Hôm nay,  

Gọi Tên Bốn Mùa

27/03/202600:00:00(Xem: 1623)

em lễ chùa này
 
Có một lần ngồi nhâm nhi ly rượu vang Ý tại một quán nhỏ bên bờ kênh đào thơ mộng của Venice, nhìn những căn nhà cổ soi bóng nước, nhìn tài tử giai nhân dập dìu qua lại, tôi chợt nghĩ đến nhạc sĩ cổ điển người Ý Antonio Vivaldi. Ông sinh ra ở thành phố tình yêu này. Một xứ sở với thiên nhiên đẹp, con người đẹp, âm nhạc đẹp, thì người ta dễ yêu nhau lắm, mùa nào cũng là mùa của tình yêu!
 
Tác phẩm nổi tiếng nhất của Vivaldi chính là bản Concerto Bốn Mùa soạn cho violin và dàn nhạc. Đây là một bức tranh tuyệt đẹp, vẽ phong cảnh sống động của bốn mùa xuân-hạ-thu-đông, được phát họa bằng những nốt nhạc. Tổ khúc có bốn concerto; mỗi concerto có ba chương ngắn với bốn chủ đề Xuân-Hạ-Thu- Đông. Có lần một người bạn hỏi tôi làm sao để cảm nhận được rằng âm nhạc cổ điển có thể tả cảnh mà không sử dụng đến lời ca? Tôi đề nghị bạn nghe tổ khúc Bốn Mùa. Nghe nhạc cổ điển không lời cần nhiều đến trí tưởng tượng. Chương Một của bản concerto đầu tiên-Mùa Xuân- được viết ở cung Mi trưởng. Ngay từ những giai điệu đầu tiên, người nghe có thể tưởng tượng ra cảnh đất trời huy hoàng, hân hoan vào xuân. Ngay sau đó là tiếng các cây vĩ cầm đối đáp với nhau tựa như tiếng chim ríu rít líu lo chào xuân trên cành. Rồi cả dàn nhạc du dương với giai điệu như làn gió xuân mơn man:

 
Concerto Mùa Hè được viết ở cung Sol thứ. Ở Chương Ba, người nghe có thể cảm nhận được bầu không khí nóng oi ả chuyển mình thành những cơn mưa giông mùa hè. Giai điệu dồn dập như tiếng gió rít, rồi những hạt mưa rào đổ xuống. Thỉnh thoảng có cả tiếng sấm vang rền trên bầu trời vần vũ:


 
Concerto Mùa Thu được viết ở cung Fa trưởng, đưa người nghe về khung cành thanh bình của chốn thôn quê. Chương Ba như phác họa một cuộc đi săn trong rừng thu, với nhịp điệu như bước chân nhanh của đoàn người cùng đàn chó săn, có tiếng kèn đi săn vang vọng trong khu rừng:


 
Rồi Mùa Đông đến u uất với cung Fa thứ (F minor). Nhưng trong chương hai được viết ở cung Mi giáng trưởng, giai điệu như để diễn tả một cuộc đi dạo tĩnh lặng trong khung trời tuyết rơi nhè nhẹ. Kỹ thuật búng dây (pizzicato) những cây violin làm nền khiến người nghe liên tưởng đến tiếng tuyết rơi trên mái hiên nhà.

 
Nay bàn về ca khúc. Nhiều ca khúc Việt Nam cũng có chủ đề bốn mùa, có xuân-hạ-thu-đông đi qua trong lời hát. Gọi Tên Bốn Mùa là một ca khúc nổi tiếng của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, với lời ca mạng đậm phong cách tình khúc nhạc Trịnh. Chữ nghĩa bóng bẩy ẩn dụ, kích thích trí tưởng tượng của người nghe. Có giai thoại cho rằng bài hát này viết về một người con gái trong mối tình đầu đơn phương của người nhạc sĩ. Người nghe có thể hình dung ra hình ảnh người thiếu nữ ở độ tuổi xuân thì, hư hư thực thực ẩn hiện trong trời đất thay đổi theo bốn mùa:

Em đứng lên gọi mưa vào Hạ
Từng cơn mưa từng cơn mưa
Từng cơn mưa mưa thì thầm dưới chân ngà
Em đứng lên mùa Thu tàn tạ
Hàng cây khô cành bơ vơ
Hàng cây đưa em đi về giọt nắng nhấp nhô
Em đứng lên mùa Đông nhạt nhòa
Từng đêm mưa từng đêm mưa
Từng đêm mưa mưa lạnh từng ngón sương mù
Em đứng lên mùa Xuân vừa mở
Nụ xuân xanh cành thênh thang
Chim về vào ngày tuổi em trên cành bão bùng
Rồi mùa Xuân không về
Mùa Thu cũng ra đi
Mùa Đông vời vợi
Mùa Hạ khói mây
Rồi từ nay em gọi
Tình yêu dấu chim bay
Gọi thân hao gầy
Gọi buồn ngất ngây…
 
Đúng là lời ca làm người con gái với mái tóc “dài đêm thần thoại” càng thêm hư ảo. Giọng hát liêu trai của Khánh Ly với tiếng đàn guitar thùng thâu âm trước 1975 thật thích hợp ngữ cảnh của bài hát:

 
Nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ thường biết đến nhiều nhất qua bài hát Bồng Hồng Cài Áo về tình mẫu tử; hay bài Thương Quá Việt Nam về tình yêu quê hương đất nước. Có người ngạc nhiên khi biết tình khúc Tóc Mây cũng là của Phạm Thế Mỹ, với lời ca vô cùng thơ mộng, lãng mạng. Trong ca khúc này cũng có hình ảnh một người con gái với mái tóc dài, nhưng quyến rũ và gợi tình hơn:
Theo gió heo may đến đêm gọi tình
Một trời áo tím trong mắt trên môi
Như chiếc nôi êm ru cơn mộng lành
Gọi vầng trăng cũ sáng cho hồn vui
Như cánh hoa đêm đong đưa nụ tình
Gọi mời cơn gió hôn lá trên cao
Như cánh chim đêm bơ vơ một mình
Trời bao nhiêu gió tóc bao nhiêu buồn…
Rồi người con gái tóc dài xuất hiện qua bốn mùa, làm xôn xao tâm hồn tương tư của người nhạc sĩ:

…Mùa hè vui đôi chân chấp cánh
Tóc mây hồng cho mắt long lanh
Trời mùa đông môi em thắp nắng
Tóc mây dài, chân vui đường vắng
Rồi mùa xuân cây thay áo mới
Tóc mây vàng cho nắng thêm tươi
Rồi mùa thu xôn xao lá úa
Tóc mây buồn phủ kín tim tôi…

Qua giọng hát Thái Hiền, người con gái đẹp như trong tranh ấy lại càng thêm thanh thoát:


 
Đức Huy là một nhạc sĩ đa tài, đa tình. Ông viết nhiều tình khúc nổi tiếng từ trước 1975 như "Cơn Mưa Phùn" (1968), "Bay Đi Cánh Chim Biển" (1972), "Nếu Xa Nhau" (1970). Sau 1975 ra hải ngoại, sức sáng tác của Đức Huy vẫn mạnh mẽ. Nhạc của ông trẻ trung, mang phong cách nhạc Tây Phương, lời ca tình tứ, có đôi khi thật chân thành trong tình yêu. Ca khúc “Sao Vẫn Còn Mưa Rơi” được sáng tác vào năm 1984. Trong bài hát cũng có bốn mùa, nhưng không có người con gái nào xuất hiện, mà chỉ là tình cảm thương nhớ của người nhạc sĩ theo năm tháng về một cuộc tình vừa tan vỡ:
Bắt đầu trời vào đông
nhìn hàng cây trơ lá
những tháng dài chờ trông
từ ngày em vắng xa
Em đi làm nhung nhớ
niềm nhung nhớ chơi vơi
bây giờ là tháng hai
sao vẫn còn mưa rơi
Thế rồi trời vào xuân
tưởng rằng em sẽ đến
những tháng dài màn đêm
nào ngờ em đã quên
Em đi về nơi ấy
về nơi ấy xa xôi
bây giờ là tháng tư
sao vẫn còn mưa rơi…
…Thế rồi trời vào thu
nhìn hàng cây trút lá
những tháng dài chờ trông
từ ngày em vắng xa
trên con đường em bước
một chiếc bóng đơn côi
bây giờ là tháng mười
sao vẫn còn mưa rơi...

