Hôm nay,  

Viết Vì Ước Mơ Không Còn Tiếng Súng

02/10/202600:00:00(Xem: 208)

Bài PTH
“Đừng sợ những gì đã nổ tung. Nếu phải sợ, hãy sợ những gì chưa nổ.” Photo: Thi sĩ Suheir Hammad diễn đọc hai bài thơ đầy nỗi ám ảnh, “What I Will” và “break (clustered)” — những suy tưởng về chiến tranh và hòa bình, về phụ nữ và quyền lực. 

Cầm bút để viết lên những ước mơ sẽ không còn tiếng súng trên đời này. Đó là những gì đẹp nhất một nhà văn có thể nói lên. Ngưng chiến tranh. Chúng ta tránh nói chữ “phản chiến,” một chữ quá quen thuộc có khi được dùng cho những nghĩa đen tối. Chúng ta muốn nói tới ước mơ không còn tiếng súng. Nơi đó, không ai còn phải giết nhau. Bao giờ thì biên giới sắc tộc, quốc gia và kỳ thị tôn giáo ngưng thúc đẩy nhân loại giết nhau? Bao giờ các chàng trai sẽ không còn phải chết cho tham vọng của các lãnh tụ? Bao giờ thế giới sẽ không còn các quả phụ trẻ, và bao giờ các em vị thành niên sẽ không còn phải học cách giết nhau?

Trong dòng chảy văn học thế giới, những tác phẩm có giá trị bền vững nhất luôn luôn phải là văn học kêu gọi ngưng tiếng súng. Đó là những tiếng nói đứng về phía con người, không phục vụ bạo lực hay quyền lực. Từ những trang viết về nỗi kinh hoàng của Thế chiến, đến những bài thơ sau Hiroshima, đến những tiểu thuyết lên án các chế độ thực dân nhìn dân tộc khác như nô lệ, văn học chống chiến tranh luôn giữ vai trò như một lương tri chung của nhân loại. Dòng văn học kêu gọi hòa bình đã xuất hiện trong các cuộc Thế chiến, trong cuộc nội chiến Triều Tiên, trong cuộc nội chiến Việt Nam, và bây giờ là ở Ukraine, Gaza. Những người cầm bút vì ước mơ ngưng tiếng súng tại Đại Hàn có Park Yang-kyun, Ko Un; tại Việt Nam có Cung Tích Biền, Vũ Hoàng Chương; tại Palestine có Marwan Makhoul, Suheir Hamm; và rất nhiều nhà văn, nhà thơ tại khắp nơi.

Trong Cuộc Chiến Triều Tiên (1950–1953), bài thơ "Flower" (Hoa) của Park Yang-kyun, được sáng tác ngay giữa cảnh hoang tàn của cuộc chiến, bài thơ sử dụng hình ảnh một đóa hoa mỏng manh, không tên nở rộ trên chiến trường để làm nổi bật sự tương phản giữa vẻ trong trẻo của thiên nhiên và sự tàn bạo của con người. Tác phẩm đặt ra câu hỏi làm thế nào một loài thực vật bé nhỏ lại có thể cố gắng "xóa nhòa... những âm thanh chát chúa của tiếng đại bác và bom nổ".

Bài thơ “Hoa” của Park Yang-kyun dịch từ tiếng Hàn sang tiếng Anh bởi Suh Ji-moon, nơi đây chúng ta trích dịch, viết theo thơ xuôi, như sau:

"Theo lời ai mà ngươi đã nở hoa trên vùng đất hoang tàn nơi con người tàn sát lẫn nhau — hỡi loài hoa vô danh đang vươn mình đối diện với bầu trời bằng vẻ đẹp dịu dàng, mong manh? Làm sao một loài cây mỏng manh đứng bên con đường đầy nắng dưới vòm trời xanh kia lại có thể cố gắng xóa nhòa — bằng nụ cười khôn tả trên thân cành yếu ớt — những âm thanh chát chúa của tiếng đại bác, tiếng bom nổ, tiếng gào thét và cảnh tượng máu chảy thành sông từng làm rung chuyển cả trục trái đất?"

