Hôm nay,  

Đam Mê Đá Banh

11/06/202623:00:00(Xem: 358)

 

wc1
Tác giả đi xem bán kết World cup 1994 tại Rose Bowl

 

Tác giả định cư tại Mỹ từ năm 1991 và hiện là kỹ sư phần mềm cho Raytheon.  Tác giả đã tham gia VVNM từ năm 2002 và nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2017.  Tác giả từng là cộng tác viên thể thao của báo Sài gòn nhỏ. 

 

****

 

Hồi nhỏ tôi có nước da trắng, dáng người ốm và mái tóc dài cho nên không ai nghĩ tôi thích thể thao.  Ngược lại với suy đoán của mọi người, tôi mê thể thao từ hồi bé.  Năm tôi biết đọc chữ là tôi để dành tiền mua hai tờ báo Thể dục thể thao và Văn hóa & Thể thao mỗi tuần.  Vào thập niên 1980, muốn biết kết quả thể thao thì phải mua báo vì thời gian đó chưa có trực tiếp TV hay truyền thanh.  Dĩ nhiên là tôi mê nhất môn bóng đá (trước 1975 gọi là túc cầu), giống như bao chúng bạn cùng trang lứa.  Ngoài bóng đá ra, tôi cũng mê các môn thể thao khác như quần vợt, bơi lội, đua xe đạp, khúc côn cầu (hockey), bóng chuyền…Vì Việt Nam thời gian đó nghèo đói, chỉ có môn bóng đá là ai cũng chơi được.  Các môn còn lại, tôi chỉ mê coi thôi chứ không có điều kiện để chơi.

 

Tôi lớn lên trong khu Kiến thiết, quận Phú nhuận.  Cứ chiều đến là tôi cùng đám bạn trong xóm mang trái banh nhựa ra đá.  Lâu lâu các bác trong xóm khó chịu ra cấm không cho chúng tôi đá.  Có bác thì lấy cớ là bụi bay nhiều quá và đem thau nước ra trước sân nhà rồi phẩy nước “chống bụi”.  Thật ra là phẩy nước để chống chúng tôi đá banh.  Có bác thì … thẳng thắn hơn, chạy thẳng ra ngoài đường tịch thu banh của chúng tôi. 

 

Ngoài đá banh trong xóm, tôi mê coi đá banh trên TV cũng như tại sân Thống Nhất (Cộng hoà cũ).  Lần đầu tiên được đi coi là trận chung kết giải A1 năm 1983 giữa hai đội Hải quan (HQ) và Câu lạc bộ quân đội (CLBQĐ). Ngoài tính thể thao, trận đấu này còn mang ý nghĩa chính trị.  HQ là đội banh của Sài Gòn trong khi CLBQĐ không những đại diện cho miền Bắc mà còn là đội banh của quân đội. Khán giả vào xem quá đông phải tràn xuống sân. Một số leo lên các cột đèn từ xa xem ké. Hôm đó má tôi đưa tiền để ông anh dắt đi xem.  Ông anh chỉ mua một vé và dùng tiền dư để mua thuốc lá. Trước khi vào sân, móc một cái vé cũ, của trận đấu cách đó một tuần, bỏ dưới cái vé mới mua, ông anh dặn:

 

- Lát nữa, khi tao đưa hai cái vé này cho bảo vệ, nhớ chạy càng nhanh càng tốt vào bên trong khán đài.  Lựa chỗ nào đông người rồi ngồi xen vào giữa để bảo vệ không tìm thấy.

