Hôm nay,  

Cái Đồng Hồ Quả Quít

8/7/202600:00:00(View: 775)

Đồng hồ
Dĩ vãng như một cuốn phim quay chậm của mấy mươi năm về trước. Nhàn nhớ Nhàn mua tặng Hoàng chiếc đồng hồ này vào ngày sinh nhật của anh và anh thích lắm, luôn luôn bỏ vào trong túi, ngay cả túi áo nhà binh. Ảnh: OpenAI.

Chỉ có giữa nhà mình với nhà con hay mang thức ăn sang cho nhau mà tự dưng mất một cái nắp nồi. Tìm mãi cả hai bếp vẫn không ra. Chị của Nhàn bảo, cứ đo cái miệng nồi rồi ra tiệm Goodwill, cái gì cũng có hết.

Nhàn nghe chị, đi Goodwill vào ngàyThứ Sáu, vì nghe nói Thứ Sáu lại được bớt 20% cho người trên 60 tuổi (Nhàn cười, nói khẽ một mình: 60 tuổi à? Dư sức qua cầu!)

Vào đây như lạc vào mê cung, cả một gian nhà to như cái nhà kho khổng lồ, thượng vàng, hạ cám không thiếu thứ gì làm Nhàn hoa cả mắt: Quần áo cũ, giầy dép, chăn nệm, bàn ghế, sách vở, băng nhạc, nồi xoong, máy móc… không thiếu một thứ gì. Ngay cả đồ chơi cho em bé cũng có.

Nhàn lang thang ở chỗ xếp đồ bát đĩa, nồi xoong. Cầm lên bỏ xuống, chưa thấy cái nắp nào đúng tầm cái nắp nồi nàng muốn tìm, đi loanh quanh sang cả chỗ để bát đĩa, ấm, chén trà… cầm lên, bỏ xuống thấy cái nào cũng đẹp. Hình như mấy bộ đồ trà này của các cụ già qua đời, các con đem cho đi. Nhàn cầm lên một cái chén kiểng nhái theo kiểu chén cổ của Tàu đời xưa, men chén mỏng, hoa văn tinh tế, nàng áp cái miệng chén vào tai mình nghe u..u… như tiếng gió từ thật xa thổi tới, Nhàn khẽ rùng mình, bỏ xuống. Một nỗi buồn thật nhẹ thổi qua lồng ngực Nhàn, Nhàn biết đó là “Tiếng thời gian”.

Cứ thế Nhàn chưa mua được cái nắp nồi nào mà vẫn lang thang trong tiệm vì thấy hấp dẫn quá… Đi một vòng Nhàn dừng lại ở kệ bán:  Radio, Đĩa nhạc, Đồng hồ để bàn, Đồng hồ treo tường… Ôi thôi! Không thiếu thứ gì, Nhàn tò mò cầm lên, ngắm nghía rồi bỏ xuống, định sang dãy kế bên thì mắt Nhàn bỗng chạm phải cái đồng hồ “quả quít” nằm khiêm tốn bên cạnh một cái đồng hồ để bàn và một cái Radio cũ kỹ. Tim Nhàn bỗng đập mạnh trong lồng ngực. Nhàn giơ tay chạm nhẹ vào cái đồng hồ, chưa dám cầm hẳn lên, một luồng điện rất nhẹ nhưng rất rõ ràng chạy từ mấy ngón tay nàng lên thẳng trái tim. Nhàn nhắm mắt lại co mấy ngón tay của mình lại như ôm lấy cái đồng hồ.


Nhàn nói trong cuống họng: “Sao nó lại nằm đây? Nó phải nằm với anh trong nghĩa trang ngày hôm đó chứ?” Nhàn nhớ rất rõ là người anh chồng của Nhàn đã để tấm hình của Nhàn và cái đồng hồ này trên nóc áo quan của Hoàng ngày hôm đó và Nhàn đã chứng kiến những xẻng đất hất lên nóc áo quan che khuất tấm hình Nhàn cùng với chiếc đồng hồ quả quýt này, nó đã được chôn cùng với Hoàng.

