Hôm nay,  

Đam Mê Đá Banh

11/06/202623:00:00(Xem: 360)

 

wc1
Tác giả đi xem bán kết World cup 1994 tại Rose Bowl

 

Tác giả định cư tại Mỹ từ năm 1991 và hiện là kỹ sư phần mềm cho Raytheon.  Tác giả đã tham gia VVNM từ năm 2002 và nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2017.  Tác giả từng là cộng tác viên thể thao của báo Sài gòn nhỏ. 

 

****

 

Hồi nhỏ tôi có nước da trắng, dáng người ốm và mái tóc dài cho nên không ai nghĩ tôi thích thể thao.  Ngược lại với suy đoán của mọi người, tôi mê thể thao từ hồi bé.  Năm tôi biết đọc chữ là tôi để dành tiền mua hai tờ báo Thể dục thể thao và Văn hóa & Thể thao mỗi tuần.  Vào thập niên 1980, muốn biết kết quả thể thao thì phải mua báo vì thời gian đó chưa có trực tiếp TV hay truyền thanh.  Dĩ nhiên là tôi mê nhất môn bóng đá (trước 1975 gọi là túc cầu), giống như bao chúng bạn cùng trang lứa.  Ngoài bóng đá ra, tôi cũng mê các môn thể thao khác như quần vợt, bơi lội, đua xe đạp, khúc côn cầu (hockey), bóng chuyền…Vì Việt Nam thời gian đó nghèo đói, chỉ có môn bóng đá là ai cũng chơi được.  Các môn còn lại, tôi chỉ mê coi thôi chứ không có điều kiện để chơi.

 

Tôi lớn lên trong khu Kiến thiết, quận Phú nhuận.  Cứ chiều đến là tôi cùng đám bạn trong xóm mang trái banh nhựa ra đá.  Lâu lâu các bác trong xóm khó chịu ra cấm không cho chúng tôi đá.  Có bác thì lấy cớ là bụi bay nhiều quá và đem thau nước ra trước sân nhà rồi phẩy nước “chống bụi”.  Thật ra là phẩy nước để chống chúng tôi đá banh.  Có bác thì … thẳng thắn hơn, chạy thẳng ra ngoài đường tịch thu banh của chúng tôi. 

 

Ngoài đá banh trong xóm, tôi mê coi đá banh trên TV cũng như tại sân Thống Nhất (Cộng hoà cũ).  Lần đầu tiên được đi coi là trận chung kết giải A1 năm 1983 giữa hai đội Hải quan (HQ) và Câu lạc bộ quân đội (CLBQĐ). Ngoài tính thể thao, trận đấu này còn mang ý nghĩa chính trị.  HQ là đội banh của Sài Gòn trong khi CLBQĐ không những đại diện cho miền Bắc mà còn là đội banh của quân đội. Khán giả vào xem quá đông phải tràn xuống sân. Một số leo lên các cột đèn từ xa xem ké. Hôm đó má tôi đưa tiền để ông anh dắt đi xem.  Ông anh chỉ mua một vé và dùng tiền dư để mua thuốc lá. Trước khi vào sân, móc một cái vé cũ, của trận đấu cách đó một tuần, bỏ dưới cái vé mới mua, ông anh dặn:

 

- Lát nữa, khi tao đưa hai cái vé này cho bảo vệ, nhớ chạy càng nhanh càng tốt vào bên trong khán đài.  Lựa chỗ nào đông người rồi ngồi xen vào giữa để bảo vệ không tìm thấy.

 

Nghe lời ông anh dặn, ổng vừa đưa vé là chúng tôi chạy thục mạng vào trong.  Ông anh quẹo trái, tôi quẹo phải. Đến lúc chú bảo vệ soát vé thấy tấm vé cũ thì chúng tôi đã cao chạy xa bay. Sau 15 phút đường ai nấy chạy, ông anh lù lù tới chỗ tôi ngồi, đưa một bịch trà đá. Chắc vì áy náy lương tâm chuyện ăn chặn tiền má cho để mua vé nên ông anh chuộc lỗi. Có lẽ nhiều người cũng chơi trò này nên sân Thống Nhất hôm đó quá tải. Trận đấu hôm đó rất căng thẳng. Khi ông trọng tài cho CLBQĐ hưởng phạt đền, đội HQ bỏ ra sân không chịu đá nữa trong khi khán giả la ó phản đối. Trận đó HQ thua 1 - 2 làm dân Sài Gòn buồn thiu ra về.  Các chú các bác ngồi gần kết luận rằng có chỉ thị từ trung ương là đội CLBQĐ phải thắng trận này.

