Hôm nay,  

Ách Tắc Toàn Cầu

08/10/200800:00:00(Xem: 11781)

 

Nguyễn XuânNghĩa

Cầu mãi rồi cũng được suy trầm!Khi thị trường chứng khoán hoảng loạn như chúng ta thấy hôm Thứ Ba tại New York, mọi suy tính đều sẽ trật vuột!Thị trường mở cửa với hy vọng le lói và tăng được chừng 1% rồi cứ thế mà tuột. Lý do là Thống đốc Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ tuyên bố rằng kinh tế có thể bị suy trầm và tai họa có thể kéo dài, nhưng ông hàm ý trấn an rằng Ngân hàng Trung ương sẽ giảm lãi suất. Trong  nỗi lo sợ chung, lời trấn an đó lại càng gây hốt hoảng! Vì vậy, ta hãy tạm quên thị trường chứng khoán như quên một cái hàn thử biểu bị cháy - mà nhìn qua hướng khác.Tin vui cho những người ưa báo động rằng Hoa Kỳ đang bị khủng hoảng: quả thật là kinh tế Mỹ nay đã bị suy trầm! Nếu không khéo chống đỡ thì còn bị suy thoái. 

<"xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:office" />

Suy trầm là khi tốc độ tăng trưởng sản xuất từ 2% trong năm qua có thể chỉ còn chừng 1,50% cho cả năm nay chẳng hạn. 

Suy thoái là khi không còn tăng trưởng sản xuất nữa, dù thật thấp như 0,50% hay 1%, mà sản xuất còn suy sụp hơn và lan rộng hơn.Từ đầu năm 2002 đến nay, kinh tế Mỹ vẫn có tăng trưởng và sau sau năm như vậy, chu kỳ kinh doanh sẽ có lúc tự điều chỉnh, sản xuất đình đọng và suy trầm mất chừng một năm. 

Điều ấy, mọi người đều chờ đợi từ đầu năm. 

Điều không ai chờ đợi và đoán trước được, là thị trường gia cư bị bể đã dẫn tới khủng hoảng tín dụng thứ cấp, từ tín dụng thứ cấp dẫn tới thị trường tín dụng nói chung, và kéo theo sự sụp đổ hàng loạt cơ sở tài chánh bất cẩn hay bất lương. 

Khủng hoảng tài chánh bùng nổ từ giữa tháng Chín đã gieo họa cho nền kinh tế vào thời điểm ngặt nghèo là đang chờ đợi một vụ điều chỉnh, nghĩa là đẩy kinh tế đến nạn suy trầm. 

Sau này, người ta mới biết là nặng tới đâu và kéo dài đến bao giờ. 

Trong khi chờ đợi, mọi người đều đoán là sẽ bị nặng và lâu. 

Sản lượng của Mỹ trong năm tới có khi không tăng, dù chỉ bằng hạt bụi sau dấu phẩy, mà sẽ giảm. 

Nghĩa là kế hoạch cấp cứu tài chánh với 700 tỷ Mỹ kim đã ban hành quá trễ để ngăn được suy trầm. 

Người ta chỉ còn mong là kế hoạch sẽ giảm được hậu quả tai hại và giúp cho kinh tế sớm phục hồi.Điều đáng ghi nhớ lần này là suy trầm tại Hoa Kỳ xuất hiện khi hai khối kinh tế đầu máy kia của thế giới là Nhật Bản và nhiều xứ Âu châu đều đang bị suy trầm, trước Hoa Kỳ. 

Khi mà toàn khối kinh tế của các nước kỹ nghệ hóa tiên tiến nhất đều bị suy trầm như vậy, kinh tế toàn cầu bị ảnh hưởng nặng, nhất là nền kinh tế của các nước đang phát triển. 

Tổng sản lượng toàn cầu có thể đã tăng 5% vào năm ngoái thì năm nay chưa đạt được 4% và qua năm tới sẽ chỉ còn chừng 2,5 đến 2,7%. 