 

Nghe lời ông anh dặn, ổng vừa đưa vé là chúng tôi chạy thục mạng vào trong.  Ông anh quẹo trái, tôi quẹo phải. Đến lúc chú bảo vệ soát vé thấy tấm vé cũ thì chúng tôi đã cao chạy xa bay. Sau 15 phút đường ai nấy chạy, ông anh lù lù tới chỗ tôi ngồi, đưa một bịch trà đá. Chắc vì áy náy lương tâm chuyện ăn chặn tiền má cho để mua vé nên ông anh chuộc lỗi. Có lẽ nhiều người cũng chơi trò này nên sân Thống Nhất hôm đó quá tải. Trận đấu hôm đó rất căng thẳng. Khi ông trọng tài cho CLBQĐ hưởng phạt đền, đội HQ bỏ ra sân không chịu đá nữa trong khi khán giả la ó phản đối. Trận đó HQ thua 1 - 2 làm dân Sài Gòn buồn thiu ra về.  Các chú các bác ngồi gần kết luận rằng có chỉ thị từ trung ương là đội CLBQĐ phải thắng trận này.

 

Sau đó, tôi còn được đi coi đá banh khá nhiều lần trên sân Thống Nhất. Các trận banh thời đó diễn ra lúc 15:30 nhưng khán giả thường có mặt từ 12:30. Trời Sài Gòn nắng nóng như lửa nhưng dân ghiền đá banh không ngại đến sớm. Ai cũng mang theo dù để che nắng. Mọi người ngồi sát vào nhau để những cây dù đan vào nhau và che nắng hiệu quả hơn.  Các quan nhà nước thì không cần dù vì họ được ngồi khán đài A có mái che. Họ cũng không đến sớm vì khán đài A có số ghế. Tôi ngồi khán đài B đối diện khán đài A.  Dân cá độ thường tập trung ở khán đài C hay D, sau hai cầu môn. Mấy lần đầu đi coi, tôi hơi ngạc nhiên khi thấy khán giả trên hai khán đài C và D la hét vui mừng khi các cầu thủ đá banh vào lưới trong lúc khởi động trước giờ khai mạc. Ông anh giải thích;

 

- Họ cá độ không những trong trận đấu mà cả trước khi trọng tài thổi còi bắt đầu vào cuộc.

 

Ngoài khán đài A có ghế với dựa lưng, các khán đài còn lại không có ghế.  Chỗ ngồi là các bậc bằng xi măng khá chật chội.  Chân người ngồi sau vừa sát lưng người ngồi trước, không có chỗ cho người khác băng ngang. Ai đã từng đi coi đá banh trên khán đài B chắc phải biết bà bán quýt đường. Trận nào bà cũng mang một rổ quýt vào bán. Tướng bà khá phì nhiêu. Giọng bà to sang sảng rao hàng;

 

- Quit đường đây bà con ơi!  Bảo đảm ngọt như đường. Mại vô! Mại vô!

 

Nếu có người ngồi gần mua thì mọi người xung quanh coi như gặp xui vì bà sẽ đạp lên mọi người để đến gần người mua. Vì chỗ ngồi rất chật, bà lại to xác, người mồ hôi mồ kê nhễ nhại do trời nắng, bà cứ như một chiếc xe tăng, càn quét hết những ai ngồi trên hướng bà cần đi.  Bà đi đến đâu là các cây dù bị đè xẹp đến đó, dù mọi người cố gắng né tránh. Sau nhiều lần bị bà đi càn, mọi người khôn ra và có giải pháp đối phó. Khi có ai muốn mua quýt, một dây chuyền con người giữa khách hàng và bà được thành lập. Người mua đưa tiền cho người bên cạnh. Người bên cạnh lại chuyền cho người tiếp theo, cứ thế cho đến khi tiền đến tay bà. Bà đưa quýt và tiền thối cho người gần bà nhất. Người này truyền cho người bên cạnh cho tới khi quýt và tiền thối đến tay khách hàng. Với giải pháp này, mọi người không còn bị bà đạp lên đầu lên cổ và mấy cây dù không bị gãy nữa.

 

Những hôm trời mưa thì mọi người mặc áo mưa cho từ đầu tới hông không bị ướt.  Từ mông cho tới chân thì vẫn bị ướt do nước mưa từ chỗ ngồi thấm ngược lên. Trời nắng nóng bao nhiêu thì trời mưa lạnh bấy nhiêu. Tuy nhiên, thỉnh thoảng tự nhiên cảm thấy một làn nước ấm chạy từ những người ngồi xung quanh đến vì có kẻ thừa nước mưa, “lo việc nước”.  Sau này, bắt đầu từ năm 1991 khi Việt Nam không còn bị thiếu điện trầm trọng, các trận đấu được diễn ra vào buổi tối, giúp cho cả cầu thủ và người hâm mộ đỡ phải dãi nắng.