Dĩ vãng như một cuốn phim quay chậm của mấy mươi năm về trước. Nhàn nhớ Nhàn mua tặng Hoàng chiếc đồng hồ này vào ngày sinh nhật của anh và anh thích lắm, luôn luôn bỏ vào trong túi, ngay cả túi áo nhà binh.

Nhàn cầm chiếc đồng hồ lên ngắm nghía, càng ngắm càng thấy đúng là chiếc đồng hồ của nàng mua cho Hoàng, lật mặt sau của chiếc đồng hồ lên Nhàn thấy hai chữ H và N khắc cạnh nhau rõ ràng. Một hơi lạnh chạy dọc theo xương sống Nhàn, Nhàn như nghẹn thở, nước mắt ứa ra ràn rụa… Nhàn vội lấy tay quẹt nhanh lên mặt, sợ ai nhìn thấy.

Nhàn cầm chiếc đồng hồ chạy nhanh ra quầy trả tiền, quên luôn cả việc đi mua cái nắp nồi.

Nhàn vào xe, cầm chiếc đồng hồ quả quít trên tay, nước mắt Nhàn ràn rụa như mưa, Nhàn khóc như chưa bao giờ được khóc. Nhàn nhớ lại nụ cười của Hoàng hôm được “người yêu” tặng cho cái đồng hồ quả quýt. Nhàn nhớ nụ hôn của anh đặt trên trán nàng khi nói “Cám ơn em”.

Nhàn tỉnh dậy, thấy hai bên thái dương mình hình như ươn ướt, với tay lấy cái phone xem giờ. 10 giờ sáng rồi, sao mình dậy trễ thế nhỉ!

Hình như, hôm nay là thứ sáu, mình còn phải ra Good Will mua cái nắp nồi.

tmt
Viết cho ngày 30- 7-2026 (57 năm Cung mất)
 

