Hôm nay,  

Huyền Thoại Trung Quốc

15/05/200800:00:00(Xem: 11433)

...nạn Bắc thuộc ấy còn nguy kịch hơn nữa vì là mối quan hệ đồng chí giữa hai đảng cầm quyền...

Chưa đầy 90 ngày nữa, Thế vận hội sẽ khai mạc tại Bắc Kinh sau nhiều biến động bất ngờ, kể cả cơn địa chấn Tứ Xuyên và vụ khủng hoảng Tây Tạng. Đây là cơ hội Trung Quốc tái xuất hiện như một quốc gia phú cường sau mấy trăm năm lụn bại và bị thế giới coi thường. Nhân dịp này, Diễn đàn Kinh tế của đài RFA sẽ kiểm điểm lại thành tựu kinh tế cùng những nan đề của Trung Quốc đúng 30 năm sau khi Đặng Tiểu Bình tiến hành cải cách qua phần trao đổi cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa do Việt Long thực hiện sau đây.

Hỏi: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Thưa ông, Trung Quốc bắt đầu việc thoái kiểm là đếm ngược cho đến ngày khai mạc Thế vận hội tại Bắc Kinh, vào mùng tám tháng Tám tới đây, một biến cố mà lãnh đạo xứ này coi là có ý nghĩa lịch sử. Trong chương trình kỳ này và có thể là nhiều chương trình kế tiếp, chúng tôi xin đề nghị là ta sẽ cùng tìm hiểu về những thành tựu và các vấn đề của Trung Quốc 30 năm sau khi Đặng Tiểu Bình bắt đầu tiến hành cải cách kinh tế.

Câu hỏi đầu tiên của chúng tôi là việc Trung Quốc đang trở thành một cường quốc
kinh tế đã được thế giới coi là một phép lạ, một sự kỳ diệu, điều ấy có đúng không"

- Tôi thiển nghĩ rằng sẽ làm nhiều người ngạc nhiên, thậm chí phật ý, nếu nói rằng sự kỳ diệu ấy là một huyền thoại - tức là một điều không thật mà cứ được loan truyền rộng rãi. Ngược lại, sự thật là ta đang chứng kiến sự tái xuất hiện của một nếp văn hoá dựa trên sự sợ hãi. Nói cho dễ hiểu, lãnh đạo Trung Quốc ngày nay đang sợ hãi nhiều chuyện. Tựa như đứa trẻ bước qua bãi tha ma cứ huýt gió để dằn nỗi sợ, mà những người tin vào huyền thoại ấy lại cứ múa theo điệu nhạc.  

Hỏi: Ông vẫn thường trình bày vấn đề như những nghịch lý, nhưng xin hỏi rằng từ thời Đặng Tiểu Bình tiến hành cải cách đến nay, Trung Quốc đã có ba chục năm chuyển hóa với những thành tựu khó chối cãi và trở thành một mô thức mà Việt Nam muốn noi theo. Thế thì vì sao ông lại coi đó là một huyền thoại, là chuyện không thật"

- Thưa, tất cả đều tùy thuộc vào viễn cảnh xa hay gần mà thôi. Với Trung Quốc, một xứ đã có mấy ngàn năm lịch sử thì ta cũng nên nhìn trong một viễn ảnh trường kỳ thay vì theo dõi tin tức trên các nhật báo kinh doanh đang ca tụng phép lạ Trung Quốc hay là đà tăng trưởng kinh tế cao nhất Đông Á. Chúng ta nên nhìn lại cục diện như vậy để thấy ra cái lẽ tương đối của mọi chuyện.

