Hôm nay,  

Sai Lầm Chiến Lược

27/01/201000:00:00(Xem: 9043)

Sai Lầm Chiến Lược

Vũ Linh

...ưu tiên sai lầm trong ngắn hạn, và hướng đi sai lầm trong dài hạn...
Cách đây một năm, TT Barack Obama nhậm chức trong không khí tưng bừng phấn khởi của đoàn kết và hy vọng.
Quen với truyền thống dân chủ chấp nhận quyết định của đa số, dân Mỹ đổ xô ủng hộ tân tổng thống, dành cho ông những cảm tình chân thành, cầu mong cho ông mang nước Mỹ ra khỏi những khó khăn chồng chất cuối thời Bush. Hậu thuẫn của tân tổng thống vọt lên tới mức bất bình thường trên 65%, hơn xa số phiếu 53% ông đã thu được trong cuộc bầu cử. Tức là một số không nhỏ những người trước đó bỏ phiếu cho ứng viên Cộng Hòa John McCain cũng đã quay qua ủng hộ tân tổng thống.
Tỷ lệ những người vẫn kiên cường không ủng hộ ông chỉ lẹt đẹt ở mức 20%, đưa đến khoảng cách biệt trên 45%, lớn hơn bất cứ tân tổng thống nào khác trong lịch sử cận đại Mỹ.
Nhiều quan sát viên chính trị lúc đó cho rằng mức hậu thuẫn này quá lớn và không thực tế. Nhưng rồi họ cũng cho rằng đây là kết quả của cách tranh cử của ứng viên Obama: ông vẽ ra một bức tranh quá đẹp, hứa hẹn một nước Mỹ gần như hoàn hảo trong khi bảo đảm với dân Mỹ là “Đúng, Chúng Ta Có Thể” (Yes, We Can).
Thực tế không giống hoài bão. Một năm sau khi chấp chánh, TT Obama đã chứng kiến một tình trạng khác xa với hứa hẹn của ông và hy vọng của dân Mỹ.
Trên cột báo này, chúng ta đã có dịp bàn qua nhiều lần về thành quả một năm chấp chánh của TT Obama, bây giờ chỉ cần tóm lược đại cương: tất cả các chương trình lớn lao ứng viên Obama hứa hẹn với dân Mỹ, chưa có cái gì ra cái gì hết. Hứa hẹn vẫn còn là hứa hẹn. Hy vọng vẫn còn là hy vọng. Từ chuyện chấm dứt chiến tranh tại Vùng Vịnh đến chuyện bảo đảm an toàn chống khủng bố; từ phục hồi kinh tế đến chỉnh đốn hệ thống ngân hàng; từ đối phó với nguy cơ hâm nóng địa cầu đến bảo đảm năng lượng sạch; và từ cải tổ y tế đến giải quyết thất nghiệp. Tất cả đều vẫn còn trong tình trạng “dự án chưa hoàn tất”.
Dân Mỹ chưa bao giờ được tiếng là kiên nhẫn. Một năm mà chưa hoàn tất được gì là không chấp nhận được. Kết quả cụ thể là mức hậu thuẫn của dân Mỹ đối với TT Obama rớt nhanh hơn sao chổi rụng.
Theo thăm dò của Real Clear Politics, mức cách biệt trung bình giữa hậu thuẫn và chống đối hiện đã rớt từ 45% xuống còn có 4%. Mức hậu thuẫn giảm từ 65% xuống còn 49%, trong khi mức chống đối tăng từ 20% lên 45%. Theo Washington Post, mức hậu thuẫn suy giảm trong tất cả các khối cử tri, bảo thủ, cấp tiến, độc lập, trẻ già, nam nữ, giàu nghèo, ngoại trừ khối dân da đen vẫn hoàn toàn trung thành.
