Hôm nay,  

Ngày Nhớ Ơn Cha

13/06/200900:00:00(Xem: 5830)
NGÀY NHỚ ƠN CHA
Tuyết Mai
Theo truyền thống văn hóa Việt Nam nói riêng và của Á Đông nói chung , con cái được cha mẹ  và nhà trường dạy dỗ từ thuở ấu thơ:
 “Công cha như núi Thái  Sơn,
Nghĩa Mẹ như knước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.
 Những tình cảm thương yêu, quý trọng , hiếu thảo với cha mẹ của người Á Đông được bộc lộ một cách thầm lặng,  quanh năm suốt tháng chứ không chỉ có một ngày trong năm. 
Còn Tây Phuơng và Hoa Kỳ, có Ngày Cho Mẹ (Mother’s Day),  Ngày  Cho Cha (Father’s Day) vì thường ngày mọi người rất  bận rộn với việc học hành, công việc làm ăn sinh sống, tình cảm thương yêu cha mẹ được đặt ở trạng thái thụ động, nên cần có một ngày đặc biệt để nhắc nhở con cái nhớ đến công ơn  cha mẹ, đây cũng là một truyền thống tốt đẹp.
Nếu so sánh  “Ngày cho Mẹ” và “Ngày cho Cha” thì chúng ta thấy có một sự khác biệt. Ngày Cho Mẹ được nhiều đoàn thể cũng như nhiều cá nhân  tổ chức để vinh danh hiền mẫu hơn Ngày Cho Cha.
Trong văn thơ, ca dao Việt Nam cũng có không biết bao nhiêu bài ca ngợi tình mẹ thiêng liêng, bao la như trời cao, bể rộng.  Còn thi nhạc ca ngợi tình cha thì rất hiếm hoi, gần như không tìm thấy trong những tập thơ của những nhà thơ nổi tiếng trong  văn đàn VN.
Tại sao" Có phải vì Cha không thương yêu, không lo lắng cho con cái như người mẹ" Hay vì Cha   là  đàn ông, tính tình trầm lặng, ít  bộc lộ,  không gần gũi với con cái nên con  cái  ít cảm nhận đựơc tình thương như từ trái tim của mẹ - một kỳ quan của vũ trụ"
Sự thực thì trong sự sinh thành  dưỡng dục con cái, công lao cũng như lòng thương yêu lo lắng cho con của người cha cũng bao la như của người mẹ.
Tưởng cũng nên nhắc lại lịch sử và ý nghĩa của “Ngày Cho Cha” ở Hoa Kỳ. Theo tài liệu thì người đề xướng “ Ngày Cho Cha”  (Father’s Day) là bà Sonora Smart Dodd ở Spokane, Washington State. Bà có ý nghĩ nên có một ngày  đặc biệt cho cha trong lúc nghe thuyết giảng về Ngày  Cho Mẹ năm 1909.
Mẹ của Bà đã mất khi sinh đứa con thứ sáu.  Bà được nuôi dưỡng bởi người cha là Ông William Jackson Smart , một cựu chiến binh của Civil War. Ông Smart  đã nuôi dưỡng sáu đứa con  ở vùng nông trại phía Tây tiểu bang Washignton. Khi lớn lên Bà Dodd mới nhận thức được sự hy sinh vô cùng của cha,  Bà muốn cha của Bà biết ông là người rất đặc biệt đối với bà. 

Cha của bà sinh vào Tháng Sáu nên bà đã chọn  “Ngày  Cho Cha”  đầu tiên  vào ngày 19  Tháng 6, 1910 ở Spokane, Washignton State.  Cùng lúc đó nhiều người ở nhiều nơi trong tỉnh và các thành phố ở Mỹ bắt đầu tổ chức ngày cho cha. Năm 1924 Tổng Thống Calvin Coolidge ủng hộ việc công nhận ngày cho cha trên toàn quốc.
Năm 1926 “A National Father’s Day Commitee” được thành lập ở New York. Ngày này được công nhận bởi  “A Joint Resolution of Congress”  vào năm 1956. Năm 1966 Tổng Thống Lyndon Johnson ký  bản văn thư  công nhận Chủ Nhật thứ ba của Tháng Sáu là ngày”Father’s Day”. Ngày này không phải chỉ để vinh danh người cha, mà bất cứ người nào đã thay thế vai trò của ngừơi cha trong sự nuôi dưỡng, giáo dục con cái như cha nuôi, chú bác, ông nội, ông ngoại…
Ngày nhớ ơn Cha được hình thành từ sự biết ơn của một người con gái đã nghĩ đến công lao của cha mình. Tất cả những người cha đáng được con cái nhớ ơn vinh danh trong ngày đặc biệt này.
Đất nước Việt Nam chìm đắm trong  chiến tranh bao nhiêu năm, theo sau là những năm tháng bị đọa đày trong ngục tù Cộng sản,  Hoa Sơn đã nhớ lại  hình ảnh người cha qua mấy vần thơ:
“Vẽ mặt trầm tư đượm nét buồn
Thường ngồi lặng lẻ lúc mưa tuôn
Bao nhiêu u ần chìm trong mắt
Sầu héo lên nhau tựa sóng cuồng
Ngày trước cha tôi rất đẹp trai
Phiêu lưu mạo hiểm những năm dài
Bốn vùng chiến thuật giày in gót
Nào biết giờ đây phải đắng cay
Cha tôi buồn lắm nhưng người dấu
Tối tối bên tôi cố mĩm cười
Kể lại tôi nghe ngày tháng cũ
Kỷ niệm buồn đau chốn ngục tù.”
(Cha tôi – Hoa Sơn)
Trong hoàn cảnh ly hương, lưu lạc phương trời,  nhiều người Việt Nam đã  không đựơc kề cận  mẹ  cha lúc tuổi già. Ước muốn cuối đời của cha mẹ  là được gặp mặt lại tất cả các con trước khi nhắm mắt. Đó là một ước mơ nhỏ bé, đơn giản nhưng nhiều người không thể thực hiện đựơc, đã để lại  niềm đau không nguôi  trong lòng không biết bao nhiêu nguời tha hương nhất là trong ngày nhớ ơn cha:
“Van cha, cứ thế, con ngồi lặng
Nói sao, hà cớ chẳng về thăm
Thâm ân cha mẹ cho đời sống
Cân thước đâu đo nỗi vô cùng
Lỡ có là chim, còn hiểu được
Vì đâu biền biệt tận chân mây
Làm kiếp người sao con chọn nghiệp
Dang cánh bay tít tắp đường dài"
Sớm nay tin vội: Cha yên ngủ
Nhắm mắt rồi chưa thấy mặt con
Mơ hồ nghe tiếng cha trong gió
Con con ơi  bất hiếu chưa từng!
Cố dõi mắt trông  ngoài vô tận
Thấy gì đâu người khuất núi xa
Chỉ thấy bóng con đầu cúi xuống
Tay run run bưng mặt đầm đìa
Hồn thương tiếc gữi cùng nhang khói
Tro bụi: cha, vừa rắc xuống sông
Nước chảy dòng xuôi hay ngược lại
Cha còn nghe tiếng thở dài con"
“Cha Còn Nghe Tiếng Thở Dài Con"”  ( Nguyên Nghĩa)

Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.