- Thật ra, sau Thế vận hội và vào dịp cuối năm nay, chúng ta sẽ kiểm điểm thành quả sau 30 năm cải cách của Đặng Tiểu Bình. Nhưng sẵn dịp này thì mình nên phân tích cho rõ những nhược điểm cơ cấu của mô thức kinh tế chính trị Trung Quốc, là điều diễn đàn này đã đề cập tới nhiều lần. Lần cuối cùng là khi chúng ta nói đến hiện tượng "tẩu tán tư bản", vào ngày mùng tám tháng Giêng năm nay.
Hỏi: Nếu vậy, chúng ta sẽ đi lại từ đầu, từ việc cải cách của Đặng Tiểu Bình vào năm 1978. Xin ông nhắc lại bối cảnh của việc cải cách đó cho thính giả cùng rõ.

- Trong viễn ảnh dài, phải nói rằng Trung Quốc may hơn Việt Nam nên bị "sét đánh" hay "điện giật" nhiều lần, nhờ đó mới chịu tiến hành cải cách. Tôi xin được giải thích. Sau khi Mao Trạch Đông chiến thắng tại Hoa lục, Trung Quốc đã rơi vào trạng thái hoang tưởng cộng sản với các chiến dịch "Cải cách Ruộng đất" rồi "Bước nhảy vọt vĩ đại" làm mấy chục triệu người chết và kinh tế kiệt quệ. Nối tiếp những tai họa thuộc diện ý thức hệ đó là nghệ thuật chính trị bá đạo kiểu Đông phương của Mao Trạch Đông, với 10 năm cuồng loạn của cuộc "đại văn cách". Đó là hai lần bị điện giật khiến Đặng Tiểu Bình mới thuyết phục được các đảng viên tiến hành cải cách vì ai ai cũng hãi sợ và muốn tìm một con đường khác.

- Vì vậy, vào tháng 12 năm 1978, tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương kỳ ba của Khoá 11, Đặng Tiểu Bình mới đề xướng khẩu hiệu "Tứ hiện đại hoá" mở đầu cho thời cải cách. Thật ra, ông ta chưa củng cố được quyền lực và chưa thuyết phục được mọi người nên đành mượn lại một ý kiến của Chu Ân Lai vào năm 1975 là phải hiện đại hoá bốn lĩnh vực là nông nghiệp, công nghiệp, khoa học kỹ thuật và quốc phòng. Nhưng, nhờ một vụ điện giật khác, họ Đặng đã có cơ hội nhấn tới và vượt qua chủ trương thật ra chẳng có gì là mới lạ của của một người chuyên nghề che chắn bọc xuôi để tồn tại là Chu Ân Lai.

Hỏi: Ông nói đến vụ "điện giật" khác, đó là biến cố gì vậy"
- Bước đầu của Đặng Tiểu Bình vẫn còn dè dặt. Sau đó, việc Trung Quốc tấn công Việt Nam đầu năm 1979 để gọi là cho một bài học mà bị rát tay vì tổn thất quá nặng là một vụ điện giật thứ hai khiến họ phải cấp tốc cải cách xứ sở để cải tiến hệ thống quân đội lạc hậu của mình.

- Các phần tử thủ cựu nhất trong đảng và nhất là quân đội bèn đồng ý cải cách để kinh tế hồi sinh hầu có thêm phương tiện cho quốc phòng. Nhìn cách khác, Việt Nam có giúp cho Trung Quốc mở mắt và chuyển mình, trong khi tự mình lại say đòn chiến thắng sau năm 1975 nên phạm nhiều sai lầm với chính dân mình, với lân bang và thế giới. Rồi ngày nay lại coi Trung Quốc là mẫu mực và thế lực phải phục tòng! Đã nói tới chuyện 30 năm thì ta không nên quên điều đó.