Nhiều người ủng hộ Obama lên tiếng kêu gọi thông cảm với tân tổng thống và hiểu cho ông tất cả đều là những chương trình lớn lao, cần thời giờ mới có kết quả cụ thể, không thể thực hiện một sớm một chiều. Dĩ nhiên là họ cũng không quên đổ thừa những khó khăn quá lớn là tại Bush hết.
Thật ra, dân Mỹ không trách TT Obama vì ông chưa làm được gì. Họ cũng hiểu một năm chưa đủ thời gian để thực hiện các chương trình vĩ đại của ông đưa ra. Đúng ra, họ chống đối ông trên hai vấn đề: ưu tiên sai lầm trong ngắn hạn, và hướng đi sai lầm trong dài hạn.
ƯU TIÊN NGẮN HẠN SAI
Vẫn theo Washington Post, ưu tư hàng đầu của dân Mỹ hiện nay là các vấn đề kinh tế trong đó dĩ nhiên là có công ăn việc làm. Theo thăm dò mới nhất, đó là mối quan tâm quan trọng nhất của 42% dân Mỹ.
Con số này chẳng có gì đáng ngạc nhiên.
Chúng ta ra đường ngay trong khu Bolsa đã thấy tình trạng buôn bán ế ẩm, siêu thị nhiều người đi coi mà chẳng mấy ai mua, tiệm ăn lưa thưa vài người, phở mì xuống giá để lôi cuốn khách. Hàng loạt cửa tiệm và nhà hàng “tưng bừng khai trương rồi âm thầm đóng cửa”. Nhìn ngang nhìn dọc, đâu đâu cũng thấy nhà bán đổ bán tháo hay bị sai áp.
Chúng ta nhìn chung quanh cũng thấy đầy rẫy bạn bè bà con mất việc. Thống kê chính thức cho thấy hiện nay tỷ lệ thất nghiệp là trên 10%, cao nhất từ hơn hai chục năm qua. Nhưng con số này thiếu chính xác vì chỉ ghi nhận những người “chính thức” thất nghiệp, lãnh tiền thất nghiệp và tích cực ghi tên tìm việc làm. Do đó không tính những người thất nghiệp mà không xin tiền thất nghiệp hay không ghi tên kiếm việc. Cũng không tính những người làm bán thời, hay những người làm nghề bán nhà, bán xe, bán bảo hiểm,… hiện tuy vẫn mang tiếng là không thất nghiệp, nhưng chỉ có mức lợi tức cầm hơi là may. Theo các chuyên gia kinh tế, mức thất nghiệp thực sự hiện nay là gần 18%. Nói cách khác, cứ mười người Mỹ thì đã có hai người có vấn đề với công ăn việc làm, thất nghiệp hoàn toàn hay thất nghiệp một phần. Đó là chưa kể một số lớn những người khác đang có việc nhưng phập phòng lo sợ không biết mất việc lúc nào. Thống kê mới nhất cho thấy Tháng Chạp vừa qua, gần một năm sau khi TT Obama nhậm chức, tỷ lệ thất nghiệp vẫn gia tăng trên 43 tiểu bang.
Nhìn vào bức tranh trên thì hầu như ai cũng thấy ưu tiên số một hiện nay của Nhà Nước phải là phục hồi kinh tế, tạo công ăn việc làm càng sớm càng tốt.Hầu như ai cũng thấy vậy, ngoại trừ TT Obama và các cộng sự viên và cố vấn của ông.
Tình trạng thất nghiệp tới mức kỷ lục đã kéo dài cả năm trời mà chẳng ai thấy có tiến triển gì, cũng như chẳng ai thấy TT Obama đặc biệt chú tâm giải quyết nạn thất nghiệp. Trái lại, ưu tiên số một của TT Obama hiện nay như chúng ta biết chính là vấn đề cải tổ y tế, với ưu tiên số hai là vấn đề… hâm nóng địa cầu!