 

Một trận đấu hè năm 1988 tại sân Thống Nhất là một kỷ niệm khó quên khác. Ông chú trong xóm chở tôi và thằng con trai của ổng coi đội CSG thi đấu.  Hôm đó Sài gòn mưa nặng hạt nên tất cả mọi người đều ướt như chuột lột dù có mặc áo mưa.  Khi ra về, trời vẫn mưa lớn làm con đường 3 tháng 2 (Trần Quốc Toản cũ) bị ngập đến đầu gối.  Nước ngập tràn vào ống bô chiếc xe Honda của ông chú nên mới chạy được 5 phút là xe chết máy.  Đạp máy hoài không nổ, ông chú ra lệnh cho hai thằng tôi xuống đẩy.  Xe nổ máy, ông dừng xe lại chờ hai chúng tôi leo lên.  Chạy được 5 phút thì xe lại chết máy.  Hai thằng chúng tôi lại leo xuống đẩy xe.  Cứ như thế, chúng tôi hầu như phải đẩy xe từ sân Thống nhất về tới nhà ở khu Kiến thiết quận Phú nhuận. 

 

Lên đến lớp 10, trường tổ chức giải đá banh trong khối.  Lần đầu tiên đi đá tranh giải thật hào hứng.  Thập niên 1980 Việt Nam còn nghèo nên chúng tôi không có đồng phục.  Khi ra sân đấu, một đội mặc áo và một đội phải cởi trần.  Một hôm bốc thăm, đội lớp tôi phải cởi trần.   Mấy đứa trong lớp cứ ghẹo tôi:

 

- Bình thường nhìn da mặt thằng Long thấy trắng như con gái.  Hôm nay nó cởi trần, trắng nõn nà không chịu nổi.

 

Sở dĩ chúng bạn chọc tôi vì thường những đứa chơi thể thao có da ngăm đen và không chú tâm học chữ.  Mấy đứa học hành siêng năng thì không thích chơi thể thao.  Âu đó cũng là luật bù trừ của tạo hoá.  Tôi có lẽ người không ra người, ngợm không ra ngợm, cho nên học chữ cũng không tệ mà chơi thể thao cũng không tồi. Có một lần tôi giỡn mạnh tay với thằng bạn học ngồi cùng bàn, cô giáo môn Văn đi ngang và nhận xét:

 

- Minh Long tóc dài, da trắng nhìn giống như nghệ sĩ nhưng hành động như võ sĩ.

 

Cả một tuổi thơ ghiền đá banh, cả chơi lẫn xem, ngày rời Việt Nam đi Mỹ năm 1991, tôi gác nỗi đam mê này qua một bên vì hai lý do chính.  Thứ nhất là phải lo hội nhập với cuộc sống mới và tập trung vào việc học hành.  Thứ hai là nước Mỹ khi đó không mặn mà gì với môn thể thao này.  Tháng 5 năm 1994, một số bạn học tại Rio Hondo college rủ tôi xuống sân cỏ đá banh.  Sau bao năm không đá, chiều ngày hôm đó tôi mới chạy được hai vòng sân là thấy trời đất quay cuồng và ngồi xuống…ói một bãi to tổ mẹ rồi bỏ ra về. 

