Hôm nay,  

Chết Để Được Tự Do

11/09/202600:00:00(Xem: 56)
Die-for-freedom
Có một tiếng vọng cũ, không dễ chịu chút nào, dành cho người Việt nào còn nhớ những đợt tị nạn từng cập bến nước Mỹ, mang theo hy vọng rằng đất nước này là bến bờ mới. Họ cũng từng chấp nhận chọn cái chết để đổi lấy tự do. (Đồ họa: Việt Báo)

Buổi sáng ngày cuối cùng của tháng 8, một thanh niên 20 tuổi tên Pierre Damas Bel đậu chiếc Toyota bên xa lộ Interstate 70, ngoại ô Springfield, Ohio. Cậu bước ra khỏi xe, điềm nhiên bước thẳng vào làn xe đang lao tới.
Vài phút sau, câu chuyện của cậu xuất hiện trên khắp báo đài nước Mỹ, đất nước cậu đặt chân đến năm 2024, sum họp với cha mẹ của mình – những di dân chạy trốn nạn bạo lực băng đảng ở Haiti.

Pierre vừa tốt nghiệp trung học được vài tuần. Cậu từng là cầu thủ đội bóng đá của trường, từng được vinh danh trong chương trình JROTC, và mùa Thu này lẽ ra đã bước chân vào đại học Wright State, ấp ủ giấc mơ trở thành bác sĩ. Đầu mùa Hè này, sau khi Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ (TCPV) mở đường cho chính quyền Donald Trump chấm dứt quy chế Bảo Vệ Tạm Thời (TPS) dành cho người Haiti, cơ quan di trú gắn lên chân cậu một chiếc vòng theo dõi GPS. Cậu nói với người thân rằng nó khiến cậu cảm thấy mình như một con vật.

Vài giờ trước khi qua đời, cậu gọi video cho cha: "Cha ơi, con không ổn. Đầu óc con không tỉnh táo." Người cha bảo cậu hãy về nhà, cha con nói chuyện. Nhưng thay vào đó, cảnh sát đã đến gõ cửa, báo tin con trai ông đã lao mình dưới bánh xe tải.

Tôi đọc tin này và không thể không nghĩ đến một điều: cậu bé ấy đã vượt đại dương để tìm một tương lai. Và nước Mỹ, miền đất mà cha mẹ cậu từng tin là chốn dung thân, trả lời cậu bằng một chiếc vòng sắt quấn quanh cổ chân. Cậu đeo đến tận giảng đường đại học, sân bóng đá, trước mặt bạn bè.

Haitian Bridge Alliance, tổ chức hỗ trợ người tị nạn, đại diện cho gia đình cậu, đã nói ra điều mà rất nhiều người Haiti ở Springfield âm thầm nói với nhau suốt vài tháng qua: rằng bộ máy thi hành luật di trú của nước Mỹ đã lấy đi của Pierre Damas Bel, và những di dân Haiti, nhiều hơn là một tờ “working-permit.”

"Chính phủ chúng ta, hệ thống chúng ta, Tối Cao Pháp Viện chúng ta, tất cả đều có phần trách nhiệm trong cái chết của chàng trai trẻ này," bà Guerline Jozef, giám đốc điều hành tổ chức, lên tiếng với báo chí.

Một Cộng Đồng Sống Sót

Ngày 27/6, TCPV, nóc nhà bảo vệ Hiến Pháp Mỹ, chấp nhận cho chính quyền Trump chấm dứt TPS đối với khoảng 350.000 người Haiti, cùng một số ít người Syria, tước đi giấy phép lao động và sự bảo vệ khỏi trục xuất mà nhiều người đã dựa vào suốt nhiều năm để xây dựng một đời sống bình thường trên đất Mỹ. Rất nhiều trong số họ đã một căn nhà trả góp, một cuộc hôn nhân, những đứa con sinh ra đã là công dân Mỹ, một công việc, một cơ sở kinh doanh, một hồ sơ thuế hợp pháp.

Vài ngày sau đó, nhà thơ Marjory Wentworth, một người hoạt động cộng đồng ở Springfield, cộng tác với ba tổ chức cơ sở là G92, Haitian Support Center, và Springfield Neighbors United, nói chuyện với Việt Báo Daily News và đã kể lại cảm giác chứng kiến một sự ổn định vốn đã mong manh, phải đánh đổi bằng bao mồ hôi nước mắt, sụp đổ chỉ trong một đêm.

