Hôm nay,  

Không Độc Lập, Chẳng Tự Do

17/12/200700:00:00(Xem: 8719)

Mấy ngày qua trên Internet đã có nhiều hình ảnh và tin tức về các cuộc biểu tình của thanh niên Hà Nội, thanh niên Sài Gòn, xuống đường phản đối Trung Cộng xâm chiếm Hoàng Sa, Trường Sa.

Đây là lần đầu tiên mọi người thấy tại Việt Nam, dưới chế độ công an kìm kẹp từ mấy chục năm nay, đã có một cảnh tượng khá hiếm hoi, khá lạ mắt. Đó là các cuộc  “biểu tình»,  với những cánh tay giơ lên, những tiếng hô «đả đảo», những biểu ngữ «phản đối» …

Mặc dầu có giả thuyết cho rằng đây là sự dàn dựng, do xung đột phe phái trong nội bộ kẻ cầm quyền, nhưng phải nói nhiệt huyết của thanh niên Việt Nam, của tuổi trẻ trong nước, hình như vẫn còn tồn tại, còn tiềm tàng, và đã có dịp bùng lên trước nỗi nhục ngoại xâm.

Thật vậy, người dân đã phải đứng lên, phản đối ngoại bang và thực sự bất bình trước cảnh đớn hèn nhu nhược, quị lụy thần phục quan thầy Bắc Kinh của tập đoàn Cộng Sản Hà Nội. Họ đã nhận chân được khẩu hiệu rỗng tuếch «Không có gì quí hơn Độc Lập-Tự Do» chỉ là sự lừa bịp của Hồ Chí Minh và đồng bọn. Sau bao nhiêu thảm kịch gây ra cho đất nước, người dân chẳng hề thấy Tự do. Còn Độc lập thì chưa bao giờ Cộng Sản Việt thoát ra khỏi cảnh lệ thuộc ngoại bang Phương Bắc. Ải Nam Quan đã mất. Thác Bản Giốc chẳng còn. Rồi đến Hoàng Sa, Trường Sa… Ngày Việt Nam trở thành quận lỵ của Trung Cộng chắc cũng không xa!

Thành ra, sau nửa thế kỷ đau thương chết chóc, Tự do chẳng hề có, mà Độc lập cũng chẳng còn! Thật là mỉa mai! Không biết giới trẻ Việt Nam có ý thức được điều nghịch lý này.

Nhiệt huyết xuống đường của thanh niên trong nước phải chăng là chỉ dấu báo hiệu, cho thấy một niềm hy vọng chưa tắt hẳn"

Niềm hy vọng đó là sự nhịn nhục của người dân Việt không phải là vô hạn định. Họ đã biết bất bình trước cảnh ngoại xâm. Hy vọng rằng rồi đây họ cũng sẽ biết bất bình trước cảnh «nội xâm». Sẽ vùng lên, không nhẫn nhục chịu đựng mãi, cảnh hàng ngày bị đè đầu cưỡi cổ, bị tước đoạt hết mọi quyền tự do cơ bản của con người. Không chấp nhận mãi, một tập đoàn cầm quyền độc tài tham nhũng bất lực, gồm vài chục tên có quyền có thế, tự tung tự tác, tự phong quyền sinh sát vĩnh viễn lên tám chục triệu dân.

Trong khi người dân Việt nhẫn nhục chịu đựng độc tài công an trị từ mấy chục năm nay, thì nhìn quanh thế giới gần đây, tại các quốc gia mà dân trí chẳng hơn gì Việt Nam, người dân của họ đã biết vùng lên, không chấp nhận kẻ cầm quyền độc đoán.

Phải chăng họ can đảm hơn người Việt Nam"

Thực vậy, ai cũng phấn khởi khi thấy người dân tại những nước này đã dũng cảm, rần rộ xuống đường, phản đối chống trả, bất chấp sự đàn áp của các tập đoàn thống trị. Nhưng lại không khỏi buồn tủi bất nhẫn, khi chạnh nghĩ đến số phận người dân Việt, cho đến nay vẫn im lìm, an phận cam chịu, trước sự đè nén của bạo quyền. 

Trước hết là hình ảnh hàng ngàn sư sãi Miến Điện đi biểu tình như thác lũ, phản đối đám quân phiệt thống trị. Mặc dù sau đó họ bị đàn áp đẫm máu, lòng can đảm của họ đã khiến cả thế giới phải cảm phục. Cộng đồng quốc tế đồng thanh lên án, cô lập chế độ độc tài.

Rồi đến cảnh tượng dân chúng tại Pakistan, tại Nga, tại Venezuela … xuống đường hò hét, phản đối, chống lại kẻ cầm quyền. Họ chưa thành công nhưng các chế độ toàn trị tại đây đã phải trùn bước, không dám thẳng tay, tự tung tự tác.

Tướng Musharraf phải bãi bỏ thiết quân luật tại Pakistan, rời khỏi quân đội để có thể tái ứng cử. Trùm Mật vụ Nga Putin không dám thẳng tay đàn áp đối lập, phải thả lãnh tụ phản kháng Kasparov, dẹp bỏ tham vọng ngồi lì thêm một nhiệm kỳ. Tại Venezuela, người dân đã xuống đường, không chấp nhận mưu toan làm «tổng thống suốt đời» của  Hugo Chavez.

Các thể chế độc tài không khi nào có thiện chí thực thi Dân chủ. Chúng chỉ nhượng bộ trước áp lực của đường phố, trước phản kháng của toàn dân. Người dân tại các nước vừa kể đã chứng tỏ sự quyết tâm của họ. Lòng dũng cảm đã bột phát mặc dầu bị kẻ thống trị đè nén lâu dài.

Sau này, nếu họ có cuộc sống xứng đáng, có Tự do, Dân chủ, là dĩ nhiên, là kết quả gặt hái được do lòng quả cảm của họ.

Câu thành ngữ tiếng Anh càng thấm thía!  “Freedom is not free!». Tự Do phải trả giá, không thể được “cho không”!

Vậy thì so sánh với các dân tộc vừa kể, phải chăng người dân Việt chưa chịu “trả giá”, chưa dám nổi dậy lật đổ độc tài vì thiếu can đảm"

Phân tích tâm lý của quần chúng nổi dậy, dĩ nhiên yếu tố “can đảm” là cần thiết. Nhưng một yếu tố khác không kém quan trọng cũng góp phần. Đó là sự “ý thức”. Phải ý thức được tính “cần thiết” của Dân chủ. Phải ý thức được “sự nhục nhã” khi bị tước đoạt hết các quyền cơ bản của con người, như tự do phát biểu, hội họp, như tự do báo chí, công đoàn …. Không nhận thấy Dân chủ là cần thiết, không cảm thấy nhục nhã khi bị tước đoạt hết quyền Tự do, thì cũng rất khó khơi dậy “lòng can đảm”.

Người dân dưới các thể chế toàn trị, đôi khi không thiếu can đảm, mà chỉ vì chẳng có khái niệm gì về Dân Chủ, về Tự Do, những điều hoàn toàn xa lạ đối với họ. Tâm lý quần chúng như vậy đã là những môi trường rất béo bở cho tập đoàn độc tài kéo dài ách thống trị.

Tại những nước Phương Tây, sở dĩ nền Dân chủ được bảo toàn lâu dài, là vì người dân có ý thức rất cao về các quyền tự do cơ bản của con người. Họ quyết tâm gìn giữ, không chấp nhận cho kẻ nào xâm phạm các quyền căn bản này. Họ ý thức được rằng đây là quyền tối thiểu phải có, và cảm thấy nhục nhã nếu bị tước đoạt.

Từ chỗ biết “ý thức”, biết “nhục nhã”, mới dẫn đến sự quyết tâm, mới dẫn đến lòng can đảm.

Những tập đoàn thống trị tại Trung Hoa, Việt Nam, ngoài việc dùng công an nhà tù gây sợ hãi trong quần chúng, còn áp dụng chính sách giáo dục ngu dân, bưng bít thông tin, để người dân chẳng còn ý thức được những quyền lợi cơ bản chính đáng của mình. Từ đó chẳng thể khơi dậy sự quyết tâm, lòng can đảm, để vùng lên tháo gỡ gông cùm.

Cho nên, đánh động ý thức Dân chủ nơi người dân, vạch trần, tố cáo, các vi phạm Nhân quyền của chế độ, vẫn là những bước quan trọng, trong tiến trình dẫn đến sự trút bỏ ách độc tài.

Hiện thời, với các phương tiện truyền thông điện tử hiện đại chưa từng có, đây là cơ hội ngàn vàng để thông tin, để thức tỉnh người dân dưới các thể chế độc tài. Đây là vũ khí sắc bén nhất để chọc thủng “bức tường dối trá, ngu dân” mà các chế độ toàn trị dựng lên giam hãm người dân.

Ngày nay người dân Việt trong nước đang bị trấn áp, bị bịt miệng, chưa thể lên tiếng. Cộng Đồng hải ngoại có bổn phận phải hỗ trợ, phải lên tiếng thay họ. Sự chống đối tập đoàn độc tài Hà Nội của người Việt hải ngoại, sự tố cáo liên tục, phanh phui trước quốc tế, là những hành động khôn ngoan, sáng suốt, cần duy trì.

Trái với sự chê bai, chỉ trích của một số người ác ý, hiện nay, hơn lúc nào hết, chưa bao giờ việc “Chống Cộng bằng mồm” lại hữu hiệu, lại cần thiết như vậy!

Thụy Sĩ, Tháng 12. 2007

Sự khác biệt giữa chủ nghĩa xã hội dân chủ và chủ nghĩa cộng sản là một hệ thống giữ gìn dân chủ và một hệ thống hủy diệt dân chủ. Chủ nghĩa cộng sản, như đã thực sự được dựng lên trong suốt thế kỷ 20, nghĩa là sự cai trị độc đảng, việc xóa bỏ sở hữu tư nhân, một nền kinh tế chỉ huy, và sự trấn áp bất đồng chính kiến cùng tôn giáo. Chủ nghĩa xã hội dân chủ nghĩa là thắng cử, mở rộng nhà nước phúc lợi, và chấp nhận – theo đúng định nghĩa – rằng bạn có thể bị phế truất bằng lá phiếu. Cái thứ nhất chấm dứt dân chủ, cái thứ hai phụ thuộc vào dân chủ. Toàn bộ ý nghĩa của chữ dân chủ, được thêm vào một cách có chủ ý từ một thế kỷ trước, chính là để đánh dấu bức tường ngăn cách đó.
Trong một cuộc hỏi đáp về thỏa thuận Iran, Tổng thống Donald Trump được hỏi một câu rất căn bản: ông có đưa văn kiện này ra Quốc hội hay không? Câu trả lời: “Chưa từng nghĩ tới. Nhưng sẽ làm.” Chính vế đầu mới đáng nói.Trong một nền dân chủ hiến định, Quốc hội không phải là điều “nghĩ tới sau”. Nhất là với những quyết định liên quan đến chiến tranh, hòa bình và đối ngoại — những lĩnh vực mà Hiến pháp không trao trọn cho một cá nhân.
Phó Tổng thống Hoa Kỳ JD Vance hôm nay Chủ nhật đến Thụy Sĩ để mở màn vòng thương thuyết với các giới chức cao cấp của Iran, với kỳ vọng nối dài một thỏa ước đình chiến hãy còn mong manh, nhằm chặn lại cuộc chiến đang làm đảo lộn trật tự Trung Đông. Cuộc họp bốn bên giữa Hoa Kỳ, Iran, Pakistan và Qatar tại Geneva được xem như cơ hội hiếm hoi để cứu vãn hòa bình trên giấy, trong khi ngoài chiến trường, tiếng súng và những toan tính quyền lực vẫn chưa chịu lắng. Trong khi giới thương thuyết ngồi lại ở Geneva, những con số dưới đây cho thấy cái giá thực sự của cuộc chiến đối với các bên tham chiến, với cả vùng, và với phần còn lại của thế giới.
Năm 1948, trên đảo Jura, Scotland, George Orwell viết lời sau đây trong kiệt tác 1984: “Cho dù anh có viết ‘ĐẢ ĐẢO ANH CẢ’ hay không viết, cũng chẳng thay đổi được gì. Cho dù anh có tiếp tục ghi chép, hay bỏ dở cuốn nhật ký, cũng chẳng thay đổi được gì. Cảnh sát Tư Tưởng sớm muộn gì cũng sẽ tóm anh…”
Từ lâu, giới lãnh đạo Nga vẫn tự hào rằng nước này tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong đời sống chính trị quốc tế. Niềm tin đó dựa trên những lý do như vị thế thành viên thường trực tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, tư cách cường quốc hạt nhân và ảnh hưởng đáng kể đối với các nước thuộc Xô Viết cũ. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, thực tế chuyển biến đã làm lung lay các kỳ vọng đó...
Nếu đến hôm nay người ta vẫn phải thí điểm những “phường xã hội chủ nghĩa”, thì điều đó chính là bằng chứng rõ ràng nhất rằng công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam chưa từng đạt được mục tiêu đã đề ra. Lịch sử có thể khoan dung với những sai lầm. Nhưng lịch sử sẽ không tha thứ cho việc kéo dài một sai lầm suốt nhiều thế hệ mà vẫn từ chối thừa nhận nó.
Hệ thống luật quốc tế đang đối diện với những thách thức chưa từng có trong lịch sử cận đại. Luật quốc tế vốn đặt ra các nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực giữa các quốc gia, cấm tiến hành chiến tranh xâm lược và thiết lập hệ thống an ninh tập thể như một phần nối tiếp của các biện pháp chính trị.
Nếu ai chưa hiểu Tổng thống Donald Trump với những hành động và lời nói “khác lạ” thường xuyên vượt qua lòng tự trọng và khả năng tri thức dành cho cương vị một nguyên thủ quốc gia, nhất là một quốc gia lãnh tụ trong thế giới tự do dân chủ, thì câu hỏi là: thực sự ông muốn gì? Ông muốn trở thành đệ nhất nhân trong cả ba khát vọng: ông không chỉ muốn trở thành người giàu nhất, mà còn muốn là vị tổng thống quyền uy bậc nhất, người dám làm những điều mà các tổng thống tiền nhiệm né tránh, và là cái tên được lịch sử ghi ở hàng đầu. Ái tình và của cải chỉ là hai trong ba mục tiêu; mục tiêu còn lại là quyền lực tạo danh vọng, và cả ba đều phải đứng đầu.
Trong thế giới báo chí truyền hình, 60 Minutes là một trong số ít chương trình mang nặng lịch sử. Suốt hàng thập niên, 60 Minutes là tiêu chuẩn vàng của báo chí điều tra, nơi kim phút của trách nhiệm luôn tích… tích… không ngừng để hướng về sự thật. Suốt 58 năm qua, tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ tròn là biểu tượng dễ nhận ra nhất của một nền báo chí Hoa Kỳ. Chiếc đồng hồ bấm giờ mở đầu mỗi tập 60 Minutes – tích, tắc, tích – chưa bao giờ chỉ là hình ảnh minh họa. Theo thời gian, nó là một lời giao ước. Nó nói với khán giả rằng trong một giờ đồng hồ của tối Chủ Nhật, người Mỹ được biết sự thật. Quyền lực phải trả lời câu hỏi và chiếc đồng hồ do những người làm báo giữ nhịp sẽ không vì quyền lợi của bất kỳ ai mà dừng lại.
Cuối tuần qua, trong khi tôi đang nghe ca sĩ Thương Linh hát ở Coffee Factory, một độc giả đến hỏi: “Này, chị viết để làm gì? Bây giờ còn ai đọc những bài bình luận nhức đầu nữa không?” Tôi đã suy nghĩ về câu hỏi ấy. Không phải để thôi viết. Cũng không phải để tránh né suy luận. Nhưng đôi khi, trước một số sự kiện, chỉ cần ghi lại sự việc. Ngày nào. Ở đâu. Chuyện gì. Ai nói. Nói nguyên văn thế nào. Có lẽ anh ta có lý, có những lúc người viết nên “bớt viết”.Trong nhiều năm qua, tổng thống Donald Trump nhiều lần dùng lời lẽ miệt thị các nữ phóng viên ngay trước ống kính. Nhiệm kỳ đầu đã vậy. Sang nhiệm kỳ hai, những cảnh ấy không chỉ trở lại mà còn thô hơn, lỗ mãng hơn, và gần như thành thói quen không thể thiếu trong các buổi họp báo, phỏng vấn, hay bất cứ khi nào có máy quay phim và có phụ nữ cầm micro hay cầm bút làm việc.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.