Hôm nay,  

Vị vua đòi một đại dương sữa / The King Who Wanted an Ocean of Milk

17/04/202600:00:00(Xem: 558)
 
Ảnh Open AI
Ảnh Open AI
 
Ngày xửa ngày xưa, vị vua trẻ của xứ Amarapoora sống trong sự xa hoa tột bậc. Cung điện của ông được làm bằng pha lê, bao quanh bởi những khu vườn đẹp đến nỗi không từ ngữ nào có thể diễn tả được. Ông sở hữu của cải, châu báu, người hầu, vũ công, nhạc công và những người vợ đến từ nhiều vùng đất. Thần dân yêu mến ông, và các vị quan của ông thì trung thành và khôn ngoan. Không gì làm phiền ông, và không gì bị từ chối đối với ông.

Tuy nhiên, bất chấp tất cả sự giàu có đó, nhà vua vẫn cảm thấy trống rỗng. Mọi thú vui đều khiến ông chán nản. Mọi món quà, mọi màn trình diễn, mọi kho báu chỉ làm sâu thêm sự mệt mỏi của ông. Ông chưa từng thấy đau khổ hay gian truân, và bởi vì cuộc sống của ông chỉ toàn là sự thoải mái, ông không còn biết mình muốn gì nữa. Ngay cả những thứ tốt đẹp nhất cũng trở nên tẻ nhạt đối với ông.

Để mua vui cho ông, người dân đã tìm kiếm khắp vương quốc những người kể chuyện, vũ công, người tung hứng và những người bạn đồng hành thông minh. Nhiều người đã cố gắng làm ông vui vẻ, nhưng ông nhanh chóng chán ngán tất cả. Ông khao khát một điều gì đó mới mẻ.

Một ngày nọ, một lữ khách từ Ấn Độ đến với một trò chơi gọi là cờ vua. Ban đầu, lính canh cung điện chế nhạo ông, nhưng cuối cùng ông cũng được đưa ra trước mặt nhà vua. Nhà vua bị cuốn hút bởi trò chơi này và dành toàn bộ thời gian để chơi. Người thầy Ấn Độ nhanh chóng được nhà vua sủng ái, điều này gây ra sự ghen tị trong số các quan lại Miến Điện.

Nhưng chẳng bao lâu sau, nhà vua lại cảm thấy nhàm chán. Một người nước ngoài khác, Nicomar, đến với những lá bài và xúc xắc được vẽ – những trò chơi mà nhà vua chưa từng thấy trước đây. Nhà vua bỏ cờ vua và dành toàn bộ thời gian cho trò tiêu khiển mới này. Nicomar trở thành người được nhà vua sủng ái nhất, mặc dù ông thầm sợ tính khí khó đoán của nhà vua.

Nhà vua bắt đầu đặt cược những khoản tiền khổng lồ vào các trò chơi, buộc Nicomar phải thực hiện những nhiệm vụ mà người bình thường không thể làm được. Nicomar sống trong lo lắng thường trực, luôn cố gắng nghĩ ra những cách mới để làm hài lòng những ý thích bất chợt của nhà vua.

Rồi một buổi tối nọ, nhà vua đưa ra một yêu cầu chưa từng có. Ông tuyên bố rằng ông không còn muốn một biển nước nữa. Ông muốn toàn bộ đại dương được lấp đầy bằng sữa – và ông ra lệnh cho Nicomar phải thực hiện điều đó trong vòng mười bốn ngày. Nếu Nicomar thành công, ông sẽ nhận được sự giàu có và quyền lực không tưởng. Nếu thất bại, ông ta sẽ chết trong sự giày vò khủng khiếp.

Nicomar kinh hãi. Ông biết nhiệm vụ này là bất khả thi. Ông cầu nguyện, tham khảo ý kiến ​​các bậc hiền triết, tìm kiếm điềm báo, và lang thang khắp vùng quê trong tuyệt vọng. Sau nhiều ngày lang thang vô vọng, ông đến một con sông nơi một nhóm dân làng Miến Điện đang cố gắng vượt sông. Một chàng trai trẻ tỏ ra vô cùng thông minh, và Nicomar, tuyệt vọng tìm kiếm sự giúp đỡ, đã kể cho anh ta toàn bộ câu chuyện.