"Nó thay đổi tất cả mọi thứ," bà Wentworth nói, trong cuộc phỏng vấn qua Zoom. "Bao trùm ở Springfield là sự sợ hãi, hoang mang. Người ta không dám ra đường vì không ai biết khi nào ICE sẽ đến." Bà mô tả một cộng đồng đang chuẩn bị cho điều tồi tệ nhất ngay trong từng giờ. Nhóm các luật sư liên tục đón tiếp cộng đồng Haiti. Tình nguyện viên gom góp thực phẩm cho những gia đình sắp mất nguồn thu nhập. Họ chuẩn bị cả tã lót cho phụ nữ sắp lâm bồn. Người ta được dặn đừng đến tòa dù đã có lịch hẹn, vì sợ bước thẳng vào trại giam giữ. Giấy phép làm việc sẽ hết hạn ngày 1/7, sau đó sẽ bằng lái xe.

"Có người đã bắt đầu rời đi," bà nói. "Tôi không biết họ đi đâu." Còn con đường xin tị nạn, bà cho biết, cũng chẳng mang lại hy vọng gì. Những hồ sơ ấy, theo lời bà, "không còn được xử lý nhanh như trước."

Điều khiến câu chuyện từ Springfield càng thêm đau đớn là cộng đồng này đã từng sống sót qua một cơn khủng hoảng bị dựng lên từ hư cấu.

Mùa Thu năm 2024, Springfield bỗng trở thành trò cười của cả nước, sau khi một lời đồn vô căn cứ: người nhập cư Haiti bắt chó mèo của hàng xóm để ăn thịt. Nó lan từ các diễn đàn mạng, bị ứng cử viên tổng thống đảng Cộng Hòa mang lên sân khấu tranh luận tổng thống, rồi loang ra khắp thế giới.

Những gì theo sau trở thành một cuộc vây hãm thực sự. Các nhóm Tân Quốc Xã diễu hành qua phố. Thành phố hứng chịu 108 lời đe dọa đánh bom. Trường học, đại học đóng cửa. Camera giám sát mọc lên khắp nơi. Một lễ hội đa văn hóa đã lên kế hoạch từ lâu, và một dự án kể chuyện của cộng đồng di dân mà họ đã dồn bao công sức, đều phải hủy bỏ vì sợ bạo lực. "Thật sự rất đáng sợ," bà Wentworth nhớ lại, "cuộc sống người dân xáo trộn... ngay cả người phản đối di dân, vẫn phải ở nhà không đi làm, vì không thể cho con đến trường."


Nhưng từ đống đổ nát ấy, một sức mạnh nảy mầm. Những nhóm như Springfield Neighbors United và G92 ra đời trực tiếp từ cơn khủng hoảng năm 2024, dựng trên nền một Liên Minh Người Haiti đã hình thành từ năm 2022, kết nối trường học, bệnh viện và các cơ quan dân sự quanh một câu hỏi rất thực tế: người ta thật sự cần gì, và ai có thể cho họ điều đó?

"Chúng tôi biết nhau," bà Wentworth nói. "Chúng tôi đã cùng nhau đi qua rất nhiều chuyện... nhờ vậy mà chúng tôi có thể phản ứng rất nhanh."

Nhưng phản ứng nhanh không đồng nghĩa với được bảo vệ. Không ai hiểu điều đó rõ hơn chính cộng đồng Haiti ở Springfield. Thống đốc Ohio, ông Mike DeWine, nhiều lần gọi quyết định chấm dứt TPS là "một sai lầm". Thế nhưng chính bà Wentworth cũng thừa nhận bà không chắc một thống đốc tiểu bang thật sự có quyền lực gì để đảo ngược một phán quyết di trú liên bang.

Bà kể về một người bạn than, có vợ là công dân Mỹ, con gái là công dân Mỹ, mà đơn xin thường trú bị từ chối chỉ vài ngày sau khi phán quyết TPS được công bố. "Vậy họ sẽ đi đâu?" bà tự hỏi. " Nếu bạn đã dồn hết tiền tiết kiệm, đã xây dựng lại cả cuộc đời mình ở đây, thì làm sao có thể đột nhiên bỏ đi được?"

Đó chính là sự tàn nhẫn ẩn trong khái niệm "tự trục xuất" như một chính sách. Nó bắt những di dân phải “giả định” là họ có một nơi chốn để quay về. Trong khi thực tế với rất nhiều người Haiti, chẳng còn nơi nào an toàn để trở về.

"Họ không hề vi phạm luật pháp," bà nói. "Họ có việc làm. Họ có gia đình.”

