Hôm nay,  

Vấn đề áp dụng chủ trương Dân chủ Xã hội năm 1946 cho Việt Nam trong “kỷ nguyên mới”

03/05/202609:08:00(Xem: 277)
phusoÔng Huỳnh Phú Sổ được tôn vinh là Đức Huỳnh Giáo Chủ (1920-1947),
người sáng lập đạo Phật giáo Hòa Hảo, và đồng sáng lập Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng.
 
Bối cảnh hình thành

Từ năm 1946 trở đi, tình hình chính trị Việt Nam bước vào một giai đoạn vô cùng khó khăn và phức tạp. Chính quyền Cách mạng vừa mới thành lập phải đối mặt với nhiệm vụ bảo vệ nền độc lập dân tộc và đồng thời xây dựng đất nước. Miền Bắc đang chịu nạn đói hoành hành, ngân khố quốc gia kiệt quệ, trình độ dân trí thấp với hơn 90% dân số mù chữ. Tất cả những vấn đề này đòi hỏi phải được giải quyết khẩn cấp.

Trong khi các bất ổn nội chính còn triền miên vì các đảng phái quốc gia như Việt Nam Quốc Dân Đảng và Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội xung đột với chính quyền Cách mạng, thì mối đe dọa nghiêm trọng nhất lại đến từ ngoại xâm: Pháp tìm cách tái chiếm Đông Dương, quân Trung Hoa Dân quốc vào miền Bắc với danh nghĩa giải giáp quân Nhật, còn Anh hỗ trợ Pháp trở lại miền Nam.

Trước tình thế này, Chính phủ Hồ Chí Minh buộc lòng phải ký Hiệp định Sơ bộ 6 tháng 3 năm 1946 với Pháp nhằm kéo dài thời gian hòa hoãn, củng cố lực lượng và âm thầm chuẩn bị các tiềm năng chiến đấu, dẫn đến cuộc kháng chiến toàn quốc vào cuối năm 1946.

Khác hẳn miền Bắc, các rối ren tại miền Nam trong thời điểm này có đặc biệt mang tính phân hoá địa phương. Phật giáo Hòa Hảo (PGHH), một tôn giáo nội sinh ra đời vào ngày 18 tháng 5 năm Kỹ Mão (1939) do ông Huỳnh Phú Sổ khai sáng và được tôn vinh là Đức Huỳnh Giáo Chủ, đã thu hút được hàng triệu tín đồ Nam Bộ. Tại các địa phương khác nhau, các lực lượng vũ trang nổi lên và chiếm đóng các khu vực cho riêng mình. Tình hình này làm cho các đảng phái chính trị liên tục hình thành và thi nhau cạnh tranh ảnh hưởng.

Để đem lại tinh thần đoàn kết cho các phong trào đấu tranh và giải quyết các khó khăn cho các tầng lớp đồng bào, ông Hùynh Phú Sổ đồng ý tham gia trong sinh hoạt của Uỷ Ban Hành chánh Kháng chiến Nam Bộ với chức vụ Uỷ viên Đặc biệt. Ủy ban này là một hình thức chính quyền tạm thời do Việt Minh thành lập ngày 25 tháng 8 năm 1945 tại miền Nam.

Sau khi liên kết được với các thành phần đảng phái quốc gia khác và tham khảo ý kiến với tín đồ, ông Huỳnh Phú Sổ tuyên bố thành lập Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng (VNDCXHĐ) ngày 21 tháng 9 năm 1946. Sự kiện này có nhiều nguyên nhân gắn liền với tình hình đặc thù của Nam Bộ.

Trả lời cuộc phỏng vấn dành cho báo Quần chúng ngày 14 tháng 11 năm 1946 và báo Nam Kỳ ngày 29 tháng 11 năm 1946, ông Hùynh Phú Sổ đã biện minh cho nỗ lực tham chính của mình. Theo ông, không những chỉ lo hoạt động tôn giáo để hướng dẩn tín đồ tu tập và bảo vệ cho họ, ông còn muốn góp phần vào tiến trình xây dựng chính quyền và đối phó với nạn ngoại xâm. Lý tưởng này mà ông sẽ theo đuổi hoàn toàn phù hợp với giáo lý PGHH, vì trình độ tiến hoá của nhân loại và tiến bộ khoa học đã tới một mức độ khả quan để PGHH có thể thực hành lý tưởng công bằng và nhân đạo.