 

Cũng mùa hè năm đó, giải bóng đá thế giới được tổ chức tại Mỹ.  Niềm đam mê thức dậy trong tôi.  Rất nhiều trận đấu được diễn ra tại sân Rose bowl, cách nhà tôi chỉ 15 phút lái xe.  Tôi quyết định mua vé đi xem.  Hồi còn ở Việt Nam chỉ được xem giải bóng đá thế giới qua TV.  Bây giờ, giải diễn ra gần nhà mình ở, không đi xem thật uổng phí.  Thời đó chưa có internet, muốn mua vé phải gọi điện thoại.  Vì quá nhiều người muốn mua, ban bán vé phải tổ chức bốc thăm tên người mua và chỗ ngồi.  Tôi ghi danh cho hai vé nhưng chẳng hy vọng mua được.  Cuối tháng năm, tôi nhận được một cú điện thoại từ ban tổ chức cho biết tôi được trúng thăm mua vé cho trận bán kết.  Tôi nhảy cẫng vui mừng vì không những được mua vé mà lại là vé bán kết.  Giá cho mỗi vé là $90, một số tiền rất lớn vào thời buổi ấy.  Hai tuần sau, đang ngủ nướng vào sáng thứ bảy, một người bấm chuông đánh thức tôi dậy:

 

- Đây là hai vé xem bán kết bóng tròn thế giới của bạn.  Làm ơn ký tên.

 

Họ giao vé tận nhà và bắt tôi phải ký tên xác nhận.  Cách bán và giao vé của người Mỹ rất khác với cách ông anh tôi mua vé ở sân Thống nhất năm nào.  Đầu tháng 6, qua quảng cáo, tôi biết được vé của trận đấu vòng bảng giữa Mỹ và Romania vẫn còn nhiều và chỉ có $45 cho chỗ ngồi sau khung thành.  Tôi quyết định mua thêm vé đi xem trận này để cổ vũ cho đội Mỹ.  Trận đấu diễn ra ngày 26 tháng 6 năm 1994.  Theo chỉ dẫn trên vé, tôi lái xe đến sân trường Pasadena City College.  Xe buýt chở chúng tôi từ đó vào sân Rose bowl để giảm thiểu số xe cộ.  Phải nói không khí hôm đó thật hào hứng như một ngày hội.  Khán giả từ nhiều quốc gia khác nhau đổ về đây, ca hát và nhảy múa tưng bừng.  Ngồi trên xe buýt, tôi để ý thấy các gia đình gần Rose bowl tính tiền mỗi xe $20 nếu muốn đậu xe trên sân của họ.  Ngày hôm đó trời nắng nóng như lửa thiêu đốt. Do trận đấu diễn ra vào lúc 4 giờ chiều (không phải vì nước Mỹ thiếu điện nên không cho đá đèn mà vì ban tổ chức muốn thuận tiện cho khán giả châu Âu) làm tôi nhớ đến các trận đấu trên sân Thống nhất năm nào.  Vì nhiệt độ hôm đó là 115 độ F, rất nhiều khán giả bị ngất xỉu và ban cấp cứu làm việc tới tấp.  Rất nhiều khán giả Mỹ chẳng rành luật đá banh nên cứ cổ vũ bằng cách kêu gào các cầu thủ Mỹ “tackle” đối phương.  Trong bóng bầu dục, “tackle” là hành động vật đối phương và hợp pháp.  Bóng đá không cho phép làm điều này.  Dù được khán giả nhà cổ vũ cuồng nhiệt, đội Mỹ thua 0-1 ngày hôm đó.

 

Tác giả tại sân Rose bowl, ngày 11 tháng 7 năm 1994

 

Ba tuần sau đó tôi và ông anh đi xem trận bán kết.  Rút kinh nghiệm từ trận trước, tôi dặn ông anh mang nón và khăn tắm nhúng nước để chống nắng nóng.  Sự chuẩn bị của chúng tôi trở nên dư thừa khi chúng tôi vào đến sân Rose bowl.  Cũng rút kinh nghiệm từ những trận trước, ban tổ chức cho gắn ống phun ra các tia nước lạnh khắp nơi để giúp giảm sức nóng của nắng.  Hơn nữa, đợt gió nóng đã qua cho nên trận bán kết, dù cũng diễn ra lúc 4 giờ chiều, tương đối mát mẻ. Khi coi thể thao, tôi chỉ thích xem đội mình thích hoặc đội mình ghét.  Trận bán kết năm đó không có đội tôi thích mà cũng chẳng có đội tôi ghét cho nên bớt đi hào hứng.