Bà Wentworth mô tả người Haiti ở Springfield bằng những từ hiếm khi xuất hiện trong câu chuyện mà chính quyền hiện tại nói về họ: chăm chỉ, kiên cường, biết ơn, sự đóng góp của họ ghi là từng viên đá của trường học, nhà thờ, nơi làm việc…

“Họ có thể từ bỏ một cuộc hẹn hò với bạn bè vì phải nhận thêm công việc ngoài giờ,” bà kể. “Một người bạn của tôi vừa nhắn tin xin lỗi vì không rảnh gặp tôi, bởi anh vừa nhận thêm một ca làm. Đó chính là người Haiti," bà nói, với nụ cười cảm phục.

Bà Wentworth cũng nói về một đức tin phi thường của cộng đồng này, một sức bền tinh thần mà bà gọi gần như bất khuất. Họ mang một niềm tin vững chắc rằng dù bị vây khốn đến đâu, rồi mọi chuyện cũng sẽ qua đi trong tích cực.

Niềm tin ấy, giờ đây, đã vỡ tan, ít nhất là với một gia đình ở Clark County, Ohio.

Chết Để Có Tự Do

Cậu sinh viên năm nhất Pierre Damas Bel đã làm tất cả những gì người ta mong đợi ở một người nhập cư kiểu mẫu: học tiếng Anh, chơi trong đội bóng đá của trường, tham gia JROTC, tốt nghiệp, ghi danh đại học, ấp ủ một nghề nghiệp để chữa lành cho người khác. Câu trả lời của chính phủ là một chiếc vòng khóa quanh cổ chân cậu, một thiết bị vốn thường dùng để theo dõi một nghi phạm, mang đến lớp học, trước mặt những bạn cùng lớp cùng trường.
Chính cậu, trong những dòng chữ để lại trên mạng, đã gọi nó là nỗi xấu hổ và tủi nhục. Cái chết của cậu không phải là một bi kịch đơn lẻ, mà là điểm kết thúc của một con người khi niềm tin và y vọng sụp đổ.

Nó là hậu quả của một chính sách được xây dựng để khiến đời sống con người phải mang cảm giác tội lỗi, khốn cùng. Họ là người vô tội bị giám sát. Họ bị tước đoạt phẩm giá, bị yêu cầu "tự trục xuất.”

Cuộc nói chuyện về cộng đồng Haiti ở Spingfield hiện tại dẫn ngược về một làn sóng di dân gần nửa thế kỷ trước từ miền Nam Việt Nam. Vô tình, bà Wentworth cho biết ngày đó công việc của bà là nhân viên hỗ trợ tái định cư cho người tị nạn Việt Nam.

“Tôi đã làm việc tại tổ chức Church World Service, rất nhiều nhà bảo trợ đã tìm đến thông qua tổ chức này,” bà kể.

Có một tiếng vọng cũ, không dễ chịu chút nào, dành cho người Việt nào còn nhớ những đợt tị nạn từng cập bến nước Mỹ, mang theo hy vọng rằng đất nước này là bến bờ mới. Họ cũng từng chấp nhận chọn cái chết để đổi lấy tự do.

Ngày nay, người Haiti chạy trốn bất ổn, bị chính sách di trú Hoa Kỳ đối xử khắc nghiệt hơn so với người tị nạn từ nửa thế kỷ trước. Họ và những di dân khác đang bị chính làn sóng di dân cũ lên án, cổ súy cho chính sách đảo ngược tất cả giá trị mấy trăm năm của nước Mỹ.

Kalynh Ngô

Pierre Damas Bel đến nước Mỹ, như cha mẹ cậu đã đến trước cậu, để tìm tự do và một cơ hội sống một đời sống bình thường. Cuối cùng, trong một khoảnh khắc duy nhất, không thể nào chịu đựng nổi, trên xa lộ ở Ohio, cậu đã chọn cái chết, thay vì tiếp tục đối diện với những gì còn lại khi tự do đã bị lấy đi.

Và tôi, một người nhập cư, không thể đọc câu chuyện của Pierre mà không nhớ đến những chuyến tàu, những con thuyền của 40, 50 năm trước. Những người ông, người bà, người cha, người mẹ của chính chúng ta, cũng từng rời bỏ quê hương để tìm một bến bờ tự do, cũng từng được những hội thánh, những tổ chức thiện nguyện dang tay đón nhận. Chúng ta, những người Việt tị nạn, hơn ai hết, phải hiểu được nỗi sợ hãi trong ánh mắt của một cộng đồng đang chờ tiếng gõ cửa. Và có lẽ, hơn ai hết, chúng ta nợ họ một lời nói.