Thực tế cho thấy là việc tham chính giúp ông có cơ hội định hướng hành động cho tương lai PGHH. Việc thành lập VNDCXHĐ giúp cho PGHH có vị thế chính trị độc lập, tránh bị lệ thuộc hoặc gạt ra ngoài sinh hoạt chính trị. Đây cũng là một cách ứng phó hữu hiệu với tình hình Nam Bộ là nơi mà các xung đột giữa Pháp và các lực lượng tranh đấu khác nhau trong các địa phương ngày càng khốc liệt.

Nội dung chủ yếu

Chương trình Dân chủ Xã hội của VNDCXHĐ công bố vào ngày 21 tháng 9 năm 1946 có thể tóm lược như sau:

1. Kết hợp dân chủ và công bằng xã hội

Chủ trương xây dựng một xã hội dân chủ về chính trị, người dân có quyền tự do, tham gia quản lý đất nước.
Bảo đảm công bằng xã hội, giảm bất bình đẳng, chăm lo đời sống cho tầng lớp lao động.

2. Đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết

Mục tiêu hàng đầu là độc lập dân tộc, chống ngoại xâm. Gắn dân chủ xã hội với sự nghiệp giải phóng dân tộc.

3. Bảo vệ quyền tự do cá nhân

Đề cao các quyền cơ bản như tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận và tự do hội họp. Chống lại các hình thức áp bức, độc tài.

4. Cải thiện đời sống kinh tế–xã hội

Quan tâm đến nông dân, thợ thuyền – lực lượng chiếm đa số. Chủ trương cải cách kinh tế theo hướng công bằng, nhưng không cực đoan xóa bỏ quyền tư hữu. Khuyến khích sản xuất, phát triển kinh tế quốc dân.

5. Tinh thần nhân đạo và đạo đức xã hội

Nhấn mạnh yếu tố đạo đức, nhân nghĩa, chịu ảnh hưởng từ tư tưởng PGHH. Xây dựng xã hội dựa trên tình người, tương trợ lẫn nhau.

6. Chống cực đoan về ý thức hệ

Không theo chủ nghĩa tư bản thuần túy hay cộng sản cực đoan. Tìm con đường trung dung: vừa dân chủ, vừa bảo đảm an sinh xã hội.

Nhìn chung, chủ trương của ông Huỳnh Phú Sổ mang dấu ấn kết hợp giữa tư tưởng tôn giáo, tinh thần dân tộc và cải cách xã hội. Mục tiêu này nhằm hướng tới một mô hình xã hội dân chủ, độc lập dân tộc, công bằng và nhân đạo, phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam sau năm 1946.

Ảnh hưởng hạn hẹp

Tại Nam Bộ, vừa là giáo chủ tôn giáo và thủ lĩnh chính trị, nên ảnh hưởng của ông Huỳnh Phú Sổ, mang tính tâm linh vừa mang tính xã hội – chính trị vô cùng to lớn. Dù mang một lý tưởng cao đẹp, nhưng chủ trương Dân chủ Xã hội năm 1946 chủ yếu lan toả mạnh trong giới tín đồ PGHH và không được đa số dân chúng trên toàn quốc ủng hộ. Do đó, việc thành lập VNDCXHĐ khó thu hút các tầng lớp dân chúng không thuộc PGHH hoặc có xu hướng chính trị khác. Các nơi khác như miền Trung và Bắc, PGHH không có cơ sở quần chúng, mà lực lượng chiếm ưu thế là Việt Minh.

