Hôm nay,  

Cao Thủ Tứ Sắc

19/06/202600:00:00(Xem: 1104)

tu-sac-2
Hình ChatGPT
  
Như tên gọi, tứ sắc gồm những quân bài có tên: tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã, và chốt. Mỗi thứ có bốn màu: vàng, đỏ, xanh, trắng, mỗi màu có 4 con. Như vậy mỗi bộ tứ sắc có 112 quân bài và bốn người chơi. Đây là môn bài dân gian rất phổ biến, nhất là ở Huế, nhưng lại là một trong những môn khó chơi nhất vì rất nhiều quy luật tỷ mĩ không thể kể hết ở đây.

Phải đủ bốn người mới đủ để gầy sòng tứ sắc.Thời đó ở vùng quê VN dĩ nhiên chưa có điện thoại, cell phone thuận tiện gọi tiếng là có như bây giờ, vì vậy muốn ráp sòng việc đầu tiên phải có người chạy từ đầu đến cuối xóm, đến từng nhà rủ rê hẹn hò. Nhà ông tôi luôn là địa điểm lý tưởng nhất để gầy sòng vì có phòng khách rộng rãi mát mẻ, và nhất là có hai người làm túc trực để sai bảo. Đang chơi ai cần ly nước chè, hay vấn giùm điếu thuốc Cẩm Lệ, vv… đều được phục vụ chu đáo.

Trải chiếu: Không rõ những nơi khác thế nào, nhưng người Huế thích ngồi chơi dưới đất, vì vậy phải có người… trải chiếu. Ngặt nỗi như một định mệnh nào đó, người trải chiếu hôm đó thường sẽ thua. Ông tôi là chủ nhà nhưng không bao giờ chịu trải chiếu. Để không ai chịu thiệt, tôi luôn được chọn làm nhiệm vụ thiêng liêng này.

Nhưng đó chỉ mới khởi đầu. Một cuộc tứ sắc là một thế chiến với rất nhiều hỷ nộ ái ố mà tôi có nhiệm vụ phân giải. Đơn cử một vài diễn biến thông thường nhất:

Chia bài: Luật tứ sắc ai tới ván trước phải chia bài cho mọi người ván sau. Đây không phải việc dễ dàng với những ôn mệ tuổi già mắt kém. Chia cho bốn người, mỗi người hai mươi cây (nhà cái thì hăm mốt). Chia phải  đúng, ai thừa hay thiếu một cây phải xóa bài chia lại, tốn thêm nhiều thì giờ. Chưa hết, mấy mệ đa số nhỏ người tay ngắn, chia bài phải cực nhọc mới rướng tới người đối diện, lại thêm lớn tuổi bàn tay không vững vàng nên lúc chia thỉnh thoảng vụng về làm rớt bài xuống chiếu là chuyện thường. Nhiêu khê vậy đó thì tiếc chi không chi cho thằng nhóc tui vài đồng là hắn lãnh nhiệm vụ chia bài giùm. Bảo đảm chính xác trăm phần trăm, gọn gàng và mau lẹ. Các ôn mệ mặc tình chơi liền tay, không cần ngưng nghĩ.

Bốn người trong sòng kể cả ông nội tôi, mấy người kia cũng sàng sàng sáu bảy mươi cả rồi, ngồi tý là có người muốn… ra ngoài. Các vị đã già cả, mấy nhà xí ngày xưa ở quê đều ở ngoài vườn sau và khá xa, đi đến, xong việc, và trở lại tốn một thời gian không ít trong khi cuộc chiến đang hồi hấp dẫn, không lẽ ngưng lại ngồi chờ? Mà đâu chỉ một người? Cả bốn người đều lần lượt phải ra ngoài, như vậy thời gian sát phạt thì ít, mà chờ nhau mới nhiều.

No problem. Không sao hết. Các ông bà chú bác không phải chờ đợi gì cả bởi vì đã có nhóc tui thế chỗ chơi giùm cho vài ván. Đúng vậy, sau bao ngày ngồi chầu rìa học hỏi, và nhứt là chắc có thiên phú cờ bạc nên chẳng mấy chốc tôi đã thành một cao thủ tứ sắc không thua kém ai, và rất công bằng với tất cả mọi người. Mỗi lần thế chỗ cho ai là chơi hết mình, không hề có chuyện nhân nhượng hay thiên vị ai, nhất là rất có tinh thần trách nhiệm, chơi đàng hoàng tính từng nước một như đang chơi tiền của mình vậy. Có lần tôi thế chỗ bà kia ngồi tay trên ông nội đánh rát quá làm ông than:“Cha mi. Có phải tiền mi mô mà mi đánh dữ rứa?” Đó, ngay cả ông nội mà tôi cũng không hề nương tay chút nào nũa là!