Dù trận đấu chưa diễn ra, họ đã biến phòng ăn chật hẹp thành một lễ hội đường phố thu nhỏ. Họ mang theo tinh thần hoang dại, rực lửa, giăng cờ, ca hát và hò reo cổ vũ vô cùng náo nhiệt. Nhìn nhóm Brasil nhuộm vàng cả một góc phòng, tôi hiểu rằng họ có thể chia rẽ vì nhiều thứ, nhưng khi khoác lên mình màu áo biểu tượng quê hương, họ là một thể thống nhất.
Như tên gọi, tứ sắc gồm những quân bài có tên: tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã, và chốt. Mỗi thứ có bốn màu: vàng, đỏ, xanh, trắng, mỗi màu có 4 con. Như vậy mỗi bộ tứ sắc có 112 quân bài và bốn người chơi. Đây là môn bài dân gian rất phổ biến, nhất là ở Huế, nhưng lại là một trong những môn khó chơi nhất vì rất nhiều quy luật tỷ mĩ không thể kể hết ở đây. Phải đủ bốn người mới đủ để gầy sòng tứ sắc.Thời đó ở vùng quê VN dĩ nhiên chưa có điện thoại, cell phone thuận tiện gọi tiếng là có như bây giờ, vì vậy muốn ráp sòng việc đầu tiên phải có người chạy từ đầu đến cuối xóm, đến từng nhà rủ rê hẹn hò. Nhà ông tôi luôn là địa điểm lý tưởng nhất để gầy sòng vì có phòng khách rộng rãi mát mẻ, và nhất là có hai người làm túc trực để sai bảo. Đang chơi ai cần ly nước chè, hay vấn giùm điếu thuốc Cẩm Lệ, vv… đều được phục vụ chu đáo.
Năm giờ sáng. Bàn viết vẫn trống. Tôi nhìn tờ giấy trắng dưới ánh đèn vàng như nhìn vào miệng hố sâu. Ngoài cửa sổ, Manhattan vẫn chưa tỉnh hẳn. Từ căn studio tầng sáu này, tôi nghe thấy tiếng xe rác nghiến bánh trên phố Mott, ai đó la hét bằng tiếng Quảng Đông ở góc phố. Ba mươi hai tuổi. Sáu năm bỏ luật khoa. Bốn năm làm phụ bếp để trả tiền thuê. Hai năm gửi truyện không ai nhận.
Có nhiều lần bà giải thích với các cháu là mình phải tự mình niệm phật, như tự độ cho mình, lúc còn có thể hiểu kẻo khi già yếu quá, lưỡi líu lại, không nói thành tiếng nữa chúng tôi nắm tay già nua của bà thưa rằng khi bà yếu quá dĩ nhiên tụi cháu niệm phật dùm bà hoặc sẽ có ban độ niệm tiếp tục bà đừng lo lắng…Bà tôi cười hiền: mình lo cho mình yên trí hơn người khác làm dùm mình… vả lại ban hộ niệm có tới niệm phật giúp, thì mình cũng may ra có 2,3 phần cứu rỗi… còn lại 7,8 phần là công đức phước đức của người niệm… bà còn lý giải xa hơn: các con ơi, cây sẽ đổ nằm về phía nó đã chọn nghiêng. Bà tôi cũng lý giải xa xôi bóng bẩy mà có lúc chúng tôi chỉ có thể hiểu lơ mơ lờ mờ…
Những nét vẽ ngoằn ngoèo, bí ẩn, màu vàng nâu đậm trên hai cánh tay trần của những cô bạn người Ả Rập mỗi khi họ về nước thăm gia đình và quay trở lại sở làm, những nét vẽ huyền bí ấy cứ thu hút ánh mắt tôi, tự hỏi không biết những hình vẽ ấy thể hiện điều gì, hay chỉ là nghệ thuật thôi? Ghislaine, cô bạn thân người Ả Rập làm cùng phòng giải thích: Mỗi người có một tên khác nhau, người vẽ sẽ dựa vào tên, ngày sinh và tính cách của mình mà vẽ, mỗi kiểu đều khác nhau, biểu tượng cho niềm vui, tình yêu, sự sung túc và câu chúc phúc cho người đó, ví dụ hình vẽ tròn, mandala nói lên sự trọn vẹn; những nét vẽ vươn lên như những sợi dây leo, ý nói hy vọng, phát triển đến sự thành công; vẽ con mắt, hình học là sự trừ khử những điều xấu, xui xẻo của cuộc đời. Hình vẽ ấy được gọi là Henna, người phụ nữ Ả Rập rất tin vào nét vẽ bói toán Henna này như bùa hộ mệnh của mình, không những là nét đẹp văn hóa, tín ngưỡng mà còn là thời trang nữa.
Trong tĩnh lặng của bóng đêm, tôi tỉnh dậy. Tôi đi qua phòng ngủ của chồng, tôi thấy anh trăn trở trong giấc ngủ, hơi thở nặng nề. Tội nghiệp anh, mấy hôm nay bơ phờ, đầu óc thất tán, ai bảo ăn thì ăn, bảo làm thì làm. Chẳng biết mình ăn gì và làm gì. Tôi đứng lặng nhìn anh một lúc, mái tóc thưa thớt, bạc như những sợi cước; trên khuôn mặt quen thuộc, những vết gấp của thời gian chồng lên nhau, anh thật sự đã già lắm rồi. Tôi cúi xuống, kéo chiếc chăn lên ngực anh, đặt nhẹ trên trán anh một nụ hôn, an ủi.