Hỏi: Trở lại việc cải cách kinh tế của Đặng Tiểu Bình, đâu là những đặc điểm nổi bật để ngày nay Trung Quốc đang trở thành một nền kinh tế có ảnh hưởng trên thế giới"
- Chúng ta có hai tầng suy xét về vấn đề này. Thứ nhất là nếp văn hoá thực dụng của người Hoa. Trên thế giới, nơi nào mà một tập thể người Hoa được sinh hoạt tự do với nhau, nơi đó có thịnh vượng, đến nỗi Hoa kiều đã trở thành thế lực kinh tế trong các nước ngụ cư. Hãy cứ nhìn vào Đài Loan, Hong Kong hay Singapore thì thấy. Bây giờ, nếu một tỷ người Hoa trong lục địa lại được giải phóng sức sản xuất, được Đặng Tiểu Bình khuyến khích làm giàu và được cộng đồng Hoa kiều hải ngoại gửi tiền về tiếp trợ ban đầu thì sản xuất tất nhiên phải tăng. Nhân đây, phải nói rằng trong năm năm đầu của cải cách, đến 80% lượng đầu tư từ bên ngoài vào Hoa Lục là của Hoa kiều ở hải ngoại chứ chưa phải là từ tư bản của Tâu phương. Văn hoá Ấn Độ hay Á Rập lại không như vậy cho nên ta có thấy sự khác biệt.

Hỏi: Đó là yếu tố văn hoá của người Trung Hoa, nhưng tầng suy xét thứ hai là gì"


- Thứ hai và đây là đặc tính về mô thức phát triển của Trung Quốc. Đó chỉ là mô thức Nam Hàn - một bản sao của mô thức phát triển Nhật Bản - nhưng được áp dụng cho một chế độ tự do kinh tế và độc tài chính trị. Về đại thể thì khu vực chủ đạo của nhà nước huy động tài nguyên quốc dân làm vốn tăng trưởng. Cụ thể thì ngân hàng quốc doanh thu góp tiết kiệm tài trợ doanh nghiệp nhà nước với điều kiện ưu đãi để sản xuất và tạo ra việc làm mà khỏi cần lý đến năng xuất hay hiệu quả kinh doanh. Nhật Bản và Hàn quốc cũng không làm khác cho tới khi bị khủng hoảng.
- Giải pháp huy động vốn đầu tư kiểu đó, cùng các xí nghiệp gọi là "tam tư" là doanh nghiệp có sự hùn hạp về vốn đầu tư, kỹ thuật và thương mại của ngoại quốc đã kéo xứ này ra khỏi khủng hoảng. Đó là công lao không nhỏ của Đặng Tiểu Bình và của cả Giang Trạch Dân sau đấy. Nhưng từ năm sáu năm nay, sự thể đã khác và thế hệ lãnh đạo thứ tư, như Hồ Cẩm Đào, Ôn Gia Bảo hay Úy Kiện Hành đang phải bắt đầu hót rác.

Hỏi: Ông nói như vậy, phải chăng là trong ba chục năm qua, tình hình kinh tế xứ này cũng đã có thay đổi, nhưng sau một giai đoạn tương đối phát triển thì nay đã bắt đầu gặp vấn đề"
- Thời Đặng Tiểu Bình, và cả Giang Trạch Dân, kinh tế Trung Quốc là loại kinh tế xe đạp, là nếu cứ đạp mãi thì không đổ, tức là cứ tăng trưởng đều, bằng mọi giá, thì mọi sự đều tốt đẹp vì các vấn đề sẽ tự nhiên được khắc phục. Đây là giới hạn về trí tuệ của một người đầy mưu lược như Đặng Tiểu Bình. Vấn đề thuần về kinh doanh là hệ thống ngân hàng và doanh nghiệp không thể mãi mãi lấy tiền tiết kiệm của dân mà trút vào các dự án kém hiệu năng như thổi bong bóng, hoặc để xuất khẩu bất kể lời lỗ với giá cực rẻ. Lý do là chế độ tín dụng ưu đãi ấy tích lũy nợ thối và doanh nghiệp bị lỗ lã triền miên.