Giai điệu và lời hát đều tuyệt đẹp! Giai điệu trưởng mà vẫn man mác buồn. Trong tiếng guitar thùng lãng đãng, Đức Huy tự đàn tự hát Sao Vẫn Còn Mưa Rơi như lời kể về một người tình đã chia tay trong nhớ nhung lưu luyến:

 
Nói đến tình khúc thì không thể không nhắc đến Phạm Duy. Loạt ca khúc phổ thơ Phạm Thiên Thư vào khoảng đầu thập niên 1970s đã ghi dấu ấn trong lòng khán giả hâm mộ với những tình khúc bất hủ như Ngày Xưa Hoàng Thị, Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng. Em Lễ Chùa Này cũng nằm trong loạt sáng tác này, Phạm Duy phổ nhạc bài thơ Thoáng Hương Qua của Phạm Thiên Thư, kể về một mối tình qua bốn mùa, nhưng kết thúc buồn với sinh ly, tử biệt. Có giai thoại cho rằng trong thời gian còn là tu sĩ, nhà thơ chứng kiến hình ảnh thơ mộng, tựa như một mối tình chỉ mới thoáng qua giữa một chú tiểu và một cô gái trẻ đi lễ chùa quanh năm. Cả hai chỉ ở độ tuổi trăng tròn, gặp nhau mỗi khi cô gái lên chùa lễ Phật. Cô gái qua đời chỉ khoảng một năm sau, được an táng tại chùa. Hoàn cảnh bi thương đủ cảm hứng cho những dòng thơ tình nhưng vẫn thoát tục.
 
Em Lễ Chùa Này được Phạm Duy phổ thơ khá phóng khoáng, chỉ lấy ý chứ không theo nguyên bản của bài thơ. Dưới đây là một trích đoạn của bài thơ Thoáng Hương Qua:
Đầu xuân em lễ chùa này
Có búp lan vàng khép nép
Vườn trong thoáng làn hương bay
Bãi sông lạc con bướm đẹp
Vào hạ em lễ chùa này
Trên đồi trái mơ ửng chín
Lò hương có làn trầm bay
Vờn trên bờ tóc bịn rịn
Giữa thu em lễ chùa này
Lầu chuông có con chim hót
Tiếng ca theo làn gió may
Lá vàng sương gieo nhẹ hạt
Sang đông em lễ chùa này
Ngoài sân có mưa bụi bay
Hắt hiu trong cành gió bấc
Vườn chùa rụng cánh lan gầy
Cuối đông đưa em tới đây
Trong lòng áo quan gỗ trắng
Tóc em tợ óng làn mây
Cội hoa tưởng ai trầm lặng…
 
Và trích đoạn của lời ca Em Lễ Chùa Này:
Đầu mùa xuân cùng em đi lễ
Lễ chùa này vườn nắng tung bay
Và ngàn lau vàng màu khép nép
Bãi sông bay một con bướm đẹp
Mùa hạ qua cùng em đi lễ
Trái mơ ngon đồi gió mơn man
Từ lò hương làn trầm nghi ngút
Khói hương thơm bờ tóc em vờn
Rồi mùa thu cùng em đi lễ
Có con chim đậu dưới gác chuông
Hòa lời ca vào làn sương sớm
Gió heo may rụng hết lá vàng
Vào mùa đông cùng em đi lễ
Lễ chùa này một thoáng mưa bay
Và ngoài sân vài cành khô gẫy
Gió lung lay một cánh lan gầy
Tàn mùa đông vào chùa bỡ ngỡ
Tiễn đưa em trong áo quan này
Từng cội hoa trầm lặng thương nhớ
Tóc em xưa tơ óng như mây…