Đàn ông đòi hỏi gì ở phụ nữ? Những nét đặc trưng của Ham Muốn được Thỏa Mãn.Phụ nữ đòi hỏi gì ở đàn ông? Những nét đặc trưng của Ham Muốn được Thỏa Mãn. William Blake không đặt câu hỏi rộng, ông giới hạn lại trong cụm từ “đặc trưng,” Trong câu thơ của Blake, "the lineaments of Gratified Desire" được dịch là "những nét đặc trưng của ham muốn được thỏa mãn". Từ "lineaments" trong tiếng Anh vốn nghĩa gốc là những đường nét trên khuôn mặt, những đặc điểm hình thể có thể nhìn thấy được, giống như khi ta nói "gương mặt có những đường nét thanh tú". Blake không nói ham muốn được thỏa mãn một cách trừu tượng, mà nói đến những dấu vết cụ thể, có thể nhìn thấy được trên gương mặt hay dáng vẻ của một người, khi ham muốn của họ đã được đáp ứng. Và từ neo là “đòi hỏi.” Đòi hỏi là nhu cầu, không phải ước mơ, không phải là cầu xin. Điều này cho rõ là đàn ông và phụ nữ cần nhau vì có nhu cầu đòi hỏi Blake đặt câu hỏi rồi tự trả lời. Hai câu trả lời giống hệt nhau, không phân biệt nam hay nữ. Bài thơ
Buổi tối hôm đó, gió thổi nhẹ qua những hàng quán nhỏ, và trong một góc phố không mấy nổi bật, tôi thấy Jean-François Lyotard ngồi một mình trước một quán mì gói bình dân. Không phải quán fancy kiểu “mì ramen concept Japan fusion” gì cả. Chỉ là một quán lề đường với cái mái tôn lủng vài lỗ, mấy cái ghế nhựa xanh đỏ, và mùi hành phi thơm theo cách… giới hạn ngân sách.
Chiều Chủ Nhật, 23 tháng Tám, độc giả Việt Báo lâu nay quen gặp nhà văn Ngu Yên qua những bài bình luận trên trang nhất đã có dịp gặp ông “bằng xương bằng thịt” — để chuyện trò, nghe thơ, nghe nhạc, và quan trọng hơn hết, để “rước” sách ông về nhà. Từ Houston sang Nam California, Ngu Yên có một buổi ra mắt sách đông vui ngoài dự liệu. Bước lên sân khấu, nhìn hơn một trăm khách từ nhiều nơi về ngồi kín Coffee Factory, ông cảm động theo kiểu rất ‘Ngu Yên’: “Có lẽ quý vị yêu sách. Có lẽ quý vị yêu tôi, hay yêu Việt Báo. Cũng có lẽ quý vị hơi… không bình thường, khi bỏ một buổi chiều Chủ Nhật đẹp như hôm nay để đến đây ngồi nghe chúng tôi nói chuyện chữ nghĩa.” Khán phòng cười ồ. Và từ phút đó, buổi ra mắt sách không còn giống một buổi ra mắt sách ‘bình thường’ nữa. Nhà báo Đinh Quang Anh Thái dí dỏm ví đây là một “lễ rước sách.”
Bài viết này là câu chuyện về một cuộc tranh đấu khác trong chiến tranh: giữ lại bằng chứng rằng một con người đã từng sống, từng yêu, từng nhớ, trước khi họ bị xóa khỏi thế gian.
Trong cuốn hồi ký kinh điển viết về nạn khủng bố của nhà nước Sô Viết thời thập niên 1930, cuốn Hope Against Hope, bà Nadezhda Mandelstam kể lại những năm cuối cùng của cuộc hôn nhân với thi sĩ Osip Mandelstam, khi hai vợ chồng phải trốn tránh hết thành phố này đến làng mạc khác, sống nhờ lòng hảo tâm của một số ít bạn bè và người lạ can đảm, bị trục xuất khỏi căn nhà ở Mạc Tư Khoa vì bị xem là kẻ thù của chế độ. Tội trạng chính của Osip chỉ là đã đọc lên, trong một bữa tiệc, một bài thơ mà ông chưa từng viết ra giấy, càng chưa từng cho xuất bản, nhằm chế giễu Stalin và vạch trần chế độ tàn bạo của y.