Hỏi: Đó là loại vấn đề thứ nhất, về chiến lược kinh tế. Ngoài ra còn vấn đề nào khác hay không"
- Vấn đề thứ hai, thuộc diện tổ chức chính trị là mô thức kinh tế phải nói là lý tài ấy sản sinh ra nhiều tai họa. Thứ nhất là bất công và gây ô nhiễm môi sinh vì tăng trưởng không có phẩm chất. Thứ hai, vì quá chú trọng tới thị phần xuất cảng và kết hợp với nước ngoài, nó bỏ rơi các tỉnh nằm sâu trong lục địa và nhất là lãng quên thành phần nông dân, là đa số tới 800 triệu người trong nước. Thứ ba, nó gây phân hoá trong cơ chế lãnh đạo vì đảng viên cán bộ địa phương có toàn quyền tham ô và trục lợi, nay đang trở thành những thế lực bất chấp chỉ thị của trung ương.
- Nếu không cải cách tình hình kinh tế xã hội đó thì Trung Quốc gặp loạn vì bị vỡ đôi trong sự phân hoá. Mà nếu cải cách thì có khi đảng sẽ vỡ đôi. Khi muốn tái phân lợi tức cho nông thôn và các tỉnh bị khoá trong lục địa, thế hệ lãnh đạo mới phải tập trung quyền lực về trung ương là họ muốn thực hiện từ năm 2003 mà điều không dễ và chưa có kết quả.
- Ngày xưa, Mao Trạch Đông cũng muốn tập trung quyền lực nên phải xua con nít làm hồng vệ binh đánh thẳng vào đảng. Ngày nay, không ai có thể làm như vậy được nên bài toán càng trở thành nan giải hơn. Nói cho gọn thì muốn điều chỉnh những bất toàn của mô thức Đặng Tiểu Bình thì phải có dân chủ trong một thể chế liên bang, là điều đảng Cộng sản không muốn và không dám thử nghiệm. Chúng ta cần nhiều chương trình nữa thì mới nói hết những mâu thuẫn trong mô thức Trung Quốc, từ nợ thối của ngân hàng tới kinh tế nóng máy, bị lạm phát, khát dầu, đói ăn hay nông dân biểu tình đòi đất, v.v.. Những vấn đề ấy cho thấy xứ này chẳng có phép lạ và những thành tựu biểu kiến chỉ là một lớp men tráng bên ngoài mà thôi.

Hỏi: Phải chăng vì vậy mà từ đoạn mở đầu, ông nói đến một nếp văn hoá dựa trên sự sợ hãi"
- Những người lãnh đạo Trung Quốc đều không thể quên rằng trong lịch sử mấy ngàn năm của xứ này nhiều triều đại đã tiêu vong vì nông dân nổi loạn. Mao Trạch Đông lên cầm quyền cũng nhờ làn sóng nông dân đó. Một đặc tính lịch sử khác là chuyện hợp tan, là tương quan luôn luôn đối lập giữa trung ương và phiên trấn. Khi trung ương mạnh thì xứ sở ổn định nhưng khó phát triển; khi các địa phương có quyền thì xứ sở dễ bị loạn và bị phân hoá thành nhiều nước.
- Nhưng, nỗi sợ hãi lớn nhất của Trung Quốc là họa ngoại xâm. Trung Quốc đã từng bị đe dọa và khuất phục bởi các sắc tộc ở ngoại biên mà nền văn hoá duy chủng của Trung Hoa khinh thường gọi là Tứ Di. Vạn lý Trường thành được họ xây dựng từ thời Chiến quốc, sau này được Tần Thủy hoảng củng cố và qua thời nhà Minh thì được tăng cường gấp bội cũng là để che thân. Đây là một quốc gia mà hệ thống phòng thủ đã thành một kỳ quan của thế giới có thể thấy từ mặt trăng. Vậy mà Hán tộc vẫn bị các sắc dân thiểu số hay ngoại quốc xâm lăng và cai trị nhiều lần trong lịch sử.