 

Sau đó, tôi còn được đi coi đá banh khá nhiều lần trên sân Thống Nhất. Các trận banh thời đó diễn ra lúc 15:30 nhưng khán giả thường có mặt từ 12:30. Trời Sài Gòn nắng nóng như lửa nhưng dân ghiền đá banh không ngại đến sớm. Ai cũng mang theo dù để che nắng. Mọi người ngồi sát vào nhau để những cây dù đan vào nhau và che nắng hiệu quả hơn.  Các quan nhà nước thì không cần dù vì họ được ngồi khán đài A có mái che. Họ cũng không đến sớm vì khán đài A có số ghế. Tôi ngồi khán đài B đối diện khán đài A.  Dân cá độ thường tập trung ở khán đài C hay D, sau hai cầu môn. Mấy lần đầu đi coi, tôi hơi ngạc nhiên khi thấy khán giả trên hai khán đài C và D la hét vui mừng khi các cầu thủ đá banh vào lưới trong lúc khởi động trước giờ khai mạc. Ông anh giải thích;

 

- Họ cá độ không những trong trận đấu mà cả trước khi trọng tài thổi còi bắt đầu vào cuộc.

 

Ngoài khán đài A có ghế với dựa lưng, các khán đài còn lại không có ghế.  Chỗ ngồi là các bậc bằng xi măng khá chật chội.  Chân người ngồi sau vừa sát lưng người ngồi trước, không có chỗ cho người khác băng ngang. Ai đã từng đi coi đá banh trên khán đài B chắc phải biết bà bán quýt đường. Trận nào bà cũng mang một rổ quýt vào bán. Tướng bà khá phì nhiêu. Giọng bà to sang sảng rao hàng;

 

- Quit đường đây bà con ơi!  Bảo đảm ngọt như đường. Mại vô! Mại vô!

 

Nếu có người ngồi gần mua thì mọi người xung quanh coi như gặp xui vì bà sẽ đạp lên mọi người để đến gần người mua. Vì chỗ ngồi rất chật, bà lại to xác, người mồ hôi mồ kê nhễ nhại do trời nắng, bà cứ như một chiếc xe tăng, càn quét hết những ai ngồi trên hướng bà cần đi.  Bà đi đến đâu là các cây dù bị đè xẹp đến đó, dù mọi người cố gắng né tránh. Sau nhiều lần bị bà đi càn, mọi người khôn ra và có giải pháp đối phó. Khi có ai muốn mua quýt, một dây chuyền con người giữa khách hàng và bà được thành lập. Người mua đưa tiền cho người bên cạnh. Người bên cạnh lại chuyền cho người tiếp theo, cứ thế cho đến khi tiền đến tay bà. Bà đưa quýt và tiền thối cho người gần bà nhất. Người này truyền cho người bên cạnh cho tới khi quýt và tiền thối đến tay khách hàng. Với giải pháp này, mọi người không còn bị bà đạp lên đầu lên cổ và mấy cây dù không bị gãy nữa.

 

Những hôm trời mưa thì mọi người mặc áo mưa cho từ đầu tới hông không bị ướt.  Từ mông cho tới chân thì vẫn bị ướt do nước mưa từ chỗ ngồi thấm ngược lên. Trời nắng nóng bao nhiêu thì trời mưa lạnh bấy nhiêu. Tuy nhiên, thỉnh thoảng tự nhiên cảm thấy một làn nước ấm chạy từ những người ngồi xung quanh đến vì có kẻ thừa nước mưa, “lo việc nước”.  Sau này, bắt đầu từ năm 1991 khi Việt Nam không còn bị thiếu điện trầm trọng, các trận đấu được diễn ra vào buổi tối, giúp cho cả cầu thủ và người hâm mộ đỡ phải dãi nắng.