 

Sau khi tổ chức giải thế giới năm đó, dân Mỹ bắt đầu chú ý đến bóng đá nhiều hơn.  TV Mỹ cũng bắt đầu chiếu các trận banh quốc nội.  Tuy nhiên, vì bận học hành và công việc, tôi chỉ xem các giải thế giới trên TV.  Đến năm 2007, tôi vào làm cho hãng Northrop ở thành phố Carson.  Qua một đồng nghiệp, tôi bắt đầu đá banh trở lại với những người làm cùng hãng này.  Cứ mỗi thứ năm hàng tuần là chúng tôi ra sân lúc 12 giờ trưa.  Vì chạy bộ mỗi ngày trước khi tham gia đá banh, tôi có đủ thể lực để chơi với các đồng nghiệp.  Dù lúc chơi đá banh trở lại tôi đã 35 tuổi nhưng tôi cảm thấy mình dẻo dai và chạy khỏe hơn khi đá ở trung học.  Hầu hết các đồng nghiệp tại Northrop đá banh với tôi đều là châu Á, gồm Tàu, Phi và Campuchia.  Năm 2009, tôi chuyển về chi nhánh của Northrop ở El Segundo.  Hàng tuần, tôi đá banh ở sân của hãng Raytheon vào các ngày thứ 3, thứ 5 và thứ 6.  Tuy sân này nằm trong khuôn viên của Raytheon, nhân viên của các hãng khác như Northrop, Boeing, TeraData đều đến đây đá banh với nhau.  Các trận đấu tại đây phải gọi là liên hiệp quốc vì có người đến từ Mễ, Ba tây, Á căn đình, Ý, Iran, Pháp.  Tôi là người Việt nam duy nhất lúc đầu.  Mấy năm sau có thêm hai người Việt Nam tham gia.  Thời gian này có lẽ là tôi chơi banh hay nhất trong đời dù thuộc loại ..lớn tuổi.  Tôi nghĩ lý do là vì chơi một tuần 3 lần cho nên thể lực dồi dào hơn cả hồi còn trung học.  Hơn nữa, chơi bóng với dân tứ xứ khắp thế giới và thấy mình đủ khả năng thi đấu với họ làm cho tôi cảm thấy hài lòng với bản thân. Nhờ đá banh đều đặn 3 lần trong tuần, khi đi thử máu, cholesterol hạ xuống dưới 200 và bác sĩ không còn hăm dọa bắt uống thuốc. 

 

Tác giả (áo xanh) đang đá banh cùng các đồng nghiệp tại El Segundo năm 2018

 

Đang trong thời kỳ đá banh sung mãn nhất thì covid ập đến và chúng tôi phải ngừng đá.  Đến năm 2022 thì mọi người bắt đầu đá lại vào mỗi thứ 6.  Tuy nhiên, vì tôi làm việc ở nhà cho nên đã không ra đá lại.  Đến hè năm 2023, tôi ghi danh cho con trai chơi bóng rổ tại thành phố Garden Grove. Trong một buổi chiều thứ 4, dắt con ra tập với đội, thấy các anh Việt Nam đang đá banh tại sân cỏ, cạnh trung tâm y tế Michael Dao, tôi rón rén ra xem và xin các anh cho đá ké. Mỗi thứ 4, tôi đều xỏ giày ra đá với anh em.  Sau khi nhóm này chuyển qua đá ở Chapman, tôi kiếm được một nhóm khác đá gần nhà, trên đường Newland, gần Edinger, và chuyển sang đá ở đây.  Bây giờ tuổi đời bắt đầu chồng chất, không còn chạy nhanh và lừa bóng lắt léo như trước covid, nhưng đam mê vẫn không thuyên giảm. 

 

Tác giả (bên trái) trên sân cỏ chiều thứ 7.