Ngoài việc thế chỗ chơi giùm vài ván, tôi còn nhiệm vụ khác không kém phần quan trọng, đó là được mấy ông bà tin cậy cho làm trọng tài phân xử:

Như đã nhắc đến ở trên, tứ sắc là môn bài khó chơi vì luật lệ, cao thấp hơn thua nhau rắc rối vô cùng. Cùng là rác lẽ phải đánh ra, nhưng con nặng con nhẹ khác nhau. Con gối đầu, con trong bụng cũng phải tính nặng nhẹ. Đánh ra không đúng luật, để người khác tới, phải đền cho cả làng. Biết vậy, nhưng cao thủ tứ sắc vẫn sẵn sàng chơi phá luật để tranh lợi thế giành phần thắng. Có câu “Không vào hang cọp sao bắt được cọp con” là vậy. Xui xẻo bị cọp vồ thì chịu. Chơi tứ sắc cao thấp là ở đây.

Mấy cụ nhà mình coi vậy chứ bướng lắm. Đánh quân bài không đúng bị người khác tới, đền rõ ràng mà vẫn cứ cãi bướng. Thực ra không phải mấy cụ muốn bướng mà vì lớn tuổi nên mù mờ lẫn lộn. Hơn nữa luật tứ sắc nhiều khi có thể sửa đổi chút ít tùy sòng, nhưng phải giao trước mới được. Mấy cụ hay cãi “Tui chơi chỗ tê như ri không đền”. OK, sòng đằng tê không đền,nhưng sòng ni… thì đền mệ ơi, vì chưa giao. Trong trường hợp này, tôi là trọng tài công bình, thiết diện vô tư như Bao Công. Tôi xử thua là thua, đền là đền, không ai cãi hết.

…

Qua Mỹ, tôi cũng có vài dịp điều binh khiển tướng như ngày xưa, chủ yếu là hầu tiếp mấy vị cao niên tiền bối cho họ vui, không tính ăn thua gì cả, nhưng cũng có một lần làm nhớ hoài.

Bữa đó nhân ngày Tết tôi đến nhà cô bạn gái người Huế mới quen chơi, gặp lúc nhà cô đang có 3 tay tứ sắc đang ngồi chờ người thứ 4 tới đủ bộ ráp sòng, nhưng người đó điện thoại nói xe hư không đi được. Có khổ không. Chỉ ba tay đâu thể lập sòng dù cơn ghiền đang đến? Lớ ngớ thế nào tôi vô tình nói mình cũng biết chơi. Vậy là họ mừng như bắt được vàng, nài nỉ tôi ráp sòng cho đủ số bốn người. Mình đang cua con cháu họ, đâu dám chối từ! Vả lại nàng cũng… gật đầu OK, còn lý do gì từ chối nữa.

Cao thủ tứ sắc một thời vậy mà bữa đó thua te tua!

Mèn ơi, cao thủ tới đâu mà bắt ván nào cũng cỡ chục con rác thì có Độc Cô Cầu Bại của ông Kim Dung cũng… đứt chến, nói gì tôi.

Hmmm…!

Tại sao gọi “đứt chến”?

Mỗi sòng tứ sắc khi mới nhập cuộc, không phải ai muốn ngồi đâu thì ngồi, mà phải bốc thăm, trúng màu nào phải ngồi vị trí màu đó, không được tranh cãi. Nhưng vấn đề là gặp chỗ xui xẻo không lẽ cứ bắt một người phải ngồi một chỗ cố định suốt cuộc chơi hay sao? Bất công. Cho nên mới có danh từ “chến” ra đời.

Chến là bốn người bắt đầu chơi cùng bỏ ra một số tiền như nhau gọi là “đậu chến”. Chơi đến khi một người bị thua hết số tiền bỏ ra đó thì gọi là “đứt chến”. Chến bài kết thúc.

Chến kết thúc nhưng cuộc chơi dĩ nhiên vẫn tiếp diễn, bắt đầu đậu chến mới, bốn người lại bốc thăm chọn chỗ lại. Việc này như đã nói ở trên, để người nào đó bốc thăm nhằm chỗ xui xẻo chến trước có cơ hội đổi chỗ khác. Còn nếu đã bốc thăm lại mà vẫn cứ phải bị ngồi chỗ cũ thì đúng là… ý trời.

Như vậy một buổi họp mặt tứ sắc có thể có nhiều chến tùy theo chơi lâu hay mau, và chỗ ngồi cũng thay đổi liên tục. Đứt một chến chưa chắc đã thua bởi vì có thể gỡ lại những chến sau. 

Bữa đó tôi nhớ đứt liên tiếp hai chến.dù đã đổi chỗ..

Thua cháy túi, nhưng ra về tự an ủi thôi thì đen bạc đỏ tình!

Ai ngờ tình cũng… đứt chến nốt!

Mấy tháng sau không biết vì duyên cớ chi tôi và nàng Huế cũng chia tay. Ta nói khi vận đen đến thì tình tiền gì cũng theo làn gió cuốn bay xa.
 
ThaiNC 

Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
Hôm ấy đất trời quang đãng, bầu trời Colorado trong xanh như thể chưa từng xanh như thế, mây trắng lững lờ trôi trùng trùng vô tận, thảo nguyên mênh mông bát ngát.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.