Trong bối cảnh đó, nhu cầu cấp thiết là đấu tranh giành độc lập dân tộc để thống nhất đất nước và xây dựng một chính quyền đủ mạnh để chống ngoại xâm. Vì không mang lại một giải pháp toàn diện cho cả nước, nên chủ trương Dân chủ Xã hội của VNDCXHĐ không phản ánh đầy đủ nguyện vọng chung của toàn xã hội Việt Nam lúc bấy giờ. 

Phát huy giá trị cũ để áp dụng trong “kỷ nguyên mới”

Chương trình hành động về Dân chủ Xã hội của VNDCXHĐ phản ánh những khát vọng cơ bản trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt: công bằng xã hội, bảo vệ người lao động, nâng cao đời sống nông dân và mở rộng y tế–giáo dục cho đại đa số nhân dân. Đây là những giá trị xuất phát từ bối cảnh một quốc gia vừa giành độc lập sau Cách mạng Tháng Tám mà còn nhiều thiếu thốn và bất ổn.

Nhưng khi so sánh với bối cảnh chính trị và xã hội của Việt Nam hiện nay, lịch sử đã thay đổi triệt để. Giai đoạn từ năm 1946 cho đến 1954 đã khác xa khi so với thời kỳ sau năm 1975 và lại càng khác hơn khi so với năm 2026.

Năm 1946 ưu tiên của Việt Nam là tranh đấu để giữ độc lập, tồn tại trước ngoại xâm, dẫn tới Toàn quốc kháng chiến. Hiện nay, năm 2026 Việt Nam không còn chiến tranh và bước vào một giai đoạn chuyển mình mà mục tiêu chính là tập trung cho tăng trưởng kinh tế, nâng cao chất lượng sống và cạnh tranh quốc tế. Sự khác biệt lớn nhất là từ tình trạng khi xưa phải đối phó với thực dân Pháp và nhiều lực lượng quốc tế, ngày nay đất nước chuyển sang tham vọng phát triển toàn diện và hội nhập quốc tế. Thanh thế quốc gia của năm 2026 ngày càng gia tăng. Việt Nam là thành viên của ASEAN, tham gia nhiều hiệp định thương mại, nhất là có quan hệ đối tác chiến lược với hầu hết các cường quốc.

Cấu trúc nhà nước chuyển biến triệt để. Từ 1946 bộ máy chính quyền vừa mới thành lập và hình thức còn non trẻ, nhưng khi sang đến năm 2026 hệ thống nhà nước đã trưởng thành, có nhiều kinh nghiệm quản lý và điều hành quy mô lớn, cho dù phải thừa nhận là còn nhiều vấn đề khiếm khuyết cần phải nghiêm túc tiếp tục cải tổ, nhất là về việc thực thi các quyền tự do dân chủ chính trị như tự do ngôn luận, báo chí và lập hội.

Nếu nền kinh tế sau năm 1946 hoàn toàn kiệt quệ, thì ngày nay, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN hình thành sau Đổi Mới 1986. Với các biện pháp mới như xuất khẩu, công nghiệp, dịch vụ, Việt Nam đạt được nhiều thành tựu phát triển kinh tế nhất định, nhất là nhờ vào các đóng góp kiều hối của kiều bào, chương trình viện trợ phát triển của các tổ chức quốc tế và đầu tư của các doanh nghiệp quốc tế.   

Về đời sống chính trị thì Việt Nam không còn bị các đảng phái và lực lượng vũ trang chiếm cứ các địa phương và tôn giáo thao túng như trước đây. Hiện nay, Việt Nam được vận hành trong một khuôn khổ thống nhất do sự lãnh đạo toàn diện và triệt để của Đảng Cộng sản Việt Nam, cho dù còn nhiều tranh cải về việc đất nước có thực sự bước vào “kỷ nguyên mới” hay không, mà triển vọng khả thi các cải cách chính trị là chủ yếu.

Tuy vậy, không vì các khác biệt nêu trên mà kết luận rằng các đường lối Dân chủ Xã hội trong năm 1946 là hoàn toàn lỗi thời và vô giá trị. Ngược lại, nhiều giá trị cốt lõi của chủ trương này cho đến nay vẫn giữ nguyên ý nghĩa thời sự và có thể được phát huy giá trị trong tiến trình phát triển của đất nước hiện nay.