Nhà thơ Nam Hàn Ko Un (sinh năm 1933) là một người suốt đời viết và kêu gọi hòa bình. Ko Un sinh ra tại thành phố Gunsan, tỉnh Jeollabuk-do. Ông bắt đầu đam mê thơ ca sau khi khám phá những tác phẩm đầu tay của Han Ha-un – một nhà thơ du mục người Đại Hàn mắc bệnh phong. Sau khi chứng kiến ​​sự tàn phá của Chiến tranh Triều Tiên, Ko đã vào thiền viện và trở thành một nhà sư Phật giáo. Ông rời khỏi Tăng đoàn, hoàn tục năm 1962. Trong thập niên 1970s và đầu thập niên 1980s, Ko nhiều lần bị bắt giữ, tra tấn và tống giam vì lập trường phản đối chế độ quân phiệt. Sau khi được cấp hộ chiếu vào thập niên 1990s, Ko đã đến thăm Triều Tiên, Ấn Độ, Tây Tạng và Hoa Kỳ. Năm 2000, ông đã ngâm thơ tại hội nghị thượng đỉnh về thống nhất hai miền Triều Tiên ở Bình Nhưỡng và phát biểu tại Hội nghị Thượng đỉnh Hòa bình Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc.

Thơ của Ko rất đa dạng, từ những câu thơ ngắn, súc tích, cô đọng cho đến các trường ca dài và những bài thơ mang tính suy ngẫm. Trong một cuộc phỏng vấn với tờ The Guardian năm 2012, khi chia sẻ về việc trải qua Chiến tranh Triều Tiên đã ảnh hưởng thế nào đến sáng tác của mình, ông nói: "Trong tôi luôn hiện hữu nỗi niềm thương tiếc những người đã khuất. Tôi mang trong mình sứ mệnh hồi sinh tất cả những ai đã qua đời. Freud cho rằng người chết thì cứ để họ yên ở thế giới bên kia. Còn Derrida lại nói rằng người chết vẫn luôn ở bên ta và cần được ở bên ta, chứ không phải bị lãng quên. Tôi đứng về phía Derrida. Tôi vẫn mang những người đã khuất trong mình, và chính họ đang viết nên những vần thơ thông qua tôi."

Ko Un đã hai lần giành Giải thưởng Văn học Nam Hàn và được trao Giải thưởng Thành tựu Trọn đời của Quỹ Griffin (Griffin Trust for Excellence in Poetry). Ông từng được bầu làm Chủ tịch Hiệp hội Nhà văn vì Văn học Dân tộc và được chọn làm Chủ tịch Ủy ban Biên soạn Từ điển Chung liên Triều. Ông cũng từng giảng dạy tại Đại học Quốc gia Seoul, Đại học Kyonggi, Đại học Harvard và Đại học California tại Berkeley. Hiện ông đang sống tại Nam Hàn.

Ko Un đã đọc bản thảo bài thơ “Poem for Peace” (Bài thơ vì Hòa bình) tại Hội nghị Thượng đỉnh Hòa bình Thế giới Thiên niên kỷ ở trụ sở Liên Hợp Quốc tại New York vào tháng 8 năm 2000, trước sự hiện diện của hơn một ngàn nhà lãnh đạo tinh thần. Bài thơ được dịch sang tiếng Anh bởi Brother Anthony & Gary Gach. Bài thơ rất dài, trích như sau:

“Hòa bình là một con sóng, một con sóng cuộn trào đầy sức sống.
Bên dưới con sóng ấy, muôn loài cá tung tăng bơi lội.
Trên mặt sóng, chẳng có gì cao hơn bất cứ điều gì khác.
Nó mang lại tự do và bình đẳng cho tất cả mọi người, trải dài đến tận chân trời nơi hoàng hôn buông xuống.
Hòa bình là thức ăn.
Hòa bình là nồi cơm đang sôi trong làn khói chiều tỏa ra từ những nếp nhà nơi thôn dã.” (ngưng trích)

Trong khi đó, từ Trung Đông, nơi đất thánh của nhiều tôn giáo, tiếng gươm dao không ngừng khua động cả ngàn năm, và bây giờ là tiếng súng, tiếng bom. Nhà thơ Marwan Makhoul sinh năm 1979 tại làng Boquai'a thuộc vùng Thượng Galilee (Palestine), có cha là người Palestine và mẹ là người Lebanon. Hiện ông đang sống tại làng Maalot Tarshiha, một khu vực sống chung giữa người Do Thái và Palestine. Tập thơ đầu tay của ông được Nhà xuất bản Al-Jamal ấn hành năm 2007 tại cả Beirut và Baghdad.