Có thể nhận thấy Phạm Duy như viết lại lời nhưng vẫn theo sát với ý tứ của bài thơ, một điều mà không phải nhạc sĩ phổ thơ nào cũng làm được. Thủ pháp âm nhạc của Phạm Duy trong Em Lễ Chùa Này rất độc đáo. Giai điệu chính ở cung La trưởng bốn câu đơn giản, trong sáng, lập lại trong hai phiên khúc đầu tiên (xuân- hạ). Sang phiên khúc thứ ba (thu) giai điệu được chuyển tông lên một quãng bốn (từ La trưởng lên Re trưởng), rồi trở về La trưởng ở phiên khúc thứ tư (đông). Ở phiên khúc thứ năm (cuối đông) khi cô gái qua đời, giai điệu được chuyển thành cung La thứ buồn bã, thương tiếc; trong phần nhạc đệm có cả tiếng mõ như bài kinh cầu tiễn đưa người vừa mất. Nghe Thái Thanh hát Em Lễ Chùa Này từ trước 1975 mới thấy được sự toàn bích của ca khúc phổ thơ này:



Nghe lại những tình khúc bốn mùa để thấy khi người ta yêu nhau, mùa nào cũng là mùa tình yêu. Và cho dù cuộc tình kết thúc với sự chia xa, sự quyến rũ của tình yêu vẫn luôn mời gọi người tình đến với người tình. Cái đẹp của tình vui hay tình sầu vẫn là bất tử.
 