Trước hết, tư tưởng lấy người dân, đặc biệt là nông dân và công nhân, làm trung tâm là một điểm tiến bộ nổi bật. Chủ trương năm 1946 không chỉ nhấn mạnh độc lập dân tộc mà còn quan tâm trực tiếp đến đời sống của người dân trong các lĩnh vực từ kinh tế, giáo dục cho đến y tế. Trong bối cảnh hiện nay, khi nền kinh tế phát triển nhanh nhưng vẫn tồn tại khoảng cách biệt giàu nghèo và chênh lệch vùng miền, vì thế mà nguyên tắc này càng trở nên quan trọng. Phát triển không thể chỉ đo bằng tốc độ tăng trưởng, mà cần được đánh giá qua mức độ cải thiện đời sống của đa số nhân dân.

Bên cạnh đó, quan điểm phát triển kinh tế gắn liền với công bằng xã hội cũng là một giá trị cao đẹp cần được kế thừa. Chủ thuyết Dân chủ Xã hội không cực đoan phủ nhận quyền tư hữu, nhưng đồng thời cũng không để cho thị trường tự do tuyệt đối chi phối. Đây chính là tư duy cân bằng, gần với khái niệm “phát triển bao trùm” ngày nay. Trong thực tế, nền kinh tế thị trường, nếu thiếu điều tiết, dễ dẫn đến tình trạng bất bình đẳng; nếu quản lý cứng nhắc, lại kìm hãm động lực cho chiều hương phát triển đồng bộ. Vì vậy, tinh thần dung hòa của chủ trương năm 1946 vẫn mang ý nghĩa định hướng.

Một điểm đáng chú ý khác là chủ trương nâng cao năng lực tự chủ của người dân, đặc biệt thông qua hợp tác xã và hỗ trợ sản xuất. Ý tưởng này nhằm giúp nông dân giảm phụ thuộc vào trung gian, tăng khả năng cạnh tranh và cải thiện thu nhập. Đến nay, dù bối cảnh đã thay đổi với sự tham gia của thị trường và toàn cầu hóa, vấn đề nông thôn, nông nghiệp và nông dân vẫn chưa được giải quyết triệt để, nhất là nông dân còn qúa yếu thế trong chuỗi giá trị. Do đó, việc phát triển các hình thức liên kết sản xuất hiện đại theo tinh thần hợp tác vẫn là một hướng đi cần thiết.

Ngoài ra, chủ trương thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn và thành thị thông qua mở rộng giáo dục và y tế cũng thể hiện tầm nhìn xã hội sâu sắc. Thực tế hiện nay cho thấy đời sống tại các vùng nông thôn vẫn còn tụt hậu. Việc con cái nông dân bỏ học sớm, rời nông thôn lên thành phố hay ra nước ngoài tìm việc là xu hướng phản ánh mức độ hạn chế về cơ hội tại nông thôn. Vì vậy, tiếp tục đầu tư để nâng cao phát triển sinh hoạt nông thôn, tăng gia sản xuất nông nghiệp và cải thiện đời sống nông dân chính là cách phát huy giá trị của tư tưởng này.

Cuối cùng, tinh thần nhân đạo và đạo đức xã hội trong chủ thuyết năm 1946 cũng là yếu tố quan trọng trong bối cảnh kinh tế thị trường, nơi mà   tình trạng cạnh tranh bất chánh và lợi ích cá nhân và thân tộc được đề cao quá mức. Việc đề cao trách nhiệm cộng đồng và tương trợ xã hội, nếu thực thi nghiêm túc, may ra, sẽ góp phần tạo nên sự phát triển bền vững và hài hòa hơn.

Kết luận

Tóm lại, chủ thuyết Dân chủ Xã hội năm 1946, cho dù không thể được áp dụng nguyên trạng trong bối cảnh hiện đại, nhưng những giá trị cốt lõi như lấy con người làm trung tâm, kết hợp tăng trưởng với công bằng, nâng cao năng lực tự chủ của người dân và giảm bất bình đẳng xã hội, vẫn giữ nguyên ý nghĩa định hướng.