 

Ở Mỹ, đồ ăn dư thừa và ra đường thì đi xe hơi, ít vận động, người ta dễ bị bệnh cao mỡ, cao huyết áp, cao đường. Bù lại, nước Mỹ có nhiều công viên để mọi người có chỗ chơi thể thao cho khỏe mạnh. Hãy tận dụng những điều tốt đẹp này để gìn giữ sức khỏe. 

 

Ngày 2 tháng 6 năm 2026

Hoàng Đình Minh Long

Quianna Duyên Bùi sinh trưởng tại Saigon, sang Mỹ định cư năm 17 tuổi, và hiện cư ngụ tại Bắc California. Cô từng hoạt động trong các lĩnh vực khoa học và giáo dục. Đây là lần đầu tiên cô tham gia Viết Về Nước Mỹ. Bài viết kể về hai sự việc trong sinh hoạt đời thường- đám tang và đám cưới dưới cách nhìn chan chứa tình người của tác giả.
(Xem: 10)
Tiếng hát nho nhỏ của bà nội ở phòng bên cạnh vang lên, bà vừa thay đồ vừa lầm bầm bài hát cho thuộc lời. Tôi biết buổi “party” chiều nay bà sẽ làm ca sĩ, nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày cưới của ông Tuấn, bạn thân của gia đình ông bà nội từ bao lâu nay. Bà vừa tìm đôi bông tai trong tủ, vừa ướm thử trong gương xem có hợp với bộ đồ bà mặc không. Bà nội tuy đã hơn 60 nhưng trông bà còn trẻ và yêu đời lắm. Bà có nhóm hát thỉnh thoảng gặp nhau, các ông bà ấy họp lại mỗi người một món ăn đem tới. Hồi xưa nghe kể mọi người không biết nấu ăn ngon, nhưng nhờ đi chơi gặp nhau, chỉ cho nhau kinh nghiệm, cách nêm nếm cho ngon hơn mỗi ngày. Ngay cả việc quần áo mọi người cũng chỉ cách, nếu chật nới ra, rộng bóp lại và thêm những rua, kim tuyến hoặc thêm vào một loại vải khác… sao cho đẹp mắt, tự làm nhà, không bị tốn nhiều chi phí ra tiệm. Các ông chồng thật hài lòng vì được ăn ngon, no bụng, ngắm “vợ đẹp”, nên không còn than thở khi phải bị các bà “tra tấn” lỗ tai vào cuối tuần nữa.
(Xem: 5)
Sau hơn 53 năm chia sẻ thăng trầm, tôi mất người chồng hiền lành gần bốn năm nay. Thay vì tiếp tục ngồi ngụp lặn trong niềm đau xé tâm hồn, trí não sa trong cơn mù sương càng ngày càng mờ mịt lui dần trong mơ hồ quá khứ thì bỗng tôi nhớ lại cái ước mơ của tuổi thanh xuân. Đó là 7 "notes" nhạc trên 6 sợi dây đàn. (Sẵn thì phải kể dông dài luôn cho có đầu có đuôi và cũng nhắc cho mình đừng có quên những chi tiết và những cái tên, tên người tên địa điểm khi đầu óc mình còn nhớ rõ). Năm 14 tuổi. Trong nhà, người anh cô cậu có cây đàn "guitar", hàng xóm có anh kia 17 tuổi biết đàn vọng cổ 6 câu mùi hết xẩy, nghe ai cũng kêu tên là "anh Lộc". đón đường nhờ anh dạy cho tui đàn. Anh ừ liền. Bèn hẹn nhau lên cái gác nhà dì tui. Học thuộc, đàn được một câu đầu rồi nhưng sao tui cứ thấy cái đầu của dì tui thập thò lên gác ngó hai đứa rồi bỗng một hôm, Ba tui nói NGƯNG, hổng cho học nữa.
(Xem: 12)