Chàng trai trẻ lắng nghe cẩn thận và đồng ý giúp đỡ, chỉ yêu cầu một nửa phần thưởng tương lai của Nicomar và gả con gái ông ta. Nicomar chấp nhận ngay lập tức.

Vào ngày thứ mười bốn, Nicomar trở về cung điện. Khi nhà vua hỏi liệu ông đã hoàn thành nhiệm vụ chưa, Nicomar trả lời rằng ông đã sẵn sàng đổ đầy biển bằng sữa—nhưng chỉ sau khi nhà vua lấy hết nước đi trước, vì ông không được lệnh tự mình làm phần việc đó.

Cả triều đình im lặng, không chắc nhà vua sẽ phản ứng thế nào. Nhưng sau một hồi im lặng, nhà vua mỉm cười. Mặc dù ông thường vô lý, nhưng ông không tàn nhẫn, và ông nhận ra rằng Nicomar đã thông minh hơn ông.

Nhà vua thừa nhận rằng biển đã tồn tại từ rất lâu trước khi bất kỳ ai trong số họ được sinh ra và sẽ vẫn tồn tại rất lâu sau khi họ biến mất. Mệnh lệnh bất khả thi đó đã bị thu hồi, và mạng sống của Nicomar được tha.

Truyện này nói rằng lòng tham có thể dẫn tới những ước muốn vô độ, và không thể thực hiện.

.... o ....

2. The King Who Wanted an Ocean of Milk

Long ago, the young King of Amarapoora lived in extraordinary luxury. His palace was made of crystal, surrounded by gardens so beautiful that words could not describe them. He possessed wealth, jewels, servants, dancers, musicians, and wives from many lands. His people adored him, and his ministers were loyal and wise. Nothing troubled him, and nothing was denied to him.

Yet, despite all this abundance, the King felt empty. Every pleasure bored him. Every gift, every performance, every treasure only deepened his weariness. He had never seen suffering or hardship, and because his life was filled only with comfort, he no longer knew what to desire. Even the finest things felt dull to him.

To entertain him, people searched the kingdom for storytellers, dancers, jugglers, and clever companions. Many tried to amuse him, but he quickly grew tired of them all. He longed for something new.

One day, a traveler from India arrived with a game called chess. At first, the palace guards mocked him, but eventually he was brought before the King. The King became fascinated with the game and spent all his time playing it. The Indian teacher rose quickly in royal favor, which caused jealousy among the Burmese ministers.

But soon the King grew bored again. Another foreigner, Nicomar, arrived with painted cards and dice—games the King had never seen before. The King abandoned chess and devoted himself entirely to this new amusement. Nicomar became the new favorite, though he secretly feared the King’s unpredictable nature.

The King began placing impossible bets on the games, forcing Nicomar to perform tasks that no ordinary person could accomplish. Nicomar lived in constant anxiety, always trying to invent new ways to satisfy the King’s whims.

Then one evening, the King made a demand unlike any before. He declared that he no longer wanted a sea of water. He wanted the entire ocean to be filled with milk—and he ordered Nicomar to make it happen within fourteen days. If Nicomar succeeded, he would receive unimaginable wealth and power. If he failed, he would die in terrible torment.

Nicomar was horrified. He knew the task was impossible. He prayed, consulted wise men, searched for signs, and wandered the countryside in despair. After days of hopeless wandering, he reached a river where a group of Burmese villagers were trying to cross. One young man showed unusual cleverness, and Nicomar, desperate for help, told him the whole story.

The young man listened carefully and agreed to help, asking only for half of Nicomar’s future reward and the hand of his daughter. Nicomar accepted at once.

On the fourteenth day, Nicomar returned to the palace. When the King asked if he had completed the task, Nicomar replied that he was ready to fill the sea with milk—but only after the King removed all the water first, since he had not been ordered to do that part himself.

The court fell silent, unsure how the King would react. But after a long pause, the King smiled. Though he was often unreasonable, he was not cruel at heart, and he recognized that Nicomar had outwitted him.