Vấn đề đặt ra là giới lãnh đạo trong “kỷ nguyên mới” không nhất thiết phải quay trở lại quá khứ, mà là biết chọn lọc và vận dụng những tư tưởng tiến bộ của VNDCXHĐ một cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện phát triển của Việt Nam.


-- Đỗ Kim Thêm

Quyền lực có thể đẩy sử gia ra khỏi cửa, tháo gỡ triển lãm, xé sách, bắt tô vẽ quá khứ theo ý mình. Nhưng rồi cũng có ngày chính bàn tay thò vào sửa lịch sử ấy được lịch sử đóng khung và ghi lại, nguyên vẹn một bàn tay... thúi.
“Tầm quan trọng của Phật giáo cho thời đại của chúng ta” là bản Việt dịch từ nguyên tác Đức ngữ Die Bedeutung des Buddhismus für unsere Zeit do Nhà xuất bản Osla Schloss Verlag München – Neubiberg ấn hành lần thứ 2 năm 1924. Qua bài viềt, tác gỉả đề cao Phật giáo là liều thuốc duy nhất vô cùng hiệu quả để chống lại tình trạng mất phương hướng tinh thần và nhu cầu xã hội của thời hiện đại. Ông chỉ ra rằng nền văn hóa xã hội phương Tây gặp phải những mâu thuẫn nghiêm trọng và không có một giải pháp thoả đáng vì tin tưởng mù quáng vào Thiên Chúa giáo cũng như chủ nghĩa duy vật...
Người đàn ông đang lái xe chở nhóm công nhân đến công trường, bỗng bị một chiếc xe không biển số bám sát phía sau. Vài phút sau, ông bị bắn chết ngay trên tay lái. Sáu ngày sau, một thanh niên 25 tuổi bị chặn xe trên đường đi làm. Năm phát đạn liên tiếp bắn xuyên vào xe; một viên trúng ngay giữa đầu. Anh chết tại chỗ. Không phiên tòa. Không bồi thẩm đoàn. Không cơ hội biện hộ. Chỉ một quyết định sống chết, được những kẻ bịt mặt đưa ra trong tích tắc. Nếu độc giả cho rằng đây là chuyện xảy ra tại Việt Nam hay ở một xứ sở nơi băng đảng lộng hành, xin nghĩ lại. Đây là nước Mỹ. Năm 2026.
Từ khi ông Donald Trump trở lại giữ chức Tổng Thống Hoa Kỳ, chánh sách mậu dịch của Hoa Thịnh Đốn đổi khác nhiều. Chính phủ Mỹ lấy thuế khóa làm một phương tiện để vừa bảo hộ kỹ nghệ trong nước, vừa gây sức ép với những nước cùng mình giao thương. Thuế khi tăng, khi giảm; việc thương thuyết hôm trước còn thuận, hôm sau đã có thể trở mặt. Thoạt trông, ấy chỉ là chuyện mua bán giữa Hoa Kỳ với từng nước. Nhưng xét cho kỹ, mỗi phen Hoa Thịnh Đốn dựng thêm một hàng rào thuế khóa, Bắc Kinh lại có thêm một dịp để mở đường giao thương với những nước muốn tìm nơi khác mà nương tựa.
Đó là một trong những sự thật dịu dàng nhất của kiếp người, rằng chúng ta, một phần nào đó, là kết quả từ của những người đã dạy dỗ mình, ‘nhất tự vi sư, bán tự vi sư’. Donald Trump cũng có một người thầy theo nghĩa như thế. Từ năm 2016, truyền thông Mỹ đã lần tìm ra người thầy này của Trump: Roy Cohn, và gọi ông ta là “một trong những kẻ thù tồi tệ nhất của Liên Minh Châu Âu, người từng cố vấn cho Donald Trump.”