Theo định nghĩa của Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF, suy trầm toàn cầu xảy ra khi tốc độ tăng trưởng chỉ còn là 2,5%! Nói cho dễ hiểu, thế giới đang ở mé bờ suy sụp và có thể sẽ bị suy trầm vào năm tới, sau khi Mỹ bắt đầu tuột dốc vào tháng này.Một trong nhiều nguyên nhân khiến khủng hoảng tài chánh đã gây họa cho sản xuất kinh tế là nạn ách tắc tín dụng (credit crunch). 

Gói nợ tín dụng thứ cấp bị ung thối khiến tài sản của các ngân hàng như bị nhiễm độc, sổ sách phải điều chỉnh lại trước sự nghi ngờ của mọi người nhất khách nợ, làm nhiều cơ sở bị vỡ nợ, thậm chí khánh tận, phá sản. 

Phản ứng kế tiếp là các ngần hàng phải ghim tiền lại, hết dám cho vay. 

Ách tắc tín dụng khiến doanh nghiệp và cả chúng ta có muốn vay tiền ngân hàng thì cũng không vay được, hoặc vay rất khó, với lãi suất rất cao. 

Ngăn ngừa suy trầm sản xuất vì vậy có nghĩa là phải khai thông ách tắc về tín dụng, cho tiền bạc lưu thông được dễ dàng hơn. 



Trong hiện tại, chỉ những loại khách đáng tin nhất mới được vay tiền, các khách hàng khác có khi chết cạn, bị phá sản. 

Muốn khai thông thì phải làm sao cho mọi người đều có thể vay tiền được dễ dàng. 

Thí dụ như nếu chính quyền nhảy vào "làm chủ" các cơ sở tài chánh, hoặc bơm thêm tiền vào trị trường bằng cách mua lại những gói nợ đáng nghi ngờ - mua là trả tiền ra để lấy hàng về - như theo kế hoạch cấp cứu vừa được ban hành hôm Thứ Sáu. 

Chuyện giải cứu vì vậy là chính quyền phải nhảy vào thị trường, với rất nhiều tiền.Nhưng, không chỉ có Hoa Kỳ mới bị tai ách đó. 

Trên thế giới, ta đều biết rằng các chính quyền đều phải trực tiếp hay gián tiếp can thiệp vào thị trường. 

Nếu so sánh thì, trên nguyên tắc, chính quyền không là một cơ sở kinh tế có thể bị phá sản vì mất niềm tin của thị trường và lại còn có khả năng hứng chịu những tai ách kinh tế thay cho tư nhân để giảm bớt hậu quả của suy trầm kinh tế. 

Trong thực tế, các nền kinh tế đã phát triển đều ở tại các quốc gia có cơ chế nhà nước vững mạnh và cơ chế ấy giúp nhà nước can thiệp được vào nhiều lãnh vực kinh tế, ở nhiều nơi. 

Các nước đang phát triển thì không được như vậy, chính quyền có bộ máy hành chánh công quyền trải mỏng, rất rộng mà rất nông, khi hữu sự thì không vươn tới những nơi cần tiền. 

Nhưng, như một xe cứu hoả có khả năng đi tới từng đám cháy, bộ máy công quyền này còn cần có... 

nước. 

Nghĩa là có tiền. 

Các quốc gia đang bị bội chi ngân sách - vì chi nhiều hơn thu - thì khó tăng chi để kích cầu, chưa nói gì tới chuyện tung tiền ra cấp cứu các cơ sở bị nguy ngập. 

Khi gặp nạn ách tắc tín dụng thì chính quyền phải vay tiền, mà càng vay thì càng khiến lãi suất trái phiếu gia tăng khiến lãi suất cao lại càng khiến thị trường bị tốn kém hơn, suy trầm kéo dài hơn.Ngoài nạn bội chi ngân sách cao