Hỏi: Nếu vậy, lãnh đạo Trung Quốc phải làm gì trước những thách đố ấy"
- Bây giờ đảng Cộng sản Trung Quốc nắm quyền nhờ đem lại cơm áo và vuốt ve tự ái Hán tộc. Nếu kinh tế sa sút, chuyện áo cơm trở thành vấn đề, nhất là khi người dân so sánh với mức sống của dân chúng Đài Loan. Tự ái dân tộc là việc thống hợp Đài Loan thì không dễ, chỉ còn lễ lạc của Thế vận hội làm vui. Trong hoàn cảnh ấy, biến động ngoài Tân Cương vì dân Hồi giáo đòi quyền tự trị, hay vụ khủng hoảng Tây Tạng vì sự phản đối của thế giới càng khiến lãnh đạo xứ này lo sợ hơn. Ba mươi năm sau việc cải cách của Đặng Tiểu Bình, Trung Quốc phải nghĩ đến cải cách chính trị, nhưng làm sao tiến hành mà không bị động loạn là một bài toán nan giải.

Hỏi: Câu hỏi cuối, Việt Nam rút tỉa được những gì từ bài học cải cách của Trung Quốc" 
- Bài học đầu tiên thuộc về văn hoá và lịch sử, là trong cả ngàn năm, dân ta đã quá quen với điều mà tôi xin gọi là "chủ nghĩa phục Tầu". Đánh thắng ngoại xâm từ phương Bắc rồi lại cai trị dân mình theo Bắc phương, vì vậy, chúng ta vẫn khó ra khỏi tư tưởng Bắc thuộc.
- Ngày nay, nạn Bắc thuộc ấy còn nguy kịch hơn nữa vì là mối quan hệ đồng chí giữa hai đảng cầm quyền. Trong khi ấy, thế giới đã đổi thay và nếu thực sự thiết tha đến độc lập thì Việt Nam phải dám bước ra khỏi cái bóng rợp của Trung Quốc, và nhất là đừng coi "xã hội chủ nghĩa với màu sắc Trung Hoa" là khuôn vàng thước ngọc và mô thức Trung Quốc là phép lạ kỳ diệu. Trong năm nay, chúng ta sẽ còn dịp nhìn vào từng mặt trái của phép lạ này trong nhiều chương trình về kinh tế hàng tuần.

Hiểu một cách đơn giản, văn hoá là một khái niệm tổng quát để chỉ sự chung sống của tất cả mọi người trong cùng xã hội, bao gồm ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo và luật pháp. Do đó, luật pháp là một thành tố trong toàn bộ các hoạt động văn hoá và có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển xã hội, một vấn đề hiển nhiên...
Bất kỳ là ai, trẻ cũng như già, nữ cũng như nam, thật là tò mò, nếu chúng ta có thể biết được tương lai gần hoặc xa của mình, của người khác. Biết được tương lai là chuyện thú vị, hoặc căng thẳng, hoặc sôi nổi, hoặc sợ hãi. Ví dụ như bạn tiên đoán được ba tháng nữa sẽ gặp tai nạn hoặc cuối năm nay sẽ bị vợ ly dị. Nhưng có thể nào tiên đoán như vậy không? Làm gì có, chỉ là chuyện giả tưởng, chuyện phim ảnh và tiểu thuyết. Chuyện mấy bà phù thủy nhìn vào thau nước hoặc quả bóng kính trong thấy được chuyện mai sau, việc mấy ông thầy bói bấm tay nhâm độn, lật bài bói toán, v… v… chỉ thỏa mãn giấc mơ và tưởng tượng. Trong thực tế, chuyện đang xảy ra còn chưa giải quyết xong, nói chi chuyện ngày mai. Không đúng, nếu biết chuyện ngày mai thì chuyện hôm nay vô cùng dễ giải quyết. Ví dụ, “nếu biết rằng em sẽ lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em lắm, nhưng lấy cho anh đỡ lạnh lòng.” (Thơ vô danh). Thay vì cứ đeo đuổi hai ba năm sau, kéo dài buồn bã, đau khổ, để rồi “Lòn
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.