 

Một trận đấu hè năm 1988 tại sân Thống Nhất là một kỷ niệm khó quên khác. Ông chú trong xóm chở tôi và thằng con trai của ổng coi đội CSG thi đấu.  Hôm đó Sài gòn mưa nặng hạt nên tất cả mọi người đều ướt như chuột lột dù có mặc áo mưa.  Khi ra về, trời vẫn mưa lớn làm con đường 3 tháng 2 (Trần Quốc Toản cũ) bị ngập đến đầu gối.  Nước ngập tràn vào ống bô chiếc xe Honda của ông chú nên mới chạy được 5 phút là xe chết máy.  Đạp máy hoài không nổ, ông chú ra lệnh cho hai thằng tôi xuống đẩy.  Xe nổ máy, ông dừng xe lại chờ hai chúng tôi leo lên.  Chạy được 5 phút thì xe lại chết máy.  Hai thằng chúng tôi lại leo xuống đẩy xe.  Cứ như thế, chúng tôi hầu như phải đẩy xe từ sân Thống nhất về tới nhà ở khu Kiến thiết quận Phú nhuận. 

 

Lên đến lớp 10, trường tổ chức giải đá banh trong khối.  Lần đầu tiên đi đá tranh giải thật hào hứng.  Thập niên 1980 Việt Nam còn nghèo nên chúng tôi không có đồng phục.  Khi ra sân đấu, một đội mặc áo và một đội phải cởi trần.  Một hôm bốc thăm, đội lớp tôi phải cởi trần.   Mấy đứa trong lớp cứ ghẹo tôi:

 

- Bình thường nhìn da mặt thằng Long thấy trắng như con gái.  Hôm nay nó cởi trần, trắng nõn nà không chịu nổi.

 

Sở dĩ chúng bạn chọc tôi vì thường những đứa chơi thể thao có da ngăm đen và không chú tâm học chữ.  Mấy đứa học hành siêng năng thì không thích chơi thể thao.  Âu đó cũng là luật bù trừ của tạo hoá.  Tôi có lẽ người không ra người, ngợm không ra ngợm, cho nên học chữ cũng không tệ mà chơi thể thao cũng không tồi. Có một lần tôi giỡn mạnh tay với thằng bạn học ngồi cùng bàn, cô giáo môn Văn đi ngang và nhận xét:

 

- Minh Long tóc dài, da trắng nhìn giống như nghệ sĩ nhưng hành động như võ sĩ.

 

Cả một tuổi thơ ghiền đá banh, cả chơi lẫn xem, ngày rời Việt Nam đi Mỹ năm 1991, tôi gác nỗi đam mê này qua một bên vì hai lý do chính.  Thứ nhất là phải lo hội nhập với cuộc sống mới và tập trung vào việc học hành.  Thứ hai là nước Mỹ khi đó không mặn mà gì với môn thể thao này.  Tháng 5 năm 1994, một số bạn học tại Rio Hondo college rủ tôi xuống sân cỏ đá banh.  Sau bao năm không đá, chiều ngày hôm đó tôi mới chạy được hai vòng sân là thấy trời đất quay cuồng và ngồi xuống…ói một bãi to tổ mẹ rồi bỏ ra về. 

 

Cũng mùa hè năm đó, giải bóng đá thế giới được tổ chức tại Mỹ.  Niềm đam mê thức dậy trong tôi.  Rất nhiều trận đấu được diễn ra tại sân Rose bowl, cách nhà tôi chỉ 15 phút lái xe.  Tôi quyết định mua vé đi xem.  Hồi còn ở Việt Nam chỉ được xem giải bóng đá thế giới qua TV.  Bây giờ, giải diễn ra gần nhà mình ở, không đi xem thật uổng phí.  Thời đó chưa có internet, muốn mua vé phải gọi điện thoại.  Vì quá nhiều người muốn mua, ban bán vé phải tổ chức bốc thăm tên người mua và chỗ ngồi.  Tôi ghi danh cho hai vé nhưng chẳng hy vọng mua được.  Cuối tháng năm, tôi nhận được một cú điện thoại từ ban tổ chức cho biết tôi được trúng thăm mua vé cho trận bán kết.  Tôi nhảy cẫng vui mừng vì không những được mua vé mà lại là vé bán kết.  Giá cho mỗi vé là $90, một số tiền rất lớn vào thời buổi ấy.  Hai tuần sau, đang ngủ nướng vào sáng thứ bảy, một người bấm chuông đánh thức tôi dậy:

