Hôm nay,  

Chết Để Được Tự Do

11/09/202600:00:00(Xem: 767)
Die-for-freedom
Có một tiếng vọng cũ, không dễ chịu chút nào, dành cho người Việt nào còn nhớ những đợt tị nạn từng cập bến nước Mỹ, mang theo hy vọng rằng đất nước này là bến bờ mới. Họ cũng từng chấp nhận chọn cái chết để đổi lấy tự do. (Đồ họa: Việt Báo)

Buổi sáng ngày cuối cùng của tháng 8, một thanh niên 20 tuổi tên Pierre Damas Bel đậu chiếc Toyota bên xa lộ Interstate 70, ngoại ô Springfield, Ohio. Cậu bước ra khỏi xe, điềm nhiên bước thẳng vào làn xe đang lao tới.
Vài phút sau, câu chuyện của cậu xuất hiện trên khắp báo đài nước Mỹ, đất nước cậu đặt chân đến năm 2024, sum họp với cha mẹ của mình – những di dân chạy trốn nạn bạo lực băng đảng ở Haiti.

Pierre vừa tốt nghiệp trung học được vài tuần. Cậu từng là cầu thủ đội bóng đá của trường, từng được vinh danh trong chương trình JROTC, và mùa Thu này lẽ ra đã bước chân vào đại học Wright State, ấp ủ giấc mơ trở thành bác sĩ. Đầu mùa Hè này, sau khi Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ (TCPV) mở đường cho chính quyền Donald Trump chấm dứt quy chế Bảo Vệ Tạm Thời (TPS) dành cho người Haiti, cơ quan di trú gắn lên chân cậu một chiếc vòng theo dõi GPS. Cậu nói với người thân rằng nó khiến cậu cảm thấy mình như một con vật.

Vài giờ trước khi qua đời, cậu gọi video cho cha: "Cha ơi, con không ổn. Đầu óc con không tỉnh táo." Người cha bảo cậu hãy về nhà, cha con nói chuyện. Nhưng thay vào đó, cảnh sát đã đến gõ cửa, báo tin con trai ông đã lao mình dưới bánh xe tải.

Tôi đọc tin này và không thể không nghĩ đến một điều: cậu bé ấy đã vượt đại dương để tìm một tương lai. Và nước Mỹ, miền đất mà cha mẹ cậu từng tin là chốn dung thân, trả lời cậu bằng một chiếc vòng sắt quấn quanh cổ chân. Cậu đeo đến tận giảng đường đại học, sân bóng đá, trước mặt bạn bè.

Haitian Bridge Alliance, tổ chức hỗ trợ người tị nạn, đại diện cho gia đình cậu, đã nói ra điều mà rất nhiều người Haiti ở Springfield âm thầm nói với nhau suốt vài tháng qua: rằng bộ máy thi hành luật di trú của nước Mỹ đã lấy đi của Pierre Damas Bel, và những di dân Haiti, nhiều hơn là một tờ “working-permit.”

"Chính phủ chúng ta, hệ thống chúng ta, Tối Cao Pháp Viện chúng ta, tất cả đều có phần trách nhiệm trong cái chết của chàng trai trẻ này," bà Guerline Jozef, giám đốc điều hành tổ chức, lên tiếng với báo chí.

Một Cộng Đồng Sống Sót

Ngày 27/6, TCPV, nóc nhà bảo vệ Hiến Pháp Mỹ, chấp nhận cho chính quyền Trump chấm dứt TPS đối với khoảng 350.000 người Haiti, cùng một số ít người Syria, tước đi giấy phép lao động và sự bảo vệ khỏi trục xuất mà nhiều người đã dựa vào suốt nhiều năm để xây dựng một đời sống bình thường trên đất Mỹ. Rất nhiều trong số họ đã một căn nhà trả góp, một cuộc hôn nhân, những đứa con sinh ra đã là công dân Mỹ, một công việc, một cơ sở kinh doanh, một hồ sơ thuế hợp pháp.

Vài ngày sau đó, nhà thơ Marjory Wentworth, một người hoạt động cộng đồng ở Springfield, cộng tác với ba tổ chức cơ sở là G92, Haitian Support Center, và Springfield Neighbors United, nói chuyện với Việt Báo Daily News và đã kể lại cảm giác chứng kiến một sự ổn định vốn đã mong manh, phải đánh đổi bằng bao mồ hôi nước mắt, sụp đổ chỉ trong một đêm.

