
Đa số thơ Việt là thơ tình. Loại thơ mà Rainer Maria Rilke trong tác phẩm “Thư gửi người thi sĩ trẻ” cho rằng, đó là loại thơ khó làm nhất.
Đa số người Việt thích viết và đọc thơ tình vì khi đối diện với nghệ thuật, chúng ta thích thú bằng cảm tính. Chúng ta không mấy quan tâm về việc sử dụng học thuật để sáng tạo hoặc thưởng thức bài thơ, mà dùng học thuật sẵn có trong truyền thống như mượn thuyền sang sông. Ưu điểm là chúng ta có nhiều bài thơ tình, thơ cảm tính đặc sắc. Khuyết điểm là thơ chúng ta không theo kịp khả năng phát triển của thơ thế giới nói chung và thơ Tây phương nói riêng.
Câu hỏi là chúng ta có cần cập nhật, phát triển thơ theo nhịp điệu, học thuật của thế giới hay không? Hoặc chỉ cần bảo tồn và đào sâu nghệ thuật sáng tác thơ mà chúng ta đang hiện dụng?
Từ lúc phong trào Thơ Mới (1932) ảnh hưởng trào lưu thơ Pháp, chuyển đổi mạnh mẽ, một trận gió lãng mạn lớn xoay cuồng dòng thơ tình đổi mới với ảnh hưởng của Siêu Thực và Biểu Tượng. Sư hiện ám của thơ Ấn Tượng rất hiếm và giá trị không bằng hai loại thơ trước.
Dòng thơ tình trữ tình đó ở miền Nam Việt Nam kéo dài cho đến biến cố tháng Tư, 1975, rồi vượt đại dương tiếp tục sang hải ngoại. Thơ tình nhập cư hay thơ tỉnh hải ngoại hầu hết là sự nối dài của thơ tình trước 1975. Có một số ít bài thơ tình chọn con đường sáng tác khác, ảnh hưởng học thuật đương thời, của một số nhà thơ trẻ hoặc các nhà thơ gia nhập vào dòng thơ Việt sau năm 1975.
Thơ tình trước năm 1975 có gì lạ?
Mới của Thơ Mới.
Bất kỳ trong một giai đoạn, thời kỳ nào của thi ca, luôn có những nhân vật văn chương nổi bật, trở thành những người tạo ra những xu hướng sáng tác mới so với dòng sáng tác đang hiện hành. Thường khi, dòng thi ca tùy thuộc vào những nhân vật này để chuyển dòng đi những phương hướng khác.
Tốc độ chuyển dòng này nhanh chóng hay trì trệ, phẩm lượng của chuyển dòng như thế nào là tùy khả năng của những nhân vật nổi trội và sự hưởng ứng của số đông tác giả và độc giả.
Trong tầm nhìn này, thơ tình ở miền Nam trước năm 1975 đón nhận những nét mới mẻ do một số sinh viên du học nước ngoài mang về. Hai nhà thơ có tầm ảnh hưởng lúc đó là Nguyên Sa và Cung Trầm Tưởng. Riêng thơ tình của Nguyên Sa được giới học sinh và sinh viên ái mộ, từ đó lan vào giới thưởng ngoạn chung.
Thơ Nguyên Sa có nét pha trộn giữa cảm nhận theo lối Tây phương về hình ảnh, tứ thơ và tình cảm, phong thái Việt, tạo ra nét độc sắc riêng trong dòng thơ Việt. Ảnh hưởng thơ của ông lớn nhất là lưu truyền qua những ca khúc được yêu chuộng, được lập lại bởi những ca sĩ hàng đầu ở miền Nam cũng như ở hải ngoại. Như: Áo Lụa Hà Đông, Paris Có Gì Lạ Không Em, Tuổi Mười Ba, Tháng Sáu Trời Mưa…vân vân.
Tình yêu đàn ông ba mươi tuổi.
Yêu? Tuổi nào cũng có thể yêu ngoại trừ trẻ thơ và giờ hấp hối. Không Tử cho rằng, tuổi ba mươi là tuổi người nam có thể tự lập vững vàng, cũng có thể hiểu sự chính chắn ấy thể hiện trong tình yêu.
Như vậy thơ tình Nguyên Sa lúc ba mươi tuổi có khác biệt gì với thơ tỉnh thuở “Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát” hay “Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc. Áo nàng xanh anh mến lá sân trường.”?
Bài “Tình Yêu Đàn Ông Ba Mươi Tuổi” của Nguyên Sa bao gồm 4 câu mở và 4 câu kết, thân có 16 câu chia làm 4 đoạn. Cấu trúc hình thức theo truyền thống Thơ Mới với thể thơ tự do, thay đổi giữa những câu thơ 8 chân và những câu thơ dài hơn, chỉ có một câu 7 chữ.
Tác giả mở bài thơ bằng một tứ thơ khác thường, khiến cho người đọc bị lôi cuốn, ngay lập tức muốn theo dõi suốt bài thơ. Học thuật này được sử dụng trong thơ và truyện ngắn. Ông ví “người yêu” như “tàn thuốc” qua hành động buông tay ra. Biểu tượng một ý nghĩa động tâm. Tàn thuốc là là một thứ gì phế thải, phù phiếm, sẽ tan ra trong khoảnh khắc. Thứ mà trước đó ở trên môi (tình ái), theo hơi thở vào phổi (sự sống) tạo ra thoải mái, đê mê, thú vị (hạnh phúc), bỗng dưng một thoáng búng tay, tình yêu xa lìa, tan biến. Tứ thơ so sánh xuất sắc thiết lập nên mức độ cảm xúc về điều gì quí báu được nâng niu rồi bỏ rơi. “Hỡi người yêu có bàn tay anh buông ra như tàn thuốc lá / Hãy tha cho đốm hồng thân thể này trong ngày tháng thành than” Hai chữ “hãy” và “hỡi” mang giọng điệu khách quan, khiến tôi cảm thấy “ái tình cho nhau” ít được quan tâm. Câu tiếp theo, khó giải mã. “Đốm hồng thân thế này” là của ai? Của người nắm tay hay người bị thả tay? Đốm hồng thành than, ai thành than? Dĩ nhiên tác giả hiểu ông muốn viết thứ gì nhưng người đọc có thể hiểu điều đó là một chuyện khác. Chữ “tha” phải có nghĩa là tha thứ và “đốm hồng … thành than” phải là tình yêu đã bị buông rơi.
Bài thơ mở bằng hai câu dài, mỗi câu 13 chữ, tiếp theo là câu 10 chữ và câu kết đoạn mở là 9 chữ. Tạo ngay một thể thơ tự do so le, cho người đọc cảm giác một sự phóng túng sắp diễn ra và họ chờ đợi đó là chuyện gì?
Hình thức của thể thơ và chữ nghĩa là phần quan trọng của bài thơ hiện hữu và tồn tại. Phái thơ Cụ Thể đã đưa hình thức thơ lên hàng đầu, qua mặt cả nội dung. Phái văn học Hình Thức (Formalism), phái ký hiệu học (Semiotics) cũng xem hình mặt của bài thơ là chủ lực để tìm hiểu bài thơ. Vì vậy, chọn một thể thơ để bày tỏ nội dung thơ là việc cân nhắc mà nhà thơ phải chọn lựa trước khi sáng tác. Một thể thơ phù hợp với nội dung và ý tưởng sẽ làm bài thơ hay hơn bội phần.
“Dây thép gai đã buộc vào mắt anh gió lốc
Cuồng phong đau thương mang tàn lụi vai buồn “
Bốn câu thơ mở, nhất là hai câu kết đoạn mở sử dụng nhiều hình ảnh ẩn dụ, cho thấy bài thơ này sẽ được diễn đạt qua rất nhiều ẩn dụ, hoán dụ và biểu tượng. Cách diễn đạt này thường xuyên làm mù mờ ý thơ và mở rộng khả năng tưởng tượng của độc giả.
“dây gai”, “mắt”, “gió lốc” “cuồng phong” ‘vai buồn”, một dãy hình ảnh vật lý diễn đạt tâm lý: Tựu trung là nỗi đau buồn từ tình yêu mất mát.
“Niềm chua xót đã lớn lên thành núi / Vừng trán anh trên mỏm ấy hoang vu / Anh chẳng nói vì rừng không biết nói / Tiếng lau cao đã động cánh tay già “ Những so sánh nhận thấy cường điệu nhưng diễn tả được nỗi đau xót xa trong câm lặng. Nội tâm rối rã như khu rừng, làm sao nói. Chỉ còn tiếng lau trong gió nghe hắt hiu đá động lòng thơ, động cánh tay già.
“Có ra biển cứ nhìn sóng to bằng mắt nhìn oán hận / Để anh nhìn thấy anh trong mắt ướt cựa mình / Để anh nghe tiếng anh giữa vô cùng cao rộng / Để anh tìm trong nỗi buồn ghê gớm còn anh”
Tâm cảnh cô đơn được diễn tả qua hình thái và hành động tâm lý. Khó nắm bắt được chiều sâu ra sao? Chỉ cảm giác tâm tình của nhân vật chính qua những lời than. Anh ấy đang chìm vào nỗi đau nuối tiếc.
“Hãy vứt vào cuộc đời những người đàn ông đến sau niềm phụ bạc / Những đêm cười hãy đốt bằng những giông bão hôn mê / Những mắt nai tơ ấy là anh rỏ máu / Trong đèn hoa lửa vỡ tiếng anh thề”
Bước vào đoạn thơ này, giọng thơ chuyển đổi sang giận dữ. Oán trách tình nhân phụ bạc. Bằng cách nào đó, đổ tội cho người tình. Đoạn thơ này tạo ra sự mâu thuẫn với câu thơ đầu tiên. Có vẻ như, câu mở đầu phải là: “Hỡi người yêu có bàn tay buông anh ra như tàn thuốc lá” thay vì “bàn tay anh buông ra”. Vì sử dụng quá nhiều hình ảnh ẩn dụ và biểu tượng khiến cho thơ mất đi tính nhất quán. Hơn nữa khi dồn dập ẩn dụ và biểu tượng sẽ làm tốc độ bài thơ chậm lại và khó cảm nhận.
“Cứ nói thật to những lời nguyền rủa / Lần âm thanh anh về ngủ giấc em vui / Em sẽ thấy vẫn thân hình phiền lớn / Giữa râu gai thơ sáng vẫn đâm chồi “
Sự bực bội vẫn tiếp diễn nhưng câu cuối đoạn cho thấy anh ấy đã lấy lại bình tĩnh. Tìm ra khả năng an ủi của thơ.
Tiến vào 4 câu kết, sau khi bình tĩnh, cảm xúc lắng dịu, tác giả trở lại hình ảnh ban đầu. Lời thơ nhẹ nhàng thương xót hơn. “Hỡi người yêu có bàn tay anh buông ra như tàn thuốc lá / Vẫn nhìn nhau bằng mắt huyệt chôn nhau / Những hòn đất ném lên hòn đất / Những ngón tay vẫn gọi ngón tay sầu “ Cảnh ném đất xuống huyệt mộ tiễn đưa trong hành cảnh bàn tay thả đất giống như những ngón tay vói xuống quan tài. Cảnh đẹp, buồn và tứ rất hay.
Đánh giá chung.
Từ lúc mở cho đến lúc kết, mỗi đoạn thơ đều chuyển động những tình cảm buồn, đau, trách, hận … một cách mạnh mẽ. Tác giả truyền đạt hậu quả của phản bội tình yêu, không có một diễn tiến rõ ràng, chỉ cảm xúc dày vò giữa buông bỏ và níu kéo.
Một trong số cách đánh giá mức độ của bài thơ là cách tác giả trình bày một số ẩn dụ hay biểu tượng và tiếp theo là đào sâu hoặc liên tưởng tứ thơ đó đến các tứ thơ khác. Khi có quá nhiều ẩn dụ và biểu tượng độc lập, và không được sâu sắc hóa, khiến những tứ thơ thiếu trọng lượng và thường tạo sự cảm nhận lầm của độc giả. Đó là điểm yếu của bài thơ này.
Xét chung “Tình Yêu Đàn Ông Ba Mươi Tuổi” là một bài thơ hay mang cá tính thơ Nguyên Sa nhưng đứng mặt bên kia của những lời thơ trữ tình, dễ thương:
Em chợt đến, chợt đi, anh vẫn biết
Trời chợt mưa, chợt nắng, chẳng vì đâu
Nhưng sao đi mà không bảo gì nhau
Để anh gọi, tiếng thơ buồn vọng lại
Nguyên tác.
Tình yêu đàn ông ba mươi tuổi
Hỡi người yêu có bàn tay anh buông ra như tàn thuốc lá
Hãy tha cho đốm hồng thân thể này trong ngày tháng thành than
Dây thép gai đã buộc vào mắt anh gió lốc
Cuồng phong đau thương mang tàn lụi vai buồn
Niềm chua xót đã lớn lên thành núi
Vừng trán anh trên mỏm ấy hoang vu
Anh chẳng nói vì rừng không biết nói
Tiếng lau cao đã động cánh tay già
Có ra biển cứ nhìn sóng to bằng mắt nhìn oán hận
Để anh nhìn thấy anh trong mắt ướt cựa mình
Để anh nghe tiếng anh giữa vô cùng cao rộng
Để anh tìm trong nỗi buồn ghế gớm còn anh
Hãy vứt vào cuộc đời những người đàn ông đến sau niềm phụ bạc
Những đêm cười hãy đốt bằng những giông bão hôn mê
Những mắt nai tơ ấy là anh rỏ máu
Trong đèn hoa lửa vỡ tiếng anh thề
Cứ nói thật to những lời nguyền rủa
Lần âm thanh anh về ngủ giấc em vui
Em sẽ thấy vẫn thân hình phiền lớn
Giữa râu gai thơ sáng vẫn đâm chồi
Hỡi người yêu có bàn tay anh buông ra như tàn thuốc lá
Vẫn nhìn nhau bằng mắt huyệt chôn nhau
Những hòn đất ném lên hòn đất
Những ngón tay vẫn gọi ngón tay sầu ./.