 

- Đây là hai vé xem bán kết bóng tròn thế giới của bạn.  Làm ơn ký tên.

 

Họ giao vé tận nhà và bắt tôi phải ký tên xác nhận.  Cách bán và giao vé của người Mỹ rất khác với cách ông anh tôi mua vé ở sân Thống nhất năm nào.  Đầu tháng 6, qua quảng cáo, tôi biết được vé của trận đấu vòng bảng giữa Mỹ và Romania vẫn còn nhiều và chỉ có $45 cho chỗ ngồi sau khung thành.  Tôi quyết định mua thêm vé đi xem trận này để cổ vũ cho đội Mỹ.  Trận đấu diễn ra ngày 26 tháng 6 năm 1994.  Theo chỉ dẫn trên vé, tôi lái xe đến sân trường Pasadena City College.  Xe buýt chở chúng tôi từ đó vào sân Rose bowl để giảm thiểu số xe cộ.  Phải nói không khí hôm đó thật hào hứng như một ngày hội.  Khán giả từ nhiều quốc gia khác nhau đổ về đây, ca hát và nhảy múa tưng bừng.  Ngồi trên xe buýt, tôi để ý thấy các gia đình gần Rose bowl tính tiền mỗi xe $20 nếu muốn đậu xe trên sân của họ.  Ngày hôm đó trời nắng nóng như lửa thiêu đốt. Do trận đấu diễn ra vào lúc 4 giờ chiều (không phải vì nước Mỹ thiếu điện nên không cho đá đèn mà vì ban tổ chức muốn thuận tiện cho khán giả châu Âu) làm tôi nhớ đến các trận đấu trên sân Thống nhất năm nào.  Vì nhiệt độ hôm đó là 115 độ F, rất nhiều khán giả bị ngất xỉu và ban cấp cứu làm việc tới tấp.  Rất nhiều khán giả Mỹ chẳng rành luật đá banh nên cứ cổ vũ bằng cách kêu gào các cầu thủ Mỹ “tackle” đối phương.  Trong bóng bầu dục, “tackle” là hành động vật đối phương và hợp pháp.  Bóng đá không cho phép làm điều này.  Dù được khán giả nhà cổ vũ cuồng nhiệt, đội Mỹ thua 0-1 ngày hôm đó.

 

Tác giả tại sân Rose bowl, ngày 11 tháng 7 năm 1994

 

Ba tuần sau đó tôi và ông anh đi xem trận bán kết.  Rút kinh nghiệm từ trận trước, tôi dặn ông anh mang nón và khăn tắm nhúng nước để chống nắng nóng.  Sự chuẩn bị của chúng tôi trở nên dư thừa khi chúng tôi vào đến sân Rose bowl.  Cũng rút kinh nghiệm từ những trận trước, ban tổ chức cho gắn ống phun ra các tia nước lạnh khắp nơi để giúp giảm sức nóng của nắng.  Hơn nữa, đợt gió nóng đã qua cho nên trận bán kết, dù cũng diễn ra lúc 4 giờ chiều, tương đối mát mẻ. Khi coi thể thao, tôi chỉ thích xem đội mình thích hoặc đội mình ghét.  Trận bán kết năm đó không có đội tôi thích mà cũng chẳng có đội tôi ghét cho nên bớt đi hào hứng.