"Nó thay đổi tất cả mọi thứ," bà Wentworth nói, trong cuộc phỏng vấn qua Zoom. "Bao trùm ở Springfield là sự sợ hãi, hoang mang. Người ta không dám ra đường vì không ai biết khi nào ICE sẽ đến." Bà mô tả một cộng đồng đang chuẩn bị cho điều tồi tệ nhất ngay trong từng giờ. Nhóm các luật sư liên tục đón tiếp cộng đồng Haiti. Tình nguyện viên gom góp thực phẩm cho những gia đình sắp mất nguồn thu nhập. Họ chuẩn bị cả tã lót cho phụ nữ sắp lâm bồn. Người ta được dặn đừng đến tòa dù đã có lịch hẹn, vì sợ bước thẳng vào trại giam giữ. Giấy phép làm việc sẽ hết hạn ngày 1/7, sau đó sẽ bằng lái xe.

"Có người đã bắt đầu rời đi," bà nói. "Tôi không biết họ đi đâu." Còn con đường xin tị nạn, bà cho biết, cũng chẳng mang lại hy vọng gì. Những hồ sơ ấy, theo lời bà, "không còn được xử lý nhanh như trước."

Điều khiến câu chuyện từ Springfield càng thêm đau đớn là cộng đồng này đã từng sống sót qua một cơn khủng hoảng bị dựng lên từ hư cấu.

Mùa Thu năm 2024, Springfield bỗng trở thành trò cười của cả nước, sau khi một lời đồn vô căn cứ: người nhập cư Haiti bắt chó mèo của hàng xóm để ăn thịt. Nó lan từ các diễn đàn mạng, bị ứng cử viên tổng thống đảng Cộng Hòa mang lên sân khấu tranh luận tổng thống, rồi loang ra khắp thế giới.

Những gì theo sau trở thành một cuộc vây hãm thực sự. Các nhóm Tân Quốc Xã diễu hành qua phố. Thành phố hứng chịu 108 lời đe dọa đánh bom. Trường học, đại học đóng cửa. Camera giám sát mọc lên khắp nơi. Một lễ hội đa văn hóa đã lên kế hoạch từ lâu, và một dự án kể chuyện của cộng đồng di dân mà họ đã dồn bao công sức, đều phải hủy bỏ vì sợ bạo lực. "Thật sự rất đáng sợ," bà Wentworth nhớ lại, "cuộc sống người dân xáo trộn... ngay cả người phản đối di dân, vẫn phải ở nhà không đi làm, vì không thể cho con đến trường."


Nhưng từ đống đổ nát ấy, một sức mạnh nảy mầm. Những nhóm như Springfield Neighbors United và G92 ra đời trực tiếp từ cơn khủng hoảng năm 2024, dựng trên nền một Liên Minh Người Haiti đã hình thành từ năm 2022, kết nối trường học, bệnh viện và các cơ quan dân sự quanh một câu hỏi rất thực tế: người ta thật sự cần gì, và ai có thể cho họ điều đó?

"Chúng tôi biết nhau," bà Wentworth nói. "Chúng tôi đã cùng nhau đi qua rất nhiều chuyện... nhờ vậy mà chúng tôi có thể phản ứng rất nhanh."

Nhưng phản ứng nhanh không đồng nghĩa với được bảo vệ. Không ai hiểu điều đó rõ hơn chính cộng đồng Haiti ở Springfield. Thống đốc Ohio, ông Mike DeWine, nhiều lần gọi quyết định chấm dứt TPS là "một sai lầm". Thế nhưng chính bà Wentworth cũng thừa nhận bà không chắc một thống đốc tiểu bang thật sự có quyền lực gì để đảo ngược một phán quyết di trú liên bang.

Bà kể về một người bạn than, có vợ là công dân Mỹ, con gái là công dân Mỹ, mà đơn xin thường trú bị từ chối chỉ vài ngày sau khi phán quyết TPS được công bố. "Vậy họ sẽ đi đâu?" bà tự hỏi. " Nếu bạn đã dồn hết tiền tiết kiệm, đã xây dựng lại cả cuộc đời mình ở đây, thì làm sao có thể đột nhiên bỏ đi được?"

Đó chính là sự tàn nhẫn ẩn trong khái niệm "tự trục xuất" như một chính sách. Nó bắt những di dân phải “giả định” là họ có một nơi chốn để quay về. Trong khi thực tế với rất nhiều người Haiti, chẳng còn nơi nào an toàn để trở về.

"Họ không hề vi phạm luật pháp," bà nói. "Họ có việc làm. Họ có gia đình.”