Cải tổ y tế là một vấn đề quan trọng cần phải trực diện, đó là điều ít ai phản đối, ít ra cũng vì lý do nhân đạo. Ngoài ra đó cũng là một vấn đề chính trị quan trọng cho đảng Dân Chủ khi ta biết rằng đại đa số khối ba chục triệu người mới nhận được bảo hiểm y tế sẽ trở thành một khối cử tri trung kiên và quan trọng của đảng Dân Chủ trong tương lai. Đây là yếu tố then chốt trong bài toán của TT Obama và quốc hội Dân Chủ mặc dù không ai dám lên tiếng nhìn nhận.


Nhưng với đa số dân Mỹ, cải tổ y tế không phải là ưu tư hàng đầu của họ. Hơn 85% dân Mỹ hiện nay đang có bảo hiểm và họ thỏa mãn với bảo hiểm đó, không thấy nhu cầu sống chết là phải có cải tổ. Có cải tổ thì tốt, không có cũng chẳng sao. Đã vậy, cuộc tranh luận về cải tổ suốt nửa năm qua đã làm cho họ nhìn thấy rõ viễn tượng chưa hẳn là tốt đẹp sau khi cải tổ: họ lo sợ mất những quyền lợi đang có cũng như phải chịu chi phí y tế cao hơn trong tương lai, hay là phải đóng thuế cao hơn.
Khoan nói tới hâm nóng địa cầu, chỉ so sánh hai nhu cầu việc làm và cải tổ y tế, người dân Mỹ có cảm tưởng TT Obama đã hoàn toàn đặt sai ưu tiên, tập trung cố gắng vào một chuyện không cấp bách trong khi lại lơ là một chuyện sinh tử trước mắt.
HƯỚNG ĐI LÂU DÀI SAI
Gia tài Bush để lại, bất kể lỗi tại ông hay không, là một gia tài không hấp dẫn. Dân chúng Mỹ muốn thay đổi. Ứng viên Barack Obama nhìn thấy ước vọng đó, rao bán “Thay Đổi và Hy Vọng”, và thành công vượt ra ngoài mọi dự đoán. Ông hạ được cả bà Hillary Clinton lẫn ông John McCain vì cả hai vẫn bị dân Mỹ nghi ngờ là thuộc chế độ “vẫn như cũ”.
Đắc cử tổng thống trong huy hoàng, ông kéo theo sự đại thắng của đảng Dân Chủ tại cả Thượng Viện lẫn Hạ Viện, đưa đảng này vào vị thế kiểm soát tuyệt đối cả hành pháp lẫn lập pháp. Chiến thắng lớn lao này bị TT Obama và nhóm lãnh đạo Dân Chủ hiểu như là một tuyên cáo của dân Mỹ muốn thay đổi hướng đi của nước Mỹ sau ba mươi năm sống dưới chế độ bảo thủ của TT Reagan và phe Cộng Hoà.
Trước đó, TT Reagan và các vị kế nhiệm Cộng Hòa (Bush cha và Bush con) trong chính sách đối nội, đã chủ trương giảm thuế để kích động đầu tư phát triển kinh tế, giảm thiểu tối đa sự can thiệp của Nhà Nước và công chức qua quá nhiều luật lệ khắt khe kiểm soát mọi sinh hoạt để phát huy tiềm năng tư nhân.
Chính sách đó đã mang lại cho nước Mỹ một chu kỳ thịnh vượng kéo dài ba thập niên, cho đến những năm 2007-2008. Chu kỳ bảo thủ đó đã bị gián đoạn phần nào bởi thời kỳ tám năm Clinton, nhưng TT Clinton, với quan điểm ôn hòa cũng như vì tính nhút nhát, đã không có quyết định quan trọng nào lật ngược chính sách của Reagan.