Bài thơ nổi bật của Makhoul chỉ có bốn dòng:

“Để tôi có thể viết những vần thơ không mang màu sắc chính trị,
tôi phải lắng nghe tiếng chim
và để nghe được tiếng chim
những chiếc máy bay chiến đấu phải im tiếng.”

Một nhà thơ Palestine cùng thế hệ sinh trong thời kỳ 1970s là cô Suheir Hammad (sinh ngày 25/10/1973). Cô là một nhà thơ, và là nhà hoạt động chính trị người Mỹ gốc Palestine. Cô sinh ra tại Amman, Jordan. Cha mẹ là những người tị nạn Palestine; họ đã cùng con gái di cư đến Brooklyn, thành phố New York khi cô mới năm tuổi.
 
Bài thơ “What I Will” ("Điều tôi sẽ làm") của Suheir Hammad trích như sau:

Tôi sẽ không nhảy múa theo tiếng trống trận của ngươi
Tôi sẽ không than khóc cho những kẻ tử trận của ngươi
Tôi sẽ không để ngươi chà đạp tàn bạo.
Tôi sẽ không để ngươi gieo rắc nỗi kinh hoàng.
Tôi sẽ không quỳ gối trước những hành vi tàn ác của ngươi
Tôi sẽ không tuyệt vọng.*

Nhà thơ Vũ Hoàng Chương (1915–1976) cũng là một người cầm bút không ưa chiến tranh. Khi bản thân tôi còn là một học trò trung học Chu Văn An (Sài Gòn) cuối thập niên 1960s, tôi thường nhìn thấy nhà thơ Vũ Hoàng Chương ngồi xe xích lô tới trường những ngày Thầy có lớp dạy. Thầy Chương dạy Ban C (Văn Chương), trong khi tôi học Ban B (Ban Toán). Hình ảnh Thầy Vũ Hoàng Chương gầy gò, luôn luôn mặc bộ đồ vest khi đi dạy. Tôi nhớ hoài hình ảnh Thầy ngồi xe xích lộ, Thầy ưa mặc màu sáng, hình như bộ đồ vest màu trắng, hay trắng ngà. Một lần, nghe lời tên bạn, tôi chui vào lớp nghe Thầy dạy. Cũng là chuyện văn học nào đó, nhưng tôi không nhớ là đề tài gì. Tuy nhiên, hình ảnh gầy gò của Thầy với nụ cười lặng lẽ, nói nhẹ nhàng kiểu Nho gia, luôn luôn toát ra một vẻ hòa nhã, sương khói.


Cách nói nhẹ nhàng của nhà thơ Vũ Hoàng Chương trong bài thơ “Người với người” (trong tập thơ Lửa từ bi, 1963) viết kiểu “phản chiến” y hệt như kể chuyện cổ sử, trích:

“Nhớ xưa Nhạc, Huệ,
Cùng tranh ngôi cao
Một lời thống thiết
Muôn đời gởi trao:
“Nồi da nấu thịt
Lòng em nỡ nào?”
....
Vững lòng tin ở XA-VỜI,
Bàn tay chẳng nhuộm máu NGƯỜI, giơ lên!” (ngưng trích)

Lửa Từ Bi

Trong câu cuối, bàn tay giơ lên ở đây không phải là bàn tay cầm vũ khí. Đó là bàn tay không nhuốm máu. Một bàn tay như thế vừa có thể là bàn tay cầu nguyện, vừa là bàn tay kêu gọi hòa giải, vừa là bàn tay từ chối giết người. Đó là lời kêu gọi: không để bàn tay mình nhuốm máu người.

Bài thơ đó được nhà thơ Vũ Hoàng Chương ghi là sáng tác vào ngày 13/8/1963.  Dò lại các mốc thời gian, chúng ta có thể nhớ rằng Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu vào ngày 11/6/1963, tức là hai tháng trước bài thơ thống thiết dẫn trên. Và chúng ta cũng có thể nhớ rằng, hơn một tháng sau ngày Hòa Thượng tự thiêu, nhà thơ Vũ Hoàng Chương đã làm bài thơ “Lửa Từ Bi” trong đó thi sĩ họ Vũ đã viết:

“Thơ cháy lên theo với lời kinh
Tụng cho nhân loại hòa bình”

Và ghi chú dưới bài là “viết tại Sàigòn ngày 15 tháng 7 năm 1963, để tưởng niệm Hòa Thượng Bồ Tát Thích Quảng Đức.”

Chúng ta cũng có thể nhớ rằng Cuộc Chiến Việt Nam tới cao điểm gay gắt là Tết Mật Thân 1968, khi quân Bắc Việt tổng tấn công tại gần như tất cả các thành phố Miền Nam. Nhà thơ Vũ Hoàng Chương sáng tác bài thơ “Thế Là” vào năm 1968, chắc chắn phải là sau cái Tết tràn ngập tiếng súng đó.  Trích bài “Thế Là” từ thi tập “Ngồi quán (in năm 1971)” có những câu rất thiết tha như sau:

“...Ôi Chiến-tranh làm biệt ly!
Như bọt vỡ trên sông trên biển
Như bụi nát nhừ trên đường ra hoả tuyến
Như trên vòm trời tan-tác mây.
Bao mảnh vụn nổ tung cứa đứt chuỗi đêm ngày
Của Tình-yêu và Tuổi-trẻ!” (ngưng trích)

Bạch Hóa_Cung Tích Biền

Cũng nói lên ước mơ ngừng tiếng súng, nổ bật trong văn học Việt Nam là nhà văn Cung Tích Biền (1936-2026), người “có hai người anh, một “anh là Cộng sản chết không mồ, em là Quốc gia chết không tìm ra xác” (người tập kết, người bị tù “cải tạo”, hai cái chết đều do Cộng sản Hà-Nội gây ra!). Trước 1975, ông từng bị nghi ngờ nếu không vì xuất thân từ vùng kháng chiến chống Pháp thì cũng vì gia đình ông, cũng như nhiều người khác có anh em ở chiến tuyến đối nghịch; đời sĩ quan của ông không hanh thông, từng bị chỉ định nơi cư trú và giải ngũ sớm. Nạn nhân cả sau biến cố 30-4-1975, ông đã phải chịu đựng và câm lặng hơn 30 năm.” (Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Vy Khanh trong bài "Cung Tích Biền – Nhà Văn Việt Nam Hải Ngoại)

Truyện ngắn “Bạch Hóa” của Cung Tích Biền, được ghi cuối truyện là “Mậu Thân, 1968” có một ngôn ngữ chống chiến tranh rõ ràng hơn,  dữ dội hơn, đau đớn hơn, khi kể về một nhân vật chặt đầu cha mình vì khác chính kiến.

Xin trích truyện này: “Sáu Vu là con Hương Đằng, nó bỏ nhà đi từ mười hai năm nay. Đúng mười hai giờ đêm một đêm năm trước hắn về làng tập họp dân chúng - mấy anh dân vệ đêm đó đã về ngủ trên quận - việc đầu tiên hắn làm chánh án Toà Án Nhân Dân xử cha, lão Hương Đằng nay là đại diện xã. Dưới ánh đuốc bập bùng, dân làng có người đứng ra xin cho Hương Đằng, rồi chính Hương Đằng cũng nói với Sáu Vu tao là cha của mày, con ạ tao là cha, mày không nỡ giết cha. Sáu Vu trả lời: Ông là cha của riêng tôi chứ không phải cha của cả dân tộc này, ông chết một mình để cả dân tộc này sống, ông không đáng được gọi rằng chết nữa, chính ông bị đền tội, ông bị loại trừ, cái chết là danh từ dành riêng cho các chiến sĩ, các con của nòi giống; ông ạ, tôi không còn cha, không có cha nào nữa ngoài một người cha là cuộc Cách Mạng vĩ đại trường cửu này. Lão Hương Đằng nhổ một bãi nước bọt vào mặt Sáu Vu nói mày là thằng phản quốc, thằng bán linh hồn, mày hãy giết tao đi. Thế là một lưỡi dao phập xuống. Mọi người lúc đó, dưới ánh lửa ma quái không ai thấy Hương Đằng bị chặt đầu, họ thấy chính lát dao đang đi ngang qua cổ họ, họ cúi xuống nhìn bãi đất lạnh run rẩy.

Máu nơi cổ lão Hương Đằng chưa kịp đông lại thì ngay lúc đó có hàng tràng cà nông bắn tới tấp vào đám du kích quân, lửa nhá trên đầu họ, mảnh đạn bay lanh canh trên các mái ngói, chó thôi sủa, người thôi tố cáo người. Sáng hôm sau khi chôn cất, xác Hương Đằng bị một nhát mã tấu gẫy gọn và nhiều mảnh đại bác nho nhỏ.” (ngưng trích)

Nếu chúng ta chú ý về các mốc thời gian, có thể thấy rằng ngôn ngữ kêu gọi chống chiến tranh của nhà thơ Vũ Hoàng Chương và nhà văn Cung Tích Biền nổi bật là năm 1968, năm có nhiều đau đớn và tàn phá nhất. Tuy nhiên, tác phẩm phản chiến của văn nghệ sĩ Hoa Kỳ đã xuất hiện trước đó vài năm, và sau khi quân đội Mỹ vào Việt Nam với các đơn vị tác chiến quy mô lớn từ năm 1965 là trở thành phong trào.

Trong giới văn nghệ sĩ Hoa Kỳ, đi đầu và quan trọng nhất là nhạc sĩ Bob Dylan. Ca khúc “Blowin' in the Wind” của Dylan đưa ra năm 1963, đặt ra những câu hỏi về chiến tranh và hòa bình, nêu câu hỏi nổi tiếng về việc phải có bao nhiêu viên đạn đại bác bay qua trước khi chúng bị cấm đã trở thành một biểu tượng của thời đại.

Trích ca khúc này, dịch như sau:

“Một người phải bước qua bao nhiêu nẻo đường
Trước khi bạn gọi anh ta là một người đàn ông thực thụ?
Chim bồ câu trắng phải bay qua bao nhiêu đại dương
Trước khi được nghỉ ngơi trên bãi cát?
Và những quả đạn đại bác phải bay bao nhiêu lần nữa
Trước khi chúng bị cấm vĩnh viễn?
Bạn tôi ơi, câu trả lời đang bay trong gió
Câu trả lời đang bay trong gió...”(ngưng trích)

Một ca khúc nổi tiếng ban đầu là nhạc nhà thờ từ các thập niên đầu thế kỷ 20, sau đó trở thành một ca khúc dùng cho phong trào dân quyền của người da đen, và rồi trở thành ca khúc cho các cuộc biểu tình chống chiến tranh Việt Nam. Đó là bài "We Shall Overcome", nguồn gốc bài hát này không thực sự rõ ràng; người ta cho rằng nó bắt nguồn từ "I'll Overcome Some Day" – một bài thánh ca của Charles Albert Tindley – trong khi phiên bản hiện đại của bài hát được cho là lần đầu tiên được các công nhân ngành thuốc lá, dưới sự dẫn dắt của Lucille Simmons, hát trong cuộc đình công tại Nhà máy Xì gà Charleston ở Charleston, Nam Carolina vào giai đoạn 1945–1946. Và rồi ca khúc nổi tiếng với giọng ca của Joan Baez khi xuống đường cho phong trào dân quyền và sau đó là chống chiến tranh Việt Nam.

Ca khúc "We Shall Overcome" (Chúng ta sẽ chiến thắng) có bốn dòng cuối như sau:

“Chúng ta sẽ sống trong hòa bình, chúng ta sẽ sống trong hòa bình,
Chúng ta sẽ sống trong hòa bình một ngày nào đó;
Ôi, tận sâu trong tim, tôi tin rằng,
Chúng ta sẽ sống trong hòa bình một ngày nào đó.” (hết trích)

Vâng, hãy tin rằng nhân loại sẽ sống trong hòa bình một ngày nào đó. Nếu tất cả chúng ta cùng ước mơ như thế, cùng lên tiếng như thế, cùng đòi hỏi như thế, để mọi người trên thế giới sẽ cùng rủ nhau buông súng.

Bao giờ nhân loại sẽ toàn là những bàn tay chẳng nhuộm máu người như nhà thơ Vũ Hoàng Chương kêu gọi? Và bao giờ nhân loại sẽ không còn chuyện gia đình giết nhau chỉ vì nhân danh vì lý thuyết này với chủ nghĩa kia nữa, như nhà văn Cung Tích Biền ước mơ? Hãy ước mơ như thế. Hãy cầm bút để viết lên ước mơ rằng sẽ không còn tiếng súng trên đời này. Đó sẽ là những gì đẹp nhất một nhà văn có thể được tưởng nhớ.

Phan Tấn Hải
GHI CHÚ:
-- Lễ tưởng niệm 50 năm ngày qua đời của thi sĩ Vũ Hoàng Chương: Chủ Nhật 20/9/2026, từ 1:00 PM đến 4:00 PM. Tại Hội trường SBTN: 10561 Garden Grove Blvd., Garden Grove, CA 92843
-- Tang lễ nhà văn Cung Tích Biền sẽ tổ chức tại Peek Funeral Home, 7801 Bolsa Ave. Westminster, CA 92683, vào Thứ Hai 28/9/2026. Nghi thức tưởng niệm từ 10:00 AM.
* Nghe thơ Suheir Hammad ở đây: https://blog.ted.com/text-of-what-i-will-by-suheir-hammad/
 

Joyce không phủ lấp người đọc chúng ta bằng những màn bi kịch. Phong cách văn học đặc trưng và độc sáng của ông nằm ở những tình tiết tinh tế, những khát khao không nói ra nhưng lóe lên trong đôi mắt của nhân vật, sự im lặng đa nghĩa đầy ẩn ý nói lên nhiều điều. Ông phân tích những tương tác xã hội với độ chính xác của một bác sĩ phẫu thuật, phơi bày tính đạo đức giả và nông cạn nằm ẩn giấu dưới lớp vỏ bọc của những ứng xử giao tiếp lịch sự.
Trong một tác phẩm cùng tựa đề, Nhà Văn Cung Tích Biền đã có lần từng ước muốn "Không nên có mặt". Tuy nhiên, như một định mệnh, ông vẫn sống, có mặt và phải chứng kiến đầy đủ mặn ngọt cuộc đời suốt hơn 90 năm như một chứng nhân của thời cuộc, của những thăng trầm, ly loạn của đất nước. Cuộc chiến Việt Nam từ giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp cho tới khi đất nước thống nhất mất 30 năm, thế mà ông văn nghiệp của ông đã kéo dài tới 65 năm. Có thể nói, ông là một nhà văn viết lâu, viết khoẻ và cũng là một chứng nhân giữa cuộc phong ba, khắc nghiệt của nước nhà. Bất kể bạn đồng ý hay không với những gì ông viết, bạn cứ đọc ông bạn sẽ hiểu rõ thân phận lạc loài của con người đứng giữa lằn ranh cuộc chiến. Bao nhiêu người bị chi phối trực hay gián tiếp trong cuộc tranh chấp máu lửa tương tàn, bị cắt đứt gốc rễ với quá khứ, không tìm thấy mục đích ở hiện tại và mơ hồ trước tương lai.
Đa số người Việt thích viết và đọc thơ tình vì khi đối diện với nghệ thuật, chúng ta thích thú bằng cảm tính. Chúng ta không mấy quan tâm về việc sử dụng học thuật để sáng tạo hoặc thưởng thức bài thơ, mà dùng học thuật sẵn có trong truyền thống như mượn thuyền sang sông. Ưu điểm là chúng ta có nhiều bài thơ tình, thơ cảm tính đặc sắc. Khuyết điểm là thơ chúng ta không theo kịp khả năng phát triển của thơ thế giới nói chung và thơ Tây phương nói riêng.
Đúng 1 giờ trưa thứ Năm, giờ Stockholm, Viện Hàn Lâm Thụy Điển công bố quyết định trao giải Nobel Văn Chương năm nay cho Anne Carson, người phụ nữ thứ 19 nhận được vinh dự này. Trong lời tuyên dương, Viện Hàn Lâm Thụy Điển vinh danh bà: “Vì sự nghiệp sáng tác táo bạo, độc đáo, qua cuộc đối thoại tài tình và dí dỏm với truyền thống văn chương cổ điển, đã khai mở những hình thức biểu đạt mới cho văn học đương đại.”
Trước tiên là chuyện cá độ văn học. Bởi vì người dám đưa tiền ra cá độ, hẳn là có lý do họ tin rất mực. Nếu nhìn vào các thị trường dự đoán và nhà cái về giải văn học trong những ngày trước mùa Nobel 2026, chưa có ứng viên nào vượt trội tuyệt đối. Nobel Văn học vẫn là giải khó đoán nhất vì Viện Hàn lâm Thụy Điển thường gây bất ngờ. Tuy nhiên, một số tên tuổi được nhắc đến nhiều nhất hiện nay.
Không phải tác phẩm ở một bên và cuộc đời ở một bên, rồi ta cố tìm vài chiếc cầu cho chúng gặp nhau. Có thể đơn giản hơn: người viết đem vào câu chữ chính cái con người đã sống, đã chịu đựng, đã nhìn, đã sai, đã mất, đã tìm đường trở lại với mình. Văn chương nếu có sức nặng lâu dài, đôi khi không phải vì nhà văn đứng cao hơn cuộc đời, mà vì họ đã đi đủ sâu vào nó mà vẫn còn mang được một cái gì đó trở ra.
Phát biểu của Trịnh Y Thư nhân buổi lễ Tưởng niệm 50 năm ngày qua đời của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, ngày 20 tháng 9 năm 2026 tại Quận Cam, California.
Trên thế gian này, không người nào không muốn có được cuộc sống hạnh phúc. Điều này cho thấy một sự thật khó chối cãi rằng là ai cũng đã từng trải nghiệm sự đau khổ trong đời mình! Hay nói cách khác, khổ đau là sự thật phổ quát ở trên đời. Chính vì vậy, tất cả mọi người đều mưu cầu hạnh phúc. Các nhà lập quốc Hoa Kỳ đã nhìn thấu rõ được sự thật ấy cho nên đã viết trong Tuyên Ngôn Độc Lập của nước Mỹ (The United States Declaration of Independence) rằng: “Chúng tôi giữ gìn những sự thật hiển nhiên này, rằng tất cả con người đều được tạo ra bình đẳng, rằng họ được Tạo Hóa ban cho một số quyền bất khả chuyển nhượng, rằng trong số những quyền này là quyền Sống, Tự Do và mưu cầu Hạnh Phúc.”
Đàn ông đòi hỏi gì ở phụ nữ? Những nét đặc trưng của Ham Muốn được Thỏa Mãn.Phụ nữ đòi hỏi gì ở đàn ông? Những nét đặc trưng của Ham Muốn được Thỏa Mãn. William Blake không đặt câu hỏi rộng, ông giới hạn lại trong cụm từ “đặc trưng,” Trong câu thơ của Blake, "the lineaments of Gratified Desire" được dịch là "những nét đặc trưng của ham muốn được thỏa mãn". Từ "lineaments" trong tiếng Anh vốn nghĩa gốc là những đường nét trên khuôn mặt, những đặc điểm hình thể có thể nhìn thấy được, giống như khi ta nói "gương mặt có những đường nét thanh tú". Blake không nói ham muốn được thỏa mãn một cách trừu tượng, mà nói đến những dấu vết cụ thể, có thể nhìn thấy được trên gương mặt hay dáng vẻ của một người, khi ham muốn của họ đã được đáp ứng. Và từ neo là “đòi hỏi.” Đòi hỏi là nhu cầu, không phải ước mơ, không phải là cầu xin. Điều này cho rõ là đàn ông và phụ nữ cần nhau vì có nhu cầu đòi hỏi Blake đặt câu hỏi rồi tự trả lời. Hai câu trả lời giống hệt nhau, không phân biệt nam hay nữ. Bài thơ
Buổi sáng ngày cuối cùng của tháng 8, một thanh niên 20 tuổi tên Pierre Damas Bel đậu chiếc Toyota bên xa lộ Interstate 70, ngoại ô Springfield, Ohio. Cậu bước ra khỏi xe, điềm nhiên bước thẳng vào làn xe đang lao tới. Vài phút sau, câu chuyện của cậu xuất hiện trên khắp báo đài nước Mỹ, đất nước cậu đặt chân đến năm 2024, sum họp với cha mẹ của mình – những di dân chạy trốn nạn bạo lực băng đảng ở Haiti. Pierre vừa tốt nghiệp trung học được vài tuần. Cậu từng là cầu thủ đội bóng đá của trường, từng được vinh danh trong chương trình JROTC, và mùa Thu này lẽ ra đã bước chân vào đại học Wright State, ấp ủ giấc mơ trở thành bác sĩ. Đầu mùa Hè này, sau khi Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ (TCPV) mở đường cho chính quyền Donald Trump chấm dứt quy chế Bảo Vệ Tạm Thời (TPS) dành cho người Haiti, cơ quan di trú gắn lên chân cậu một chiếc vòng theo dõi GPS. Cậu nói với người thân rằng nó khiến cậu cảm thấy mình như một con vật.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.