Rất nhiều lần, mình đã nghĩ các chú kiến này chỉ có thể là các ông tiên, bà tiên hay những “quân lính” cực kỳ tinh vi từ Vũ Trụ mới có thể “linh” như vậy. Càng thêm thương họ và biết ơn Vũ Trụ khi cho các chú kiến xuất hiện trên cõi đời, để chúng phải luôn dõi theo chúng ta từng bước và “nhặt” sạch những gì chúng ta đã vung vải, không để phí phạm bất cứ một thứ gì!
Tất cả mười đứa con đều được Mạ thương đặc biệt. Con đầu, con út tất nhiên được thương thật nhiều. Con lập gia đình trễ, hoặc có con muộn, con qua Đức chậm phải chịu phận uống nước đục, con qua Đức sớm phải xa Ba Mạ khi tuổi vừa xong trung học, con trực tiếp chăm sóc Ba Mạ… Tất cả đều có lý do để được Mạ thương thật nhiều. Riêng tôi, chẳng có lý do nào rõ ràng, nhưng tôi vẫn cảm thấy tình thương vô bờ của Mạ. Mạ thương mỗi đứa con đặc biệt, đơn giản vì bầy con là con của Mạ. Tôi cảm động rưng rưng khi anh cả nhắc chuyện ngày xưa. Anh kể, lúc tôi còn bé, Mạ thương tôi lạ lùng. Cứ trước khi đặt tôi vào trong nôi để ngủ, Mạ hun tôi không biết bao nhiêu lần. Mạ vừa ru, vừa hò: “À ơi, ru con, con ngủ cho muồi…” Tiếng hò ru con của Mạ cứ theo anh, văng vẳng trong tai mỗi khi anh nghĩ đến Mạ. Lúc đó, dù còn quá nhỏ, nhưng những lời ru ngọt ngào của Mạ đã khắc sâu vào tâm khảm tôi. Ba kể, Mạ hay nựng nịu hai đứa út song sinh, nói, ai đem núi vàng tới, Mạ cũng không đổi hai cục cưng của Mạ.
Xế trưa và cơn buồn ngủ, chập chờn tình xa mộng mị trong giọng khàn khánh ly làm sao em biết đời sống buồn tênh... ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại, như gọi từng phiến buồn rơi rất đều...
Sau nhà vợ chồng tôi có khu vườn nhỏ, cây to cây bé chen chúc vào nhau với các tàng cây đủ cao để tách thành một vòm trời riêng biệt và hoa trái tạo hương sắc quanh năm. Khách đến ai cũng thích ngồi, ai cũng khen khu vườn ấm áp. Cả chim chóc cũng kéo đến ríu rít hằng ngày. Dù sao chúng tôi vẫn yêu nhất mùa xuân, những búp lá nụ hoa căng tràn sức sống, như yêu tuổi dậy thì của chúng tôi đã bung nở giữa Sài Gòn.
VIETNAMESE REFUGEES CAMP là tấm bảng treo trước cổng trại Palawan. Bên ngoài không khác mấy trại tập trung Tuy Phong ở Phan Thiết nơi giam giữ sĩ quan Cộng hòa cấp úy, nơi gia đình tôi bị bắt giam ba tháng vì tội vượt biên. Không khác, cũng lớp lớp kẽm gai, bao cát, vọng gác với rào chắn. Chung quanh không nhà dân, không bản làng, ngút ngắt rừng xanh với một quán nước duy nhất lợp lá dừa đối diện cổng trại. Bên trong một bên là bãi đất trống sát rừng, một bên là ba gian barracks bằng gỗ ván ép che mái tôn kéo dài ra đến bãi cát đầy đá ngầm. Trại tỵ nạn Palawan lọt thỏm cuối mũi đất nhô ra biển giữa rừng quây kẽm gai, sức chứa năm ngàn người.
Người Việt Nam chúng ta vừa trải qua, ôn lại ký ức tháng 4 với đầy rẩy u buồn, đau thương và tiếc nuối kèm cả oán hận âm ỷ trong lòng. «… 30-04-1975 hàng loạt đạn pháo cuồng nộ đâm xuống biển, tung lên những cột nước cao dìm sâu xuống biển những ghe thuyền tìm cách vượt biên tìm tự do, những con tàu nhỏ, những con người vô phước trúng đạn tung tóe gỗ nát trộn thịt da, chấm dứt những tháng ngày vất vả sống với chế độ độc tài cộng sản miền Bắc tràn vô Nam…» Đúng thế, họ dựa vào thế lực và sự hậu thuẫn của bè đảng Nga Tầu, họ cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta. Họ vô nhân đạo cưỡng chiếm của cải tài sản của dân miền Nam qua hai lần đổi tiền tháng 9-1975 và tháng 5-1978. Họ đánh tư sản vơ vét của cải của dân miền Nam thu gom vào túi cán bộ và mang về miến Bắc.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.