Bà Wentworth mô tả người Haiti ở Springfield bằng những từ hiếm khi xuất hiện trong câu chuyện mà chính quyền hiện tại nói về họ: chăm chỉ, kiên cường, biết ơn, sự đóng góp của họ ghi là từng viên đá của trường học, nhà thờ, nơi làm việc…

“Họ có thể từ bỏ một cuộc hẹn hò với bạn bè vì phải nhận thêm công việc ngoài giờ,” bà kể. “Một người bạn của tôi vừa nhắn tin xin lỗi vì không rảnh gặp tôi, bởi anh vừa nhận thêm một ca làm. Đó chính là người Haiti," bà nói, với nụ cười cảm phục.

Bà Wentworth cũng nói về một đức tin phi thường của cộng đồng này, một sức bền tinh thần mà bà gọi gần như bất khuất. Họ mang một niềm tin vững chắc rằng dù bị vây khốn đến đâu, rồi mọi chuyện cũng sẽ qua đi trong tích cực.

Niềm tin ấy, giờ đây, đã vỡ tan, ít nhất là với một gia đình ở Clark County, Ohio.

Chết Để Có Tự Do

Cậu sinh viên năm nhất Pierre Damas Bel đã làm tất cả những gì người ta mong đợi ở một người nhập cư kiểu mẫu: học tiếng Anh, chơi trong đội bóng đá của trường, tham gia JROTC, tốt nghiệp, ghi danh đại học, ấp ủ một nghề nghiệp để chữa lành cho người khác. Câu trả lời của chính phủ là một chiếc vòng khóa quanh cổ chân cậu, một thiết bị vốn thường dùng để theo dõi một nghi phạm, mang đến lớp học, trước mặt những bạn cùng lớp cùng trường.
Chính cậu, trong những dòng chữ để lại trên mạng, đã gọi nó là nỗi xấu hổ và tủi nhục. Cái chết của cậu không phải là một bi kịch đơn lẻ, mà là điểm kết thúc của một con người khi niềm tin và y vọng sụp đổ.

Nó là hậu quả của một chính sách được xây dựng để khiến đời sống con người phải mang cảm giác tội lỗi, khốn cùng. Họ là người vô tội bị giám sát. Họ bị tước đoạt phẩm giá, bị yêu cầu "tự trục xuất.”

Cuộc nói chuyện về cộng đồng Haiti ở Spingfield hiện tại dẫn ngược về một làn sóng di dân gần nửa thế kỷ trước từ miền Nam Việt Nam. Vô tình, bà Wentworth cho biết ngày đó công việc của bà là nhân viên hỗ trợ tái định cư cho người tị nạn Việt Nam.

“Tôi đã làm việc tại tổ chức Church World Service, rất nhiều nhà bảo trợ đã tìm đến thông qua tổ chức này,” bà kể.

Có một tiếng vọng cũ, không dễ chịu chút nào, dành cho người Việt nào còn nhớ những đợt tị nạn từng cập bến nước Mỹ, mang theo hy vọng rằng đất nước này là bến bờ mới. Họ cũng từng chấp nhận chọn cái chết để đổi lấy tự do.

Ngày nay, người Haiti chạy trốn bất ổn, bị chính sách di trú Hoa Kỳ đối xử khắc nghiệt hơn so với người tị nạn từ nửa thế kỷ trước. Họ và những di dân khác đang bị chính làn sóng di dân cũ lên án, cổ súy cho chính sách đảo ngược tất cả giá trị mấy trăm năm của nước Mỹ.

Pierre Damas Bel đến nước Mỹ, như cha mẹ cậu đã đến trước cậu, để tìm tự do và một cơ hội sống một đời sống bình thường. Cuối cùng, trong một khoảnh khắc duy nhất, không thể nào chịu đựng nổi, trên xa lộ ở Ohio, cậu đã chọn cái chết, thay vì tiếp tục đối diện với những gì còn lại khi tự do đã bị lấy đi.

Và tôi, một người nhập cư, không thể đọc câu chuyện của Pierre mà không nhớ đến những chuyến tàu, những con thuyền của 40, 50 năm trước. Những người ông, người bà, người cha, người mẹ của chính chúng ta, cũng từng rời bỏ quê hương để tìm một bến bờ tự do, cũng từng được những hội thánh, những tổ chức thiện nguyện dang tay đón nhận. Chúng ta, những người Việt tị nạn, hơn ai hết, phải hiểu được nỗi sợ hãi trong ánh mắt của một cộng đồng đang chờ tiếng gõ cửa. Và có lẽ, hơn ai hết, chúng ta nợ họ một lời nói.