Bây giờ TT Obama tự cho là có trách nhiệm phải hoá giải những gì Reagan đã khởi xướng đầu thập niên 80, và hai ông Bush phát huy. Ông cũng nhìn cái thế Dân Chủ kiểm soát toàn bộ guồng máy chính trị Mỹ hiện nay như là một cơ hội hiếm, không dễ gì kéo dài qua khỏi cuộc bầu cử quốc hội năm 2010.
Do đó cần phải hành động mau và mạnh để thay đổi triệt để.
Vấn đề ở đây là cái “thay đổi” mà ông nghĩ đến và hô hào không phải là cái “thay đổi” mà dân Mỹ mong muốn.
Trong khi dân chúng nhìn vào những thất bại của TT Bush và muốn có sự thay đổi để cuộc sống của họ khá hơn một chút thì TT Obama lại nghĩ đến chuyện thay đổi chế độ tận gốc rễ: phục hồi lại vai trò “vú em” của Nhà Nước, đẩy mạnh sự can thiệp của chính quyền vào mọi sinh hoạt, phát triển kinh tế dựa trên các dự án quốc doanh đồ sộ tốn kém, theo mô thức của TT Roosevelt, và tái phân phối lợi tức dưới hình thức đánh thuế “nhà giàu” để chi trả các dịch vụ xã hội cho “người nghèo”.
Suy tư của ông đưa đến quyết định tung ra những chương trình khổng lồ. Chỉ trong vòng ba tháng đầu sau khi chấp chánh, ông đã chi ra trên dưới hai ngàn tỷ cho kế hoạch kích động kinh tế, trực tiếp can thiệp vào việc cứu nguy ngân hàng và các hãng xe. Rồi đến cải tổ y tế tốn kém cả ngàn tỷ nữa.
Dân chúng Mỹ bàng hoàng nhìn tân tổng thống tung lưới Nhà Nước chụp lên đầu thiên hạ và vung tiền qua cửa sổ. Hàng triệu người xuống đường tham gia các cuộc mít-tinh Tea Parties để phản đối và bày tỏ sự lo sợ đối với tình trạng sưu cao thuế nặng trong tương lai. Khối dân cử Cộng Hoà chống đối đã đành, nhưng khối dân cử Dân Chủ bảo thủ cũng hoảng sợ không kém.
Hiển nhiên là TT Obama đã sai lầm khi đã lượng giá sai các cuộc bầu cử năm 2006-2008, đi quá xa về phía tả, xa hơn ước vọng của dân Mỹ quá nhiều.
***
Những quyết định của ông đã khiến dân Mỹ thay đổi cái nhìn đối với ông.
Tỷ lệ hậu thuẫn ông rớt mau chóng trong khi các đồng minh cấp tiến thất cử tại những thành đồng cấp tiến Virginia và New Jersey hồi tháng Mười Một năm ngoái. Tuần vừa qua, đến phiên thành đồng cấp tiến Massachusetts lên tiếng: cái ghế thượng nghị sĩ mà cố TNS Ted Kennedy ngồi trong 47 năm bất ngờ lọt vào tay một ứng viên Cộng Hòa vô danh, chỉ được biết đến cách đây vài tháng, qua việc chống lại sách lược xuống thang chống khủng bố và nhất là chống lại cải tổ y tế.
Theo báo phe ta Washington Post, dân Massachusetts bỏ phiếu cho Cộng Hòa để chống lại hướng đi thiên tả, chống lại sự bành trướng vai trò của Nhà Nước, cũng như chống lại cải tổ y tế. Cả nước nhìn thấy thông điệp của dân Virginia, New Jersey và Massachusetts, ngoại trừ TT Obama.
Ngay khi dân chúng bỏ phiếu bầu ứng viên Cộng Hòa tại Massachusetts, TT Obama vẫn tìm được lý do để… đổ thừa cho Bush. Ông tuyên bố đó là những lá phiếu nói lên sự bất mãn của dân chúng đối với chính quyền, một sự bất mãn mà ông cho là đã có từ tám năm nay. Thật là lạ lùng, nếu là những lá phiếu chống Bush, sao ứng viên Cộng Hòa lại thắng" Chỉ có chính trị gia cỡ Obama mới có khả năng ngụy biện như vậy.