He admitted that the sea existed long before any of them were born and would remain long after they were gone. The impossible command was withdrawn, and Nicomar’s life was spared.

This story suggests that greed can lead to insatiable and unfulfilled desires.
 

Buổi tối hôm đó, gió thổi nhẹ qua những hàng quán nhỏ, và trong một góc phố không mấy nổi bật, tôi thấy Jean-François Lyotard ngồi một mình trước một quán mì gói bình dân. Không phải quán fancy kiểu “mì ramen concept Japan fusion” gì cả. Chỉ là một quán lề đường với cái mái tôn lủng vài lỗ, mấy cái ghế nhựa xanh đỏ, và mùi hành phi thơm theo cách… giới hạn ngân sách.
Chiều Chủ Nhật, 23 tháng Tám, độc giả Việt Báo lâu nay quen gặp nhà văn Ngu Yên qua những bài bình luận trên trang nhất đã có dịp gặp ông “bằng xương bằng thịt” — để chuyện trò, nghe thơ, nghe nhạc, và quan trọng hơn hết, để “rước” sách ông về nhà. Từ Houston sang Nam California, Ngu Yên có một buổi ra mắt sách đông vui ngoài dự liệu. Bước lên sân khấu, nhìn hơn một trăm khách từ nhiều nơi về ngồi kín Coffee Factory, ông cảm động theo kiểu rất ‘Ngu Yên’: “Có lẽ quý vị yêu sách. Có lẽ quý vị yêu tôi, hay yêu Việt Báo. Cũng có lẽ quý vị hơi… không bình thường, khi bỏ một buổi chiều Chủ Nhật đẹp như hôm nay để đến đây ngồi nghe chúng tôi nói chuyện chữ nghĩa.” Khán phòng cười ồ. Và từ phút đó, buổi ra mắt sách không còn giống một buổi ra mắt sách ‘bình thường’ nữa. Nhà báo Đinh Quang Anh Thái dí dỏm ví đây là một “lễ rước sách.”
Bài viết này là câu chuyện về một cuộc tranh đấu khác trong chiến tranh: giữ lại bằng chứng rằng một con người đã từng sống, từng yêu, từng nhớ, trước khi họ bị xóa khỏi thế gian.
Trong cuốn hồi ký kinh điển viết về nạn khủng bố của nhà nước Sô Viết thời thập niên 1930, cuốn Hope Against Hope, bà Nadezhda Mandelstam kể lại những năm cuối cùng của cuộc hôn nhân với thi sĩ Osip Mandelstam, khi hai vợ chồng phải trốn tránh hết thành phố này đến làng mạc khác, sống nhờ lòng hảo tâm của một số ít bạn bè và người lạ can đảm, bị trục xuất khỏi căn nhà ở Mạc Tư Khoa vì bị xem là kẻ thù của chế độ. Tội trạng chính của Osip chỉ là đã đọc lên, trong một bữa tiệc, một bài thơ mà ông chưa từng viết ra giấy, càng chưa từng cho xuất bản, nhằm chế giễu Stalin và vạch trần chế độ tàn bạo của y.
Concrete Poetry hay Visual poetry, thơ Cụ Thể hay thơ Thị Giác, tôi không thể xác định, có lẽ cả hai. Nhà thơ Nguyễn Hoàng Nam là người ngắn tiểu sử. Ông xuất hiện gần như từ đầu của dòng thơ hải ngoại và từ tốn làm thơ. Không tự thắp sáng mình, cũng không tự đốt mình như một số nhà thơ đã cháy. Thoạt nhìn, thơ của ông bình thường nhưng nhìn đi nhìn lại, có thứ gì ẩn núp bên dưới chữ nghĩa hình ảnh rất khác thường, mới một cách không khoe. Ví dụ như những ngày trống, tâm tư đầy quá khiến cảm giác rỗng, ông làm, có phải thơ hay không?