Kalynh Ngô

Bốn thân cây rất mảnh đứng phía trên bóng phản chiếu của chính mình, ngập ngừng như những cô gái trong giá lạnh. Nàng nghĩ đến những vần gieo cho câu “như những cô gái”. Xoay vòng qua. Ngọc trai lại mới. Có thể dùng trong một bài sonnet chăng? Mẹ Eddy sống bên hồ. Buổi chiều xám và bóng loáng như mặt kính. Trong bữa tối, mọi người chỉ nhắc chuyện xưa. Eddy nhớ lại những màn sương trắng, chầm chậm trôi qua sân trường mỗi ngày lúc năm giờ, khi nhà máy hóa chất đốt rác xốp Styrofoam; nhớ lần anh gãy xương đòn mà suốt ba ngày chẳng ai tin, còn mẹ anh ngồi đầu bàn, mỉm cười, tiếp tục ăn món trái cây trộn trong ly; người anh trai ngồi đối diện, cúi gằm mặt, một người đàn ông cao gầy như cánh cửa, khép kín như cánh cửa. Anh ăn như thể còn chờ được dọn thêm món nữa. Bốn, việc vặt, con điếm, gạch dưới. Những từ ấy vui vẻ chạy ngang đầu nàng. Nàng lẩm bẩm điều gì đó, đứng dậy khỏi bàn rồi bỏ đi. Giờ đây, bên hồ, không có ai bơi. Nàng nhìn mặt nước trượt dần từ màu đá phiến sang màu đen.
Có những cái chết chỉ xảy ra một lần, nhưng cũng có những cái chết mà người ta còn phải giết thêm nhiều lần nữa, bằng những lời giải thích, những bản tường trình, cho đến khi người chứng kiến không còn dám tin vào chính mắt mình. Viên đạn chấm dứt một đời người trong khoảnh khắc, nhưng ngôn ngữ của quyền lực có thể kéo dài cái chết ấy, biến nạn nhân thành thủ phạm, biến kẻ sát nhân thành người bị đe dọa, và sau cùng, biến sự thật thành điều mà người ta được lệnh phải nghi ngờ. Từ những trang văn của Vernon Lee cuối thế kỷ XIX đến những gì đang diễn ra trên nước Mỹ hôm nay, quyền lực không chỉ tìm cách tước đoạt sinh mạng con người mà còn muốn chiếm đoạt cả quyền diễn giải sự thật.
Hãy tưởng tượng bạn có một đứa con đang ở Trung Đông, đang mặc quân phục Hoa Kỳ, tham dự cuộc chiến Iran do Tổng thống Donald Trump phát động. Mỗi sáng, bạn mở tin tức. Mỗi tối, bạn nhìn điện thoại. Bạn chờ một lời nhắn, một giọng nói, một dấu hiệu nhỏ nhoi rằng con mình vẫn còn sống. Bạn biết giữa hai lần điện thoại reo, biết bao nhiêu chuyện có thể xảy ra. Rồi một ngày, bạn nghe vị tổng tư lệnh quân đội Hoa Kỳ tuyên bố chính ông đã quyết định nới lỏng các biện pháp trừng phạt Nga, bất chấp đạo luật được Quốc Hội thông qua và chính ông đã ký ban hành. Bạn cũng biết chính quyền Vladimir Putin đang giúp Iran trong cuộc chiến chống lại những người lính Hoa Kỳ.
Nobel Văn Chương thường là giải thưởng cao quý nhất trên thế giới cho cả sự nghiệp văn chương của cho toàn bộ tác phẩm (hoặc tác phẩm tiêu biểu) đóng góp văn chương của tác giả. Mỗi năm, Hàn Lâm Viện Viện Thụy Điển thông báo hàng ngàn đề nghị ứng cử viên được gửi đi trên thế giới. Các đề cử tác giả phải được gửi đến Hàn Lâm Viện Viện Thụy Điển trước ngày 1 tháng 2, sau đó một ủy ban sẽ xem xét các đề cử kỹ lưỡng. Từ tháng 4, giới hạn số ứng cử xuống còn khoảng 20, đến mùa hè thì chỉ còn khoảng 5 tác giả nằm trong danh sách đề cử. Các tháng tiếp theo, viện sĩ của Viện bắt đầu nghiên cứu kỹ tác phẩm của những ứng cử viên cuối cùng… Giải thưởng thường công bố vào tháng 10.
Joyce không phủ lấp người đọc chúng ta bằng những màn bi kịch. Phong cách văn học đặc trưng và độc sáng của ông nằm ở những tình tiết tinh tế, những khát khao không nói ra nhưng lóe lên trong đôi mắt của nhân vật, sự im lặng đa nghĩa đầy ẩn ý nói lên nhiều điều. Ông phân tích những tương tác xã hội với độ chính xác của một bác sĩ phẫu thuật, phơi bày tính đạo đức giả và nông cạn nằm ẩn giấu dưới lớp vỏ bọc của những ứng xử giao tiếp lịch sự.