Rồi sau đó, ông đề nghị một loạt biện pháp can thiệp mạnh hơn nữa vào hệ thống ngân hàng. Phản ứng của giới tài chánh: thị trường chứng khoán rớt ngay hơn 500 điểm trong ba ngày liền.
Chiến thắng của Cộng Hoà tại Massachusetts là động đất, là tiếng chuông cảnh tỉnh TT Obama và các đồng chí cấp tiến cực đoan của ông. TNS Dân Chủ Evan Bayh của Indiana tuyên bố: “nếu chúng ta (đảng Dân Chủ) thua tại Massachusetts mà tiếng chuông thức tỉnh đó vẫn không đánh thức được thì chẳng còn gì đánh thức được” chúng ta nữa.
Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: [email protected].

Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tuyên bố mục tiêu của Washington là chấm dứt chế độ thần quyền tại Iran và buộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Islamic Revolutionary Guard Corps, IRGC) đầu hàng; nếu không, Hoa Kỳ sẽ sử dụng vũ lực, đồng thời chấm dứt mọi nỗ lực đàm phán liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran.
Có lẽ không bao giờ Melania Trump, người từng là Melanija Knavs, rồi Melania Knauss, trước khi trở thành Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump, tưởng tượng được là sẽ có ngày đó. Ngày bà điều hợp một hội nghị thượng đỉnh giáo dục toàn cầu, và nói về… giáo dục. Vì sao thì, chẳng cần phải nói rõ. Có những chuyện khi người ta đã muốn che giấu, thì nếu có đưa ra bằng chứng, họ cũng có trăm ngàn cách phản biện. Huống chi, đó là Melania Trump. Nhưng có một điều, không nói không được. Nghĩ là nói giùm bà đệ nhất phu nhân, cũng được. Hay trừu tượng hơn, nói giùm nhân loại vậy. Đó là, bà đã mạnh dạn, dũng cảm, đứng trước toàn thế giới, và nói về…Plato.
Giữa một thế giới đã quá quen với những lời ngụy biện, câu nói của Đức Giáo hoàng Leo XIV trong Thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá tại Quảng trường Thánh Phêrô vang lên như một sự thật không thể né tránh: “Chúa Giêsu là Vua Hòa Bình, không ai có thể nhân danh Ngài để biện minh cho chiến tranh.” Đó không chỉ là một câu trong bài giảng lễ. Đó là tiếng nói của lương tri, cất lên đúng lúc chiến tranh lan rộng, khi thế giới bị kéo vào những xung đột dữ dội, ngôn ngữ quyền lực trở nên thô bạo, và nhân tính bị thử thách đến tận cùng.
Từ thương trường bước vào chính trường, Donald Trump mang theo cùng một thứ nhãn hiệu: tên ông. Trong thời làm ăn, đó là thương hiệu. Nó in lên cao ốc, chai rượu, thịt bít-tết. Đó là lối tiếp thị của một nhà buôn, ồn ào nhưng vẫn còn nằm trong khuôn khổ tư doanh. Nhưng khi người mang thương hiệu ấy đã thành nguyên thủ quốc gia, câu chuyện đổi tính chất. Nó không còn là quảng cáo nữa. Nó là dấu hiệu về quyền lực và về cách người cầm quyền nhìn quốc gia. Trong nhiệm kỳ thứ hai, tên Trump không chỉ là chữ trên tài sản riêng. Nó bước vào cơ quan công quyền: tòa nhà liên bang mang tên ông, băng-rôn treo mặt ông, chương trình của chính phủ in chữ ký ông, phi trường đổi sang tên ông. Tên một người đang dần đi vào các biểu tượng của quốc gia. Đó là điều mà một nền cộng hòa phải cảnh giác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.