Doãn Hưng

Phan Tấn Hải là một nhà báo, nhà văn, nhà nghiên cứu Phật học, nhà thơ. Mười năm trước 2016, mười bài Thiền Ca của ông được nhạc sĩ Trần Chí Phúc phổ thành ca khúc in trong tập nhạc Hoa Bay Khắp Trời và CD Hoa Bay Khắp Trời với nhiều giọng ca. Trong buổi ra mắt tập nhạc và CD, tài tử Kiều Chinh đã nhận xét rằng cuộc hôn phối giữa thơ Phan Tấn Hải và nhạc Trần Chí Phúc là mối lương duyên đẹp. Những Phật Tử nghe 10 bài Thiền Ca mang âm hưởng nhẹ nhàng, một không khí sâu lắng trong tâm với những lời ca đậm nét Phật giáo.
Hình như khá lâu rồi, xã hội Mỹ mới có những ngày tháng chậm lại để cùng hoài tưởng về một nhân vật. Cảm giác như trên một chiếc bàn địa cầu, người ta đang quây quần với nhau để ôn lại những kỷ niệm về một tiếng hát trong vắt như sương sớm của đồng quê, một nụ cười sáng bừng lan tỏa đến những người bên cạnh, một nghệ sĩ đa tài, đa năng, một cuộc đời trọn vẹn ý nghĩa của sống và yêu. Cô Bé Trong Căn Nhà Gỗ Một Gian. Bà sinh vào tháng 1/1946, là người con thứ tư trong gia đình 12 chị em, trong một căn nhà gỗ một gian giữa dãy núi Smoky ở miền Đông Tennessee. Gia đình nghèo đến mức có khi phải trả công cho ông bác sĩ bằng bột bắp. Người mẹ xoay sở từng miếng vải để làm sao đủ ấm cho cả gia đình.
Tuy không có con số thống kê cụ thể, đề tài chiến tranh Việt Nam đã được khai thác dưới nhiều góc độ. Riêng trong lĩnh vực phim ảnh, đã có hơn một trăm dự án lớn nhỏ. Mời quý vị theo dõi cuộc trò chuyện với Phạm Văn Nam - nhà sản xuất phim tài liệu Vietnam War, Untold Stories - Chiến Tranh Việt Nam, Những Chuyện Chưa Kể - để hiểu rõ vì sao cuốn phim này nên có một chỗ đứng trang trọng qua những chi tiết được tường thuật sau hơn một nửa thế kỷ kể từ khi cuộc chiến chấm dứt.
Tối Thứ Bảy 22-8-2026 tại rạp hát Louis B. Mayer của Đại học Santa Clara University, kế cận thành phố San Jose California, 500 khán giả ngồi kín, yên lặng thưởng thức chương trình nhạc giao hưởng kỷ niệm 70 năm Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn và cũng kỷ niệm 30 Năm Dàn Nhạc Thính Phòng Sài Gòn ở Thung Lũng Hoa Vàng San Jose. Dàn nhạc giao hưởng thính phòng Sài Gòn gồm những cựu học viên môn vĩ cầm, dương cầm, Tây ban cầm, kèn, sáo... của trường nhạc Sài Gòn năm xưa lưu lạc tới tận Mỹ Quốc và một vài nhạc sĩ Hoa Kỳ.
Nghệ sĩ Alison Nguyen sẽ trình chiếu tác phẩm điện ảnh mới Prior Occupants vào ngày 8 tháng 9 trên High Line, New York, trong một công trình do High Line và Quỹ Văn Hóa Chanel (Chanel Culture Fund) đặt thực hiện. Bộ phim tìm lại một lớp lịch sử ít được nhắc tới của Westbeth Artist Housing, khu nhà dành cho giới nghệ sĩ nằm gần công viên High Line ở phía tây Manhattan.
Nắng tháng tám Cali bắt đầu dịu lại mang theo vài con gió nhẹ se lạnh dịu dàng, báo hiệu một mùa thu bắt đầu ghé về. Chiều xuống, nhịp sống chậm dần, nhường chỗ cho cảm xúc lắng đọng, cho văn chương và một buổi ra mắt sách. Thứ Bảy ngày 8 tháng 8, năm 2026, vào lúc 3 giờ chiều tại Coffee Factory, Little Saigon, Nam Cali, US. Nhà Thơ Nguyễn Đức Tùng đã giới thiệu cùng các độc giả và bạn hữu một tác phẩm tiểu thuyết mới mang tên "Thuyền".
Khoa Hà hy vọng rằng hành trình đi tìm di sản văn hóa của bản thân mình không đơn độc. Còn nhiều bạn trẻ khác cũng thuộc các gia đình văn nghệ sĩ vang bóng một thời của Việt Nam. Cuốn phim tài liệu “Y Vân: The Lost Sounds of Saigon” có thể chỉ là dấu hiệu của một hành trình về nguồn chung lớn hơn.
Thuyết cho rằng Van Gogh chết vì bị sát hại (hay ngộ sát) lần đầu được nêu ra một cách nghiêm túc vào năm 2011, trong một cuốn tiểu sử công phu của hai nhà văn Mỹ, Steven Naifeh và Gregory White Smith. Trong cuốn "Van Gogh: The Life" (Van Gogh: Cuộc Đời), hai ông viết rằng Van Gogh bị bắn vào bụng ngày 27 tháng 7 năm 1890, do René Secrétan, một thiếu niên 16 tuổi đang nghỉ hè ở Auvers-sur-Oise, người thường chọc phá họa sĩ. Van Gogh lảo đảo về được tới quán trọ, và hai ngày sau chết vì vết thương. Hai tác giả xây dựng thuyết này dựa trên một cách diễn giải đầy tưởng tượng về một cuộc phỏng vấn Secrétan trả lời năm 1957, chỉ vài tháng trước khi ông qua đời.
Cách đây vừa tròn hai thập niên, nhân viên quan thuế biên phòng Pháp, trong một cuộc xét kiểm soát thường lệ, đã chặn giữ một chiếc xe toan vượt biên giới sang Thụy Sĩ. Trong xe, người ta khám phá ra nhiều họa phẩm chở lậu, không có giấy phép xuất cảnh, trong số đó có một bức tranh khắc của danh họa Nga Marc Chagall. Những kẻ chuyên chở lập tức bị bắt giữ và phạt vạ, còn các họa phẩm thì bị tịch thu. Kể từ đó, chúng bị bỏ quên trong kho quan thuế, chìm vào quên lãng, theo tường thuật của ký giả Adam Sage trên nhật báo Times of London
Một sáng tháng Chín năm 1962, nữ sử gia nghệ thuật Margrit Lisner đặt chân đến quảng trường Santo Spirito với tâm trạng không vui. Bà đang ở Florence để nghiên cứu về các cây thập giá rải rác khắp miền Tuscany, và hôm ấy, do một sự may mắn tưởng như có bàn tay xếp đặt, bà chẳng muốn bước vào thư viện Viện Kunsthistorisches để làm việc.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.