 

Sau khi tổ chức giải thế giới năm đó, dân Mỹ bắt đầu chú ý đến bóng đá nhiều hơn.  TV Mỹ cũng bắt đầu chiếu các trận banh quốc nội.  Tuy nhiên, vì bận học hành và công việc, tôi chỉ xem các giải thế giới trên TV.  Đến năm 2007, tôi vào làm cho hãng Northrop ở thành phố Carson.  Qua một đồng nghiệp, tôi bắt đầu đá banh trở lại với những người làm cùng hãng này.  Cứ mỗi thứ năm hàng tuần là chúng tôi ra sân lúc 12 giờ trưa.  Vì chạy bộ mỗi ngày trước khi tham gia đá banh, tôi có đủ thể lực để chơi với các đồng nghiệp.  Dù lúc chơi đá banh trở lại tôi đã 35 tuổi nhưng tôi cảm thấy mình dẻo dai và chạy khỏe hơn khi đá ở trung học.  Hầu hết các đồng nghiệp tại Northrop đá banh với tôi đều là châu Á, gồm Tàu, Phi và Campuchia.  Năm 2009, tôi chuyển về chi nhánh của Northrop ở El Segundo.  Hàng tuần, tôi đá banh ở sân của hãng Raytheon vào các ngày thứ 3, thứ 5 và thứ 6.  Tuy sân này nằm trong khuôn viên của Raytheon, nhân viên của các hãng khác như Northrop, Boeing, TeraData đều đến đây đá banh với nhau.  Các trận đấu tại đây phải gọi là liên hiệp quốc vì có người đến từ Mễ, Ba tây, Á căn đình, Ý, Iran, Pháp.  Tôi là người Việt nam duy nhất lúc đầu.  Mấy năm sau có thêm hai người Việt Nam tham gia.  Thời gian này có lẽ là tôi chơi banh hay nhất trong đời dù thuộc loại ..lớn tuổi.  Tôi nghĩ lý do là vì chơi một tuần 3 lần cho nên thể lực dồi dào hơn cả hồi còn trung học.  Hơn nữa, chơi bóng với dân tứ xứ khắp thế giới và thấy mình đủ khả năng thi đấu với họ làm cho tôi cảm thấy hài lòng với bản thân. Nhờ đá banh đều đặn 3 lần trong tuần, khi đi thử máu, cholesterol hạ xuống dưới 200 và bác sĩ không còn hăm dọa bắt uống thuốc. 

 

Tác giả (áo xanh) đang đá banh cùng các đồng nghiệp tại El Segundo năm 2018

 

Đang trong thời kỳ đá banh sung mãn nhất thì covid ập đến và chúng tôi phải ngừng đá.  Đến năm 2022 thì mọi người bắt đầu đá lại vào mỗi thứ 6.  Tuy nhiên, vì tôi làm việc ở nhà cho nên đã không ra đá lại.  Đến hè năm 2023, tôi ghi danh cho con trai chơi bóng rổ tại thành phố Garden Grove. Trong một buổi chiều thứ 4, dắt con ra tập với đội, thấy các anh Việt Nam đang đá banh tại sân cỏ, cạnh trung tâm y tế Michael Dao, tôi rón rén ra xem và xin các anh cho đá ké. Mỗi thứ 4, tôi đều xỏ giày ra đá với anh em.  Sau khi nhóm này chuyển qua đá ở Chapman, tôi kiếm được một nhóm khác đá gần nhà, trên đường Newland, gần Edinger, và chuyển sang đá ở đây.  Bây giờ tuổi đời bắt đầu chồng chất, không còn chạy nhanh và lừa bóng lắt léo như trước covid, nhưng đam mê vẫn không thuyên giảm. 

 

Tác giả (bên trái) trên sân cỏ chiều thứ 7.

 

Ở Mỹ, đồ ăn dư thừa và ra đường thì đi xe hơi, ít vận động, người ta dễ bị bệnh cao mỡ, cao huyết áp, cao đường. Bù lại, nước Mỹ có nhiều công viên để mọi người có chỗ chơi thể thao cho khỏe mạnh. Hãy tận dụng những điều tốt đẹp này để gìn giữ sức khỏe. 