Với những bận rộn, tất bật của đời sống thường nhật, có nhiều ngày trôi qua dường như không đọng lại chút gì trong tâm trí, nhưng chúng ta vẫn may mắn có thể có những thời khắc thật đáng nhớ. Những ngày qua tôi được cùng đồng hành với Justin, con trai tôi, khi Justin bắt đầu một chặng đường mới, nhận nhiệm sở với tư cách kỹ sư điện toán phục vụ Hải quân Hoa Kỳ. Trong suốt hàng chục năm, tôi đã nhiều lần đưa con đến trường, đón con sau giờ học, ngồi cạnh con trong những buổi khải đạo hay rong ruổi cùng con trong hàng trăm buổi cắm trại xa nhà do Hướng Đạo tổ chức. Cũng không biết bao nhiêu lần tôi quây quần cùng gia đình thưởng thức, ủng hộ con trong các buổi hòa nhạc hay trình diễn theo đội hình của đội kèn trong suốt 4 năm dài con theo học tại trường trung học Westminster High, hay cùng gia đình chung vui trong ngày con tốt nghiệp cử nhân ngành điện toán.
(Xem: 242)
VĂN HÓA có thể hiểu một cách đơn giản là những gì còn lại. Còn lại qua nhiều biến động, qua nhiều giai đoạn lịch sử, nhiều thế hệ khác nhau, bất kể đó là di sản Văn Hóa vật thể (Tangible Cultural Heritage) hay phi vật thể (Itangible Cultural Heritage). Trong suốt bốn nghìn năm lịch sử trong đó hơn một nghìn năm bị Tàu đô hộ và đồng hóa, người Việt Nam vẫn giữ được ngôn ngữ của mình, đó là cái còn lại quí báu nhất, thiêng liêng nhất. Tiếng Việt bao gồm tiếng nói và chữ viết là một thứ Văn Hóa đặc biệt của người Việt, đã có từ thuở người Việt xuất hiện trên hành tinh này và tồn tại cho đến bây giờ. Chữ Việt dùng để ghi tiếng Việt theo cách phát âm đã có từ thời Alexandre de Rhodes, theo mẫu tự La Tinh, đã trở thành chữ Quốc Ngữ từ mấy trăm năm, tồn tại đến ngày hôm nay và sẽ tồn tại lâu dài.
(Xem: 18)
Mùa hè năm nay, con trai tôi từ trường võ bị West Point về nhà nghỉ hè được hai tuần trước khi đi thực tập ở căn cứ quân sự Fort Hood tại thành phố Killeen, bang Texas. Trong lúc gia đình sum họp, con tôi có cho tôi xem một số hình ảnh về cuộc sống học tập của nó ở trường. Một bức ảnh đã khiến tôi dừng lại rất lâu sau khi con tôi cho biết đó là tượng đài “The Trail of The Fallen”. Con tôi đã chụp bức ảnh này trong một lần tập quân sự leo lên đỉnh núi Popolopen Torne. Có những bức ảnh không để lại ấn tượng nào cho tôi, một số bức ảnh gây cho tôi nhiều ngạc nhiên, thích thú và xúc động. Bức ảnh mà con tôi chụp tượng đài “The Trail of The Fallen” đã gợi lên trong tôi nhiều cảm xúc vì câu chuyện đằng sau bức ảnh này thật sự lay động lòng người.
(Xem: 14)
Bà Phương ngắm nghía những đòn bánh tét mới vớt ra trong nồi đầy thích thú. Nó nhỏ bằng nắm tay, trông xinh xắn làm sao. “Vậy là mình yên tâm phần nào rồi, vì hai hôm nay đã gói được bánh ít đen, bánh lọc, bánh tét và làm chả chay xong.” Bà vừa dọn dẹp các thứ vừa nhìn đồng hồ điểm 2 giờ sáng - mau lẹ ngủ thôi, mai còn dậy sớm đi thăm đám nữa. Tháng Tám của những ngày cuối hạ, cái nóng bứt rứt người. Bà ghé chở bà Minh cùng đến nhà quàn thắp nén hương đưa tiễn người đi. Sau đó bà muốn ghé chợ mua thức ăn. “Mai có đám giỗ mẹ chồng, hôm qua đã mua chợ gần nhà một xe rồi, vẫn chưa đủ.” Bà vừa nói với bạn vừa mở Google tìm chợ nào gần nhất vùng San Jose. Hai bà chọn chợ Đại Thành.
(Xem: 17)
Bolsa đây là tên một con đường ở Little Sài Gòn, nhưng từ lâu đã được xem như là tên của một khu vực, một nơi chốn mà chúng ta thường gọi là “thủ đô tỵ nạn”, tiêu biểu của Quận Cam-Orange County. Có lẽ vì đại lộ Bolsa huyết mạch nơi tập trung nhiều quán xá, cửa hiệu, văn phòng, trung tâm sinh hoạt của cộng đồng người Việt. Chỉ cần nói “Bolsa” là chúng ta, đều hiểu nói về khu vực của cộng đồng người Việt tự do ở Orange County. Tôi nghĩ rằng, Bolsa-Cali không chỉ là nơi đến ưa thích của tôi mà của rất nhiều người Việt hải ngoại, dù họ ở các tiểu bang khác trên đất Mỹ hoặc ở các nước khác ngoài nước Mỹ, nhưng ít nhiều ai cũng "dính líu" tới Bolsa: có người thân, người quen, từng là nơi họ đến hội họp trường cũ, đồng hương xưa… và nhiều lý do khác. Về Bolsa-Cali như là tìm về "quê hương".
(Xem: 18)
Bà Sue là người bạn Mỹ đầu tiên và cũng là gia đình người bạn Mỹ thân nhất với gia đình chúng tôi từ nhiều năm qua. Bà gặp con trai tôi ở trường trung học khi bà là người quản thủ thư viện ở đó. Bà hiểu những khó khăn của những đứa trẻ châu Á khi mới sang Mỹ và giúp đỡ con trai tôi rồi sau này cũng chính bà giúp tôi học tiếng Anh và chuẩn bị kỳ thi vào quốc tịch cho tôi. Bà nhờ chồng mình là ông Robert và 1 người hàng xóm thực tập phỏng vấn tôi để tôi có được trải nghiệm về chất giọng khác nhau của người Mỹ và bà cho tôi thực tập như một buổi phỏng vấn quốc tịch thật để tôi thêm tự tin trong ngày phỏng vấn thật. Bà muốn tôi phải tập nghe nhiều giọng nói, cách phát âm của nhiều người để không phải bối rối và phân tâm hay lo sợ. Nhờ vậy, lúc vào phỏng vấn quốc tịch, tôi đã vô cùng tự tin và đậu ngay lần đầu.
(Xem: 33)
Năm nay mùa An Cư Kiết Hạ ở chùa Quang Minh, thành phố Chicago được tổ chức từ ngày 09/06/2026 đến ngày 19/06/2026 tức là từ ngày 24 tháng tư đến ngày 5 tháng năm, Bính Ngọ. Tôi được thầy chủ trì mời tham dự sự kiện tâm linh quan trọng và nhiều ý nghĩa của Phật Giáo là một vinh dự quý báu kể từ ngày tôi định cư ở Mỹ đến giờ. An Cư Kiết Hạ là một thuật ngữ Phật Giáo có nghĩa là ở yên một chỗ (tiếng Phạn là Varsika, tiếng Anh là Retreat Season) trong ba tháng Hạ theo truyền thống Phật Giáo Đại Thừa, mỗi năm đều có ba tháng an cư cho Tăng, Ni kể từ rằm tháng Tư đến rằm tháng Bảy. Tại sao lại là rằm tháng Tư? Vì ở Ấn Độ, Việt Nam, Trung Hoa và một số nước Đông Nam Á, tháng Tư là tháng bắt đầu mùa mưa và mưa rất nhiều. Vào tháng này cây cối bắt đầu chu kỳ đâm chồi, nẩy lộc, các loài côn trùng, bò sát cũng sinh sôi nẩy nở và bò ra đường rất nhiều. Các chư Tăng Ni cũng như dân chúng trong sinh hoạt hằng ngày đi đây đi đó khó tránh khỏi giẫm đạp lên chúng.
(Xem: 13)
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.