Tính đến thời điểm hiện tại của tài khóa 2026 (tháng 10, 2025 – tháng 9, 2026), thiếu hụt ngân sách liên bang Hoa Kỳ đã lên tới khoảng 1.8 nghìn tỷ USD, trong đó mức thiếu hụt của riêng tháng 7 là 432 tỷ USD, cao nhất kể từ tháng 3, 2021. Medicare tăng mạnh đã góp phần đẩy tổng con số lên cao, trong khi chính quyền vay nợ vẫn là một yếu tố đóng góp đáng kể. Tình trạng này đã đẩy tổng nợ quốc gia lần đầu tiên vượt mốc 40 nghìn tỷ USD, chủ yếu do chi phí lãi vay ròng gia tăng, các khoản chi cho chương trình phúc lợi bắt buộc và tác động từ các đạo luật chi tiêu mới được ban hành. Văn Phòng Ngân Sách Quốc Hội (Congressional Budget Office - CBO) dự đoán thâm hụt ngân sách cả tài khóa 2026 sẽ ở mức gần 1.9 nghìn tỷ USD.
Tổng Thống Donald Trump vừa đưa cuộc chiến thuế quan với Canada sang một vòng mới, áp thuế 50% lên khoảng $20 tỷ hàng nhập cảng từ nước láng giềng phía bắc, chỉ hơn hai tháng trước cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Trên lý thuyết, đây là một đòn đánh vào Canada. Trong thực tế, nó cũng là một sắc thuế đánh vào kỹ nghệ Hoa Kỳ. Lý do khá rõ: sau nhiều thập niên tự do mậu dịch, hai nền kinh tế Hoa Kỳ và Canada đã đan vào nhau từ dầu thô, điện lực, thép, nhôm cho tới xe hơi và linh kiện. Đánh thuế một mắt xích ở Canada, nhiều khi chính hãng xưởng Mỹ lại là nơi gánh thêm phí tổn.
Mysticism: Christian and Buddhist là một trong những công trình tiêu biểu của Suzuki trong lĩnh vực nghiên cứu và đối thoại liên tôn. Tác phẩm được Nhà xuất bản George Allen & Unwin (London) ấn hành năm 1957 và được dịch giả Như Hạnh chuyển ngữ sang tiếng Việt với nhan đề Huyền học đạo Phật và Thiên Chúa giáo, do Nhà xuất bản Kinh Thi xuất bản năm 1974.
Một người mời bạn đi ăn tối. Bạn mệt, không muốn ra khỏi nhà, nhưng thay vì nói thật rằng tối nay chỉ muốn nằm yên, bạn đáp “Tiếc quá, tôi có hẹn mất rồi”. Một người quen hỏi cái áo mới có đẹp không. Bạn thấy chẳng đẹp chút nào, song vẫn mỉm cười: “đẹp lắm!” Một đứa trẻ chìa ra bức tranh nguệch ngoạc, không ai nỡ nói: “Con mèo này trông giống củ khoai.” Không nền dân chủ nào suy vong vì những câu nói dối vô hại ấy. Madeleine Aggeler của The Guardian, người từng thử sống hai tuần không nói dối vặt như thế cho rằng phần lớn chúng ta không nói dối vì có ý hại người. Ta nói dối vì sự thật bất tiện. Vì không muốn làm ai mất lòng. Hoặc chỉ vì một câu không thật ngắn hơn một lời giải thích thật.
Trong chương trình phát hình kéo dài hơn 6 phút trên đài truyền hình quốc gia VTV vào tối ngày 16/08/2026, lần đầu tiên, sau gần một năm rưỡi, công chúng mới được nghe công bố công khai cái gọi là kết quả điều tra về vụ tai nạn giao thông tại đường Nguyễn Huy Tự, Hà Nội. Bản tin xác nhận người cầm lái xe ô tô lấn trái, vi phạm Luật Giao thông Đường bộ làm chết một nữ sinh và khiến người cha mang thương tích nặng chính là cựu Đại biểu Quốc hội Nguyễn Sỹ Cương.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.