 

Ngày 2 tháng 6 năm 2026

Hoàng Đình Minh Long

Gặp ông Thịnh ở phi trường O’hare hôm chủ nhật tuần trước. Ông mặc chiếc áo sơ mi trắng và thắt cà vạt màu rượu chát. Mái tóc ông Thịnh nâu đen, chải ngôi giữa và xịt dày keo, không chừng mới hớt, nhuộm sáng nay nên trông ông trẻ ra - ít nhất cũng hai tuần. Dù không thân cho lắm, nhưng ông Thịnh làm nghề địa ốc, báo nào cũng thấy đăng quảng cáo hình của ông nên hầu như ông Thịnh được nhiều người biết đến. Có người gọi một cách giản dị là “Thịnh Địa Ốc” cho dễ phân biệt với một ông Thịnh khác đang làm ngành bán bảo hiểm ở đây. Tôi tiến lại chào: - Chà anh Thịnh đi đón ai mà chưng diện bảnh thế? Ông Thịnh chúm chím cười, đưa tay che một bên miệng nói nhỏ, dù chung quanh chẳng có ai. - Đón bà xã từ Việt Nam qua.
(Xem: 24)
Trước thảm trạng các di tích lịch sử của Mỹ đang bị đập phá cũng như mùa Spring Break đang tới, tôi viết bài này để kể lại những kỷ niệm mình đã có với các di tích đó và hy vọng rằng dù chúng sẽ không còn tồn tại nhưng chúng sẽ sống mãi trong tâm trí của mọi người. Theo truyền thống của trường học, con gái tôi sẽ cùng các bạn trong lớp đi tham quan thủ đô Hoa Thịnh Đốn trong vòng một tuần lễ vào tháng Tư. Qua chuyến đi này, các em sẽ được các cô giáo đi cùng dạy các bài học về lịch sử nước Mỹ. Chi phí cho mỗi học sinh là $3500. Phụ huynh nào muốn đi theo để phụ giúp cũng phải trả số tiền đó. Bà xã tính nhẩm: -Với $3500, cả nhà mình bốn người có thể đi viếng thăm Hoa Thịnh Đốn.
(Xem: 37)
Chiếc hộp quà còn trong gói giấy hoa bất thình lình rơi xuống dưới chân từ trên cao, khi tôi kiễng chân kéo chiếc giỏ lớn xếp tuốt trên đầu tủ, những đồ đạc ít khi dùng đến, chiếc hộp quà chưa mở còn được gói trang trọng bằng giấy hoa đầy những trái tim nhỏ li ti, làm tôi hết sức ngạc nhiên! Tôi cúi xuống, nhặt lên, từ từ mở ra. Chiếc vòng cổ bằng hạt ngọc trai! Tôi thử ướm lên cổ, rất vừa vặn vòng tròn cổ, màu ngọc trai sáng bóng long lanh như những giọt nước nhỏ, làm tôn vinh thêm chiếc cổ cao thon của tôi. Ủa mà món quà bất ngờ này ai đã tặng cho tôi? Hồi nào, mà sao giờ này tôi mới thấy trong chiếc túi xách cũ xưa được nhét trên nóc tủ? Tôi đã chưa hề mở ra từ bao nhiêu năm nay! Một tờ giấy nhỏ ngả vàng gấp đôi được đặt dưới đáy chiếc hộp vuông nhỏ, dưới chiếc vòng ấy: “Think of me in the times to come” BC, Feb 1990.
(Xem: 49)
Có những mất mát đi qua chiến tranh không bao giờ khép lại, chỉ lắng xuống trong ký ức của những người còn sống. Từ một người con có cha mất trong trại cải tạo năm 1979, đến hành trình chăm sóc người mẹ suốt 20 năm với căn bệnh Alzheimer, và một mái gia đình được gìn giữ trên đất nước Hoa Kỳ, câu chuyện này không chỉ là hồi ức cá nhân, mà còn là lát cắt của một thế hệ đã đi qua biến động và tìm được nơi định cư an lành. Có những câu hỏi, người ta mang theo suốt đời mà không cần một câu trả lời. “Giọt lệ biết làm sao ngưng” với tôi không chỉ là tên một bài viết, một cuốn sách, mà là một trạng thái của đời sống, một dòng chảy âm thầm của ký ức và cảm xúc, đi qua năm tháng mà không bao giờ thật sự dừng lại. Cuộc đời của một con người đôi khi không được đo bằng những gì đạt được, mà bằng những gì đã mất đi và những gì còn giữ lại sau tất cả.