Concrete Poetry hay Visual poetry, thơ Cụ Thể hay thơ Thị Giác, tôi không thể xác định, có lẽ cả hai. Nhà thơ Nguyễn Hoàng Nam là người ngắn tiểu sử. Ông xuất hiện gần như từ đầu của dòng thơ hải ngoại và từ tốn làm thơ. Không tự thắp sáng mình, cũng không tự đốt mình như một số nhà thơ đã cháy. Thoạt nhìn, thơ của ông bình thường nhưng nhìn đi nhìn lại, có thứ gì ẩn núp bên dưới chữ nghĩa hình ảnh rất khác thường, mới một cách không khoe. Ví dụ như những ngày trống, tâm tư đầy quá khiến cảm giác rỗng, ông làm, có phải thơ hay không?
Câu danh ngôn bất hủ của Edward Bulwer-Lytton, và nhìn lại lịch sử của nhân loại toàn cầu, đã chứng minh một chân lý vô song. Những đế chế hùng mạnh nhất lịch sử thế giới như Đế quốc Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo, chinh phục từ Á sang Âu, hay Đế quốc La Mã do Hoàng đế Augustus Julius Caesar chỉ huy, hùng mạnh vô địch làm ảnh hưởng cả châu Âu suốt 2.000 năm, rồi cũng lụi tàn. Nhưng những tác phẩm văn học được viết bằng máu và tâm huyết thì trường tồn vĩnh cửu.
Xin thú nhận: sẽ không lãng mạn tí nào khi nói rằng hạnh phúc là lúc chạy theo banh. Biết làm sao được, chắc chắn rằng có nhiều tỷ người trên địa cầu này đồng ý như thế, kể cả những người đã từng trải qua một thời tuổi nhỏ đã tưng bừng chạy nhảy, với trang phục quần đùi và áo thung, đuổi theo banh trên sân cỏ hay nơi các góc vỉa hè. Tôi tin rằng hầu hết, nếu không phải tất cả, người Việt Nam trong và ngoài nước đều có một số kỷ niệm thời thơ ấu với môn bóng tròn, chữ xưa còn gọi là túc cầu, bây giờ thường gọi là bóng đá. Nghĩa là, nếu bạn không từng tham dự trận banh nào, không từng mang giày và chạy ra sân, hẳn là bạn cũng từng ngồi bên sân cỏ để nhìn bằng hữu và trẻ em trong làng, trong xóm rủ nhau chạy theo banh, hay đang đưa chân nhồi banh vượt qua hàng hậu vệ của đội phòng thủ. Và khi một cầu thủ nhi đồng nào đó đưa chân sút, hẳn là bạn cũng há hốc mồm nhìn theo quả banh rồi vung tay và hú lên, dù để mừng vui hay thất vọng.
Nhân chứng chuyện gì và để làm gì? Khác với những loại nhân chứng tội phạm, xã hội, chính tri, hoặc chiến tranh, nhà thơ là nhân chứng về cái đẹp của ý nghĩa qua cái đẹp của ngôn ngữ và tạo nên giá trị đẹp. Họ “vén bức màn che giấu vẻ đẹp tiềm ẩn của thế giới, và khiến những vật thể quen thuộc trở nên như thể chúng không hề quen thuộc.” (Percy Bysshe Shelley. Poetry lifts the veil from the hidden beauty of the world, and makes familiar objects be as if they were not familiar.)
Trong mọi từ của một ngôn ngữ, có lẽ không từ nào vừa nhỏ vừa nặng như chữ tôi. Nó chỉ có một âm, nhưng mỗi lần xuất hiện trong một trang văn hay một câu thơ, nó kéo theo cả một câu hỏi chưa bao giờ được trả lời dứt khoát: ai đang nói đây. Người đọc bình thường có một phản xạ tự nhiên, là tin rằng chữ tôi trên trang giấy chính là tác giả, người có tên in ngoài bìa sách. Nhưng văn học, ngay từ buổi có ý thức về chính mình, đã liên tục phá vỡ phản xạ ấy. Cái tôi trong văn học hiếm khi đơn giản là người viết. Nó là một vai, một mặt nạ, đôi khi là một đám đông giả trang thành một người. Bài viết này thử lần theo những hóa thân ấy, từ cái tôi là chính tác giả, tới cái tôi là kẻ khác, tới cái tôi tập thể mà Annie Ernaux đã đẩy tới tận cùng, rồi quay về với chữ ta đặc biệt của tiếng Việt, và cuối cùng đặt một câu hỏi cay: phải chăng thi ca hiện đại đã lạm dụng chữ tôi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.