Câu danh ngôn bất hủ của Edward Bulwer-Lytton, và nhìn lại lịch sử của nhân loại toàn cầu, đã chứng minh một chân lý vô song. Những đế chế hùng mạnh nhất lịch sử thế giới như Đế quốc Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo, chinh phục từ Á sang Âu, hay Đế quốc La Mã do Hoàng đế Augustus Julius Caesar chỉ huy, hùng mạnh vô địch làm ảnh hưởng cả châu Âu suốt 2.000 năm, rồi cũng lụi tàn. Nhưng những tác phẩm văn học được viết bằng máu và tâm huyết thì trường tồn vĩnh cửu.
Xin thú nhận: sẽ không lãng mạn tí nào khi nói rằng hạnh phúc là lúc chạy theo banh. Biết làm sao được, chắc chắn rằng có nhiều tỷ người trên địa cầu này đồng ý như thế, kể cả những người đã từng trải qua một thời tuổi nhỏ đã tưng bừng chạy nhảy, với trang phục quần đùi và áo thung, đuổi theo banh trên sân cỏ hay nơi các góc vỉa hè. Tôi tin rằng hầu hết, nếu không phải tất cả, người Việt Nam trong và ngoài nước đều có một số kỷ niệm thời thơ ấu với môn bóng tròn, chữ xưa còn gọi là túc cầu, bây giờ thường gọi là bóng đá. Nghĩa là, nếu bạn không từng tham dự trận banh nào, không từng mang giày và chạy ra sân, hẳn là bạn cũng từng ngồi bên sân cỏ để nhìn bằng hữu và trẻ em trong làng, trong xóm rủ nhau chạy theo banh, hay đang đưa chân nhồi banh vượt qua hàng hậu vệ của đội phòng thủ. Và khi một cầu thủ nhi đồng nào đó đưa chân sút, hẳn là bạn cũng há hốc mồm nhìn theo quả banh rồi vung tay và hú lên, dù để mừng vui hay thất vọng.
Nhân chứng chuyện gì và để làm gì? Khác với những loại nhân chứng tội phạm, xã hội, chính tri, hoặc chiến tranh, nhà thơ là nhân chứng về cái đẹp của ý nghĩa qua cái đẹp của ngôn ngữ và tạo nên giá trị đẹp. Họ “vén bức màn che giấu vẻ đẹp tiềm ẩn của thế giới, và khiến những vật thể quen thuộc trở nên như thể chúng không hề quen thuộc.” (Percy Bysshe Shelley. Poetry lifts the veil from the hidden beauty of the world, and makes familiar objects be as if they were not familiar.)
Trong mọi từ của một ngôn ngữ, có lẽ không từ nào vừa nhỏ vừa nặng như chữ tôi. Nó chỉ có một âm, nhưng mỗi lần xuất hiện trong một trang văn hay một câu thơ, nó kéo theo cả một câu hỏi chưa bao giờ được trả lời dứt khoát: ai đang nói đây. Người đọc bình thường có một phản xạ tự nhiên, là tin rằng chữ tôi trên trang giấy chính là tác giả, người có tên in ngoài bìa sách. Nhưng văn học, ngay từ buổi có ý thức về chính mình, đã liên tục phá vỡ phản xạ ấy. Cái tôi trong văn học hiếm khi đơn giản là người viết. Nó là một vai, một mặt nạ, đôi khi là một đám đông giả trang thành một người. Bài viết này thử lần theo những hóa thân ấy, từ cái tôi là chính tác giả, tới cái tôi là kẻ khác, tới cái tôi tập thể mà Annie Ernaux đã đẩy tới tận cùng, rồi quay về với chữ ta đặc biệt của tiếng Việt, và cuối cùng đặt một câu hỏi cay: phải chăng thi ca hiện đại đã lạm dụng chữ tôi.
Vì không cứ nhìn là thấy. Thấy là việc của mắt. Nhìn là việc của tâm hồn. Người ta có thể thấy rất nhiều mà không thực sự nhìn ra điều gì. Có thể đi qua cả một khu vườn, biết tên từng loài cây mà chưa từng nghe tiếng mùa trong lá. Có thể học hết bản đồ sông núi mà không nhận ra điệu nhạc của dòng nước.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.