(Xem: 17)
(Viết theo lời kể của một người – Tên nhân vật và địa danh đã được thay đổi) Cái tên Lũ như một lời nguyền định mệnh vận vào đời cô ngay từ lúc chào đời. Vào một đêm tối trời năm ấy, Cao Bằng chìm trong thác lũ, mưa to, gió lớn, bão bùng, nước từ thác núi đổ xuống cuốn trôi tất cả sản nghiệp của cái bản làng vốn đã nghèo xơ xác. Vì hoảng sợ, người mẹ trẻ bỗng trở dạ sinh non. Xóm làng ngập trong biển nước, nhà nhà kêu cứu, người người khóc than. Bà mẹ miền núi một mình sinh con, tự dùng miếng lạt tre cắt rốn cho bé gái. Và cái tên “bé Lũ” được đặt cho cô như để ghi dấu ngày cả xã bị thiên tai. Lũ lớn lên giữa đại ngàn, mang vẻ đẹp thoát tục của đóa hoa lê rừng, nhưng tâm hồn lại chứa đựng cả một đại dương u uẩn và mầm mống nổi loạn. Hàng ngày sau giờ học chữ, Lũ mang gùi lên rẫy cuốc đất trồng khoai cùng cha mẹ, nhưng trong thâm tâm cô gái vùng cao luôn ước mơ về một chân trời xa lạ. Do đó về sau, cuộc đời cô là một chuỗi những chuyến thiên di đẫm máu và nước mắt.
(Xem: 30)
Ngày đó, nhà chỉ có hai mẹ con. Họ cô đơn và nghèo lắm. Mẹ Na làm đủ thứ việc lặt vặt ở một thị trấn ven biển miền Trung: phụ bếp cho quán ăn, rồi về vá đồ thuê, nhận thêm hàng gia công. Mẹ làm không ngơi tay. Tiền kiếm được không nhiều, nhưng mẹ luôn cố gắng xoay xở để bữa cơm có chút thịt cá cho con gái. Con bé tên Nghi, gầy và kén ăn vô cùng. Mẹ vẫn hay trêu: Con nhà lính, tính nhà quan. Nghi không thích rau, cũng chẳng mặn mà với trứng. Thứ nó thích nhất là thịt - thịt gà, thịt cá, càng nạc càng tốt. Mỗi lần ăn, Nghi thường lật qua lật lại bát cơm, gắp rất chậm, như thể sợ miếng thịt biến mất. Bởi vì mười bữa ăn thì có đến bảy bữa trứng - đủ loại trứng: kho, chiên, hấp…
(Xem: 36)
Tí đang ngồi học trong phòng, má gõ cửa phòng Tí: - Tí ơi, má nói chuyện với con một chút, được không? Tí ngồi nơi bàn học, má bước vào ngồi bên mép giường, má nói: - Thời gian qua, con biết má thường đi khám bệnh, làm các xét nghiệm, má có nói khi nào xong thì báo cho con biết, nên bữa nay má nói … Tí gật đầu, chờ đợi, má ngập ngừng: - Má mới có kết quả biopsy, bác sĩ kết luận là Breast Cancer. Tí nhìn má, lo lắng, má vội nói: - Nhưng cũng may mắn là ở giai đoạn 2, không đến nỗi nguy hiểm. Đầu tuần sau má sẽ được mổ ở bệnh viện dưới phố, lúc 7 giờ sáng. - Vậy để con nghỉ học buổi sáng đưa má đi.
(Xem: 22)