Trong một tác phẩm cùng tựa đề, Nhà Văn Cung Tích Biền đã có lần từng ước muốn "Không nên có mặt". Tuy nhiên, như một định mệnh, ông vẫn sống, có mặt và phải chứng kiến đầy đủ mặn ngọt cuộc đời suốt hơn 90 năm như một chứng nhân của thời cuộc, của những thăng trầm, ly loạn của đất nước. Cuộc chiến Việt Nam từ giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp cho tới khi đất nước thống nhất mất 30 năm, thế mà ông văn nghiệp của ông đã kéo dài tới 65 năm. Có thể nói, ông là một nhà văn viết lâu, viết khoẻ và cũng là một chứng nhân giữa cuộc phong ba, khắc nghiệt của nước nhà. Bất kể bạn đồng ý hay không với những gì ông viết, bạn cứ đọc ông bạn sẽ hiểu rõ thân phận lạc loài của con người đứng giữa lằn ranh cuộc chiến. Bao nhiêu người bị chi phối trực hay gián tiếp trong cuộc tranh chấp máu lửa tương tàn, bị cắt đứt gốc rễ với quá khứ, không tìm thấy mục đích ở hiện tại và mơ hồ trước tương lai.
Đa số người Việt thích viết và đọc thơ tình vì khi đối diện với nghệ thuật, chúng ta thích thú bằng cảm tính. Chúng ta không mấy quan tâm về việc sử dụng học thuật để sáng tạo hoặc thưởng thức bài thơ, mà dùng học thuật sẵn có trong truyền thống như mượn thuyền sang sông. Ưu điểm là chúng ta có nhiều bài thơ tình, thơ cảm tính đặc sắc. Khuyết điểm là thơ chúng ta không theo kịp khả năng phát triển của thơ thế giới nói chung và thơ Tây phương nói riêng.
Đúng 1 giờ trưa thứ Năm, giờ Stockholm, Viện Hàn Lâm Thụy Điển công bố quyết định trao giải Nobel Văn Chương năm nay cho Anne Carson, người phụ nữ thứ 19 nhận được vinh dự này. Trong lời tuyên dương, Viện Hàn Lâm Thụy Điển vinh danh bà: “Vì sự nghiệp sáng tác táo bạo, độc đáo, qua cuộc đối thoại tài tình và dí dỏm với truyền thống văn chương cổ điển, đã khai mở những hình thức biểu đạt mới cho văn học đương đại.”
Trước tiên là chuyện cá độ văn học. Bởi vì người dám đưa tiền ra cá độ, hẳn là có lý do họ tin rất mực. Nếu nhìn vào các thị trường dự đoán và nhà cái về giải văn học trong những ngày trước mùa Nobel 2026, chưa có ứng viên nào vượt trội tuyệt đối. Nobel Văn học vẫn là giải khó đoán nhất vì Viện Hàn lâm Thụy Điển thường gây bất ngờ. Tuy nhiên, một số tên tuổi được nhắc đến nhiều nhất hiện nay.
Cầm bút để viết lên những ước mơ sẽ không còn tiếng súng trên đời này. Đó là những gì đẹp nhất một nhà văn có thể nói lên. Ngưng chiến tranh. Chúng ta tránh nói chữ “phản chiến,” một chữ quá quen thuộc có khi được dùng cho những nghĩa đen tối. Chúng ta muốn nói tới ước mơ không còn tiếng súng. Nơi đó, không ai còn phải giết nhau. Bao giờ thì biên giới sắc tộc, quốc gia và kỳ thị tôn giáo ngưng thúc đẩy nhân loại giết nhau? Bao giờ các chàng trai sẽ không còn phải chết cho tham vọng của các lãnh tụ? Bao giờ thế giới sẽ không còn các quả phụ trẻ, và bao giờ các em vị thành niên sẽ không còn phải học cách giết nhau? Trong dòng chảy văn học thế giới, những tác phẩm có giá trị bền vững nhất luôn luôn phải là văn học kêu gọi ngưng tiếng súng. Đó là những tiếng nói đứng về phía con người, không phục vụ bạo lực hay quyền lực.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.