi khi thua kiện chỉ còn là đổi đường vòng để làm lại điều cũ. Sự suy tàn hay kết thúc của nền dân chủ, trong cách nhìn ấy, không phải là ngày ai đó xé hiến pháp trước ống kính, mà là ngày người ta thấy bình thường với cảnh bản án bị đối xử như tờ thông cáo.

Thế hệ lập quốc hiểu điều ấy không phải qua sách vở mà bằng kinh nghiệm. Dưới vương quyền Anh, quan lại có giấy phép vào nhà dân bất cứ lúc nào, những tòa án “của vua” xét xử theo ý triều đình hơn là theo quyền lợi của người bị đưa ra tòa, thẩm phán nào không chịu cúi đầu thì bị đẩy đi nơi khác. Triều đình luôn có sẵn luật lệ, sắc chỉ, “lý do an ninh” để che chở cho mọi hành vi lạm quyền. Cảm nghiệm của dân thuộc địa rất thẳng: luật là cái để đè cổ người dân, không phải để giúp ai. Ngày nay, khi nhìn cảnh một người bị ICE giam vẫn nằm trong trại dù đã có lệnh tòa đòi thả, cái cảm giác “luật chỉ dùng để đè chứ không để bảo vệ” không còn là chuyện xa vời của thế kỷ mười tám nữa.

Nhưng nếu chỉ có chuyện tòa án bị vô hiệu hóa thì đã dễ nói. Điều khiến tôi nhớ mãi câu chúc “bình an” đêm mùng Hai là phần không ai thấy trong biên bản: bầu không khí khiến người ta ngại nói, ngại viết, ngại đứng tên thật. Giới luật học gọi đó là “chilling effect” – luồng gió lạnh thổi qua mọi câu chữ. Về nguyên tắc, hiến pháp vẫn bảo đảm quyền phát biểu, quyền hội họp, quyền phê phán tổng thống. Nhưng dần dần, những câu chuyện “làm gương” – một người bị đuổi việc vì đăng một bài bị quy chụp, một nhà hoạt động bị điều tra, một phóng viên bị kiện, một tài khoản bị theo dõi – đủ để nhiều người quay lại hỏi chính mình: “Liệu sẽ đến phiên mình gặp rắc rối, nguy hiểm?” Im lặng lúc đó không phải vì lười hay vô tâm, mà vì sợ. Không cần sắc lệnh cấm nói xấu lãnh tụ; chỉ cần vài bản án điểm mặt, phần còn lại là lưỡi dao tự kiểm duyệt mà bất cứ người cầm bút nào cũng cảm nhận được trong tay mỗi lần gõ phím.

Đặt nghề báo vào khung cảnh đó, ta hiểu vì sao chính quyền kiêng báo chí. Một chính quyền không muốn bị soi sẽ tìm cách bẻ gãy những nơi dám đặt câu hỏi. Trong thời gian gần đây, những thay đổi quy chế tại Bộ Quốc phòng đã khiến một số cơ quan báo chí bị tước bớt quyền ra vào. Nhà Trắng thu hẹp “press pool”, chia rõ cơ quan truyền thông nào được ngồi gần, cơ quan nào đứng ngoài cửa; những quy định mới về “vùng an toàn” khiến phóng viên không còn được đứng đủ gần cảnh sát để ghi hình. Những tổ chức theo dõi tự do báo chí phải dùng một chữ rõ ràng: tự do báo chí bị “giáng hạng” – không phải bằng cách đóng cửa tòa soạn, mà bằng cách đẩy họ xa dần mọi việc cần nhìn và cần hỏi.

Tổ chức Free Press gom cả chuỗi biện pháp ấy lại trong một chữ: “Chokehold” – bóp cổ. Họ ghi lại từng đòn tấn công vào Tu chính án thứ Nhất: từ cách chính quyền gán nhãn “tin giả”, “kẻ thù nhân dân” cho những tờ báo độc lập, đến việc sử dụng tiền thuế và sắc lệnh để dằn mặt các cơ quan truyền thông công như NPR, PBS, USAGM. Mục đích không phải là bắt cho hết nhà báo – việc đó tốn kém và xấu mặt – mà là gửi một thông điệp: làm nghề này, nếu không biết điều, thì chuẩn bị chịu đựng. Khi thông điệp ấy đã rõ, không cần lệnh cấm nào nữa: mỗi tòa soạn, mỗi phóng viên sẽ tự bớt câu hỏi, tự mài bớt góc cạnh để khỏi rước thêm họa.

Ở phía đối diện, Reporters Committee for Freedom of the Press suốt năm 2025 gần như dựng lều ăn ngủ ở tòa án, chống từng lệnh cấm quay phim, từng quy định siết nghẹt, từng ý định sửa luật để đưa cơ quan phụ trách truyền thông độc lập USAGM sát lại gần chính quyền. Họ cùng hàng chục cơ quan truyền thông ký đơn đòi trả lại chỗ đứng cho Associated Press, phản đối những “vùng đệm” cấm phóng viên tiếp cận cảnh sát, yêu cầu tòa án liên bang can thiệp khi phía hành pháp muốn đổi cách vận hành truyền thông công theo ý mình. Trong bản tổng kết, họ nói thẳng: chưa bao giờ tự do báo chí ở Mỹ bị tấn công dữ dội như vậy, và chưa bao giờ điều kiện sống còn lại hoàn toàn phụ thuộc vào việc công chúng có còn muốn đứng ra bảo vệ nó hay không.
Hartmann không kết luận bằng những con số mà bằng một hồi ức. Ông kể lại lời một giáo sư Đức sống dưới thời Hitler: mọi thứ bề ngoài vẫn nguyên – nhà cửa, tiệm ăn, rạp hát, những buổi hòa nhạc, bữa cơm chiều. Người ta vẫn đi làm, đi xem phim, đưa con đến trường như trước. Chỉ có một điều đổi mà không ai buồn gọi tên: không khí. Một mùi hằn học, sợ hãi rỉ vào từng câu nói, từng cái nhìn. Đến một hôm, đứa con nhỏ vô tư buột miệng chửi người Do Thái bằng những tiếng học được ngoài đường, ông mới bàng hoàng nhận ra: mình đã sống quen với một xã hội méo mó lúc nào không hay. Nước Mỹ hôm nay, nếu đã quen với cảnh bản án bị coi như giấy vụn và người yếu thế bị dẫn đi trong im lặng, rất có thể rơi vào một tình trạng như thế.

Lúc ấy, câu chuyện không còn là chuyện thích hay ghét một ông tên Trump. Vấn đề nằm ở một thói quen đang lớn lên trong bộ máy cầm quyền: luật là thứ họ có thể uốn theo ý mình, báo chí là thứ họ có thể đem ra răn đe, tiếng nói bất đồng là thứ họ sẵn sàng nhận chìm. Nếu những thói quen ấy không gặp phản ứng rõ rệt từ phía người dân, chúng sẽ thành một “bình thường mới”. Các tổ chức đấu tranh có thể thắng dăm ba vụ kiện, các thẩm phán vẫn có thể viết những bản án rành mạch, nhưng nếu đa số chúng ta nhìn những trận thắng đó như chuyện đấu đá của “phe này với phe kia”, mà không liên hệ nó với quyền được nói và được viết của chính mình, thì luật pháp – trên mặt đất – vẫn thua.

Tết đến, ai cũng mong một chút yên ổn. Nhưng nếu “bình an” đồng nghĩa với việc ai cũng co lại, bớt nói, bớt nhìn, thì đó không còn là bình an nữa, mà là một thứ im lặng vì sợ. Người Việt chúng ta đã sống những năm tháng “bình an” kiểu cộng sản, nơi người ta tự học cách ngậm miệng nếu không muốn gặp rắc rối; đã từng leo lên những chiếc ghe mong manh ra biển đổi mạng sống vì không chấp nhận thứ bình an ấy. Hôm nay trên đất Mỹ, nếu chúng ta chọn yên thân bằng cách im lặng, thì câu chuyện “tìm tự do” của chính mình sẽ trở nên khó giải thích.

Sau cùng, nếu chúng ta phải chúc nhau một điều gì, tôi xin chúc các bạn của tôi đủ can đảm để nói điều mình tin là đúng, đủ tỉnh táo để nhận ra “bình an” không tự đến, mà phải trả giá, đôi khi chính bằng sự yên thân của mình.

Nina Hòa Bình Lê
 
Tham khảo: “This Trump assault shows how the end of democracy begins” của Thom Hartmann trên Raw Story, cùng một số báo cáo về tự do báo chí và Tu chính án thứ Nhất tại Hoa Kỳ.
 

Quyền lực có thể đẩy sử gia ra khỏi cửa, tháo gỡ triển lãm, xé sách, bắt tô vẽ quá khứ theo ý mình. Nhưng rồi cũng có ngày chính bàn tay thò vào sửa lịch sử ấy được lịch sử đóng khung và ghi lại, nguyên vẹn một bàn tay... thúi.
“Tầm quan trọng của Phật giáo cho thời đại của chúng ta” là bản Việt dịch từ nguyên tác Đức ngữ Die Bedeutung des Buddhismus für unsere Zeit do Nhà xuất bản Osla Schloss Verlag München – Neubiberg ấn hành lần thứ 2 năm 1924. Qua bài viềt, tác gỉả đề cao Phật giáo là liều thuốc duy nhất vô cùng hiệu quả để chống lại tình trạng mất phương hướng tinh thần và nhu cầu xã hội của thời hiện đại. Ông chỉ ra rằng nền văn hóa xã hội phương Tây gặp phải những mâu thuẫn nghiêm trọng và không có một giải pháp thoả đáng vì tin tưởng mù quáng vào Thiên Chúa giáo cũng như chủ nghĩa duy vật...
Người đàn ông đang lái xe chở nhóm công nhân đến công trường, bỗng bị một chiếc xe không biển số bám sát phía sau. Vài phút sau, ông bị bắn chết ngay trên tay lái. Sáu ngày sau, một thanh niên 25 tuổi bị chặn xe trên đường đi làm. Năm phát đạn liên tiếp bắn xuyên vào xe; một viên trúng ngay giữa đầu. Anh chết tại chỗ. Không phiên tòa. Không bồi thẩm đoàn. Không cơ hội biện hộ. Chỉ một quyết định sống chết, được những kẻ bịt mặt đưa ra trong tích tắc. Nếu độc giả cho rằng đây là chuyện xảy ra tại Việt Nam hay ở một xứ sở nơi băng đảng lộng hành, xin nghĩ lại. Đây là nước Mỹ. Năm 2026.
Từ khi ông Donald Trump trở lại giữ chức Tổng Thống Hoa Kỳ, chánh sách mậu dịch của Hoa Thịnh Đốn đổi khác nhiều. Chính phủ Mỹ lấy thuế khóa làm một phương tiện để vừa bảo hộ kỹ nghệ trong nước, vừa gây sức ép với những nước cùng mình giao thương. Thuế khi tăng, khi giảm; việc thương thuyết hôm trước còn thuận, hôm sau đã có thể trở mặt. Thoạt trông, ấy chỉ là chuyện mua bán giữa Hoa Kỳ với từng nước. Nhưng xét cho kỹ, mỗi phen Hoa Thịnh Đốn dựng thêm một hàng rào thuế khóa, Bắc Kinh lại có thêm một dịp để mở đường giao thương với những nước muốn tìm nơi khác mà nương tựa.
Đó là một trong những sự thật dịu dàng nhất của kiếp người, rằng chúng ta, một phần nào đó, là kết quả từ của những người đã dạy dỗ mình, ‘nhất tự vi sư, bán tự vi sư’. Donald Trump cũng có một người thầy theo nghĩa như thế. Từ năm 2016, truyền thông Mỹ đã lần tìm ra người thầy này của Trump: Roy Cohn, và gọi ông ta là “một trong những kẻ thù tồi tệ nhất của Liên Minh Châu Âu, người từng cố vấn cho Donald Trump.”
Tính đến thời điểm hiện tại của tài khóa 2026 (tháng 10, 2025 – tháng 9, 2026), thiếu hụt ngân sách liên bang Hoa Kỳ đã lên tới khoảng 1.8 nghìn tỷ USD, trong đó mức thiếu hụt của riêng tháng 7 là 432 tỷ USD, cao nhất kể từ tháng 3, 2021. Medicare tăng mạnh đã góp phần đẩy tổng con số lên cao, trong khi chính quyền vay nợ vẫn là một yếu tố đóng góp đáng kể. Tình trạng này đã đẩy tổng nợ quốc gia lần đầu tiên vượt mốc 40 nghìn tỷ USD, chủ yếu do chi phí lãi vay ròng gia tăng, các khoản chi cho chương trình phúc lợi bắt buộc và tác động từ các đạo luật chi tiêu mới được ban hành. Văn Phòng Ngân Sách Quốc Hội (Congressional Budget Office - CBO) dự đoán thâm hụt ngân sách cả tài khóa 2026 sẽ ở mức gần 1.9 nghìn tỷ USD.
Tổng Thống Donald Trump vừa đưa cuộc chiến thuế quan với Canada sang một vòng mới, áp thuế 50% lên khoảng $20 tỷ hàng nhập cảng từ nước láng giềng phía bắc, chỉ hơn hai tháng trước cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Trên lý thuyết, đây là một đòn đánh vào Canada. Trong thực tế, nó cũng là một sắc thuế đánh vào kỹ nghệ Hoa Kỳ. Lý do khá rõ: sau nhiều thập niên tự do mậu dịch, hai nền kinh tế Hoa Kỳ và Canada đã đan vào nhau từ dầu thô, điện lực, thép, nhôm cho tới xe hơi và linh kiện. Đánh thuế một mắt xích ở Canada, nhiều khi chính hãng xưởng Mỹ lại là nơi gánh thêm phí tổn.
Mysticism: Christian and Buddhist là một trong những công trình tiêu biểu của Suzuki trong lĩnh vực nghiên cứu và đối thoại liên tôn. Tác phẩm được Nhà xuất bản George Allen & Unwin (London) ấn hành năm 1957 và được dịch giả Như Hạnh chuyển ngữ sang tiếng Việt với nhan đề Huyền học đạo Phật và Thiên Chúa giáo, do Nhà xuất bản Kinh Thi xuất bản năm 1974.
Một người mời bạn đi ăn tối. Bạn mệt, không muốn ra khỏi nhà, nhưng thay vì nói thật rằng tối nay chỉ muốn nằm yên, bạn đáp “Tiếc quá, tôi có hẹn mất rồi”. Một người quen hỏi cái áo mới có đẹp không. Bạn thấy chẳng đẹp chút nào, song vẫn mỉm cười: “đẹp lắm!” Một đứa trẻ chìa ra bức tranh nguệch ngoạc, không ai nỡ nói: “Con mèo này trông giống củ khoai.” Không nền dân chủ nào suy vong vì những câu nói dối vô hại ấy. Madeleine Aggeler của The Guardian, người từng thử sống hai tuần không nói dối vặt như thế cho rằng phần lớn chúng ta không nói dối vì có ý hại người. Ta nói dối vì sự thật bất tiện. Vì không muốn làm ai mất lòng. Hoặc chỉ vì một câu không thật ngắn hơn một lời giải thích thật.
Trong chương trình phát hình kéo dài hơn 6 phút trên đài truyền hình quốc gia VTV vào tối ngày 16/08/2026, lần đầu tiên, sau gần một năm rưỡi, công chúng mới được nghe công bố công khai cái gọi là kết quả điều tra về vụ tai nạn giao thông tại đường Nguyễn Huy Tự, Hà Nội. Bản tin xác nhận người cầm lái xe ô tô lấn trái, vi phạm Luật Giao thông Đường bộ làm chết một nữ sinh và khiến người cha mang thương tích nặng chính là cựu Đại biểu Quốc hội Nguyễn Sỹ Cương.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.