Hôm nay trong giờ ăn trưa ở công ty Chi đến ngồi cạnh Hân mắt hoe đỏ chìa cái phone cho Hân. “Chị ơi, dạy em làm đơn xin nghỉ phép một tháng để về Việt Nam. Mẹ em mất rồi.” Chi nhỏ giọng tiếng nói nghẹn trong cổ. “Trời, thật sao em…” Hân thảng thốt. Chi gật đầu nước mắt thi nhau lăn dài xuống má. Hân nắm tay Chi siết nhẹ như để chia sẻ nỗi đau vô cùng lớn ấy. Nhìn Chi thút thít giọt vắn giọt dài ký ức Hân ùa về cái ngày đau lòng như vậy của chính mình sáu năm trước. Hôm ấy Hân đang làm nails cho khách, điện thoại sáng đèn hiện lên tin nhắn “Chị ơi má mất rồi.” Hân bàng hoàng chạy vội ra sau tiệm gọi về nhà, lúc ấy ở Việt Nam 12 giờ khuya. Mẹ Hân đã được nhập viện ba hôm rồi, bệnh già thôi tưởng sẽ qua khỏi như những lần trước, nhưng rồi… Giọng em gái đẫm nước mắt: “Hu hu má đi rồi chị ơi, bệnh viện đang làm giấy tờ để mang xác má về nhà, huhuhu…” Hân cố bình tĩnh: “Gắng lên em, để chị thu xếp về ngay, em lo công việc đi, chị gọi lại sau nhe, bye,”
(Xem: 18)
Những đêm cuối tháng Tư, tôi không ngủ được. Trời bên ngoài yên tĩnh, nhưng trong lòng tôi lại xao động với những âm thanh của quá khứ. Tiếng còi xe năm nào chạy vội. Tiếng người gọi nhau giữa phố hoang mang. Và tiếng thở dài não lòng của ba trong đêm vắng. Đã trên 50 năm mà như mới hôm qua. Tôi năm nay bảy mươi lăm tuổi. Tóc đã bạc gần hết. Bạn bè cùng thời nhiều người đã ra đi. Có đứa ở lại quê nhà. Có đứa lưu lạc quê người. Riêng tôi sống những năm dài xa quê trên đất Mỹ, trong một căn nhà nhỏ bình yên. Con cái đã yên bề gia thất. Cháu ngoại cháu nội đầy đủ. Cuộc sống nơi quê người trong những ngày về hưu không giàu có nhưng an nhàn và hạnh phúc. Nhưng mỗi khi đến tháng Tư, tim tôi lại chùng xuống. Không cần ai nhắc, ký ức tự tìm về. Có những điều tưởng đã quên, nhưng thật ra vẫn còn nguyên trong lòng, nhất là trong lòng một người con đã mất cha trong trại tù cải tạo.
(Xem: 16)
Sài gòn những ngày cuối tháng Tư, không còn là Sài Gòn của những buổi chiều yên ả, không còn những quán cà phê ven đường rộn rã tiếng cười. Thành phố như nín thở, người ta nhìn nhau, không cần nói cũng hiểu trong lòng mỗi người đang nghĩ gì, tất cả cùng một nỗi lo chung, mơ hồ và trĩu nặng. Gia đình chúng tôi rời Huế cùng lúc đồng bào tỉnh Quảng Trị bỏ chạy. Vào Sài Gòn tạm trú nhà người bà con ở hẻm Phạm Ngũ Lão. Quận 1, gần chợ Thái Bình. Ông xã nhà tôi là Sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, là người bình tĩnh luôn đầy nghị lực, nhưng hôm nay tôi thấy ông lộ vẻ bất an, ngồi không yên, đi lui tới trong căn phòng nhỏ, làm cho tôi thêm sốt ruột. Đêm 29 tháng Tư. Anh bạn cùng đơn vị với ông xã tôi ghé vào nói nhỏ: “Có tàu. Nếu đi thì đi ngay. Chần chừ không kịp đâu.” Câu nói như một nhát dao đâm vào tim. Đi… sẽ tới đâu??? Không đi … gia đình người lính bại trận sẽ thế nào??? Tôi ôm chặt đứa con trai hai tuổi, mồ hôi toát ra, vì căng thẳng, vì lo sợ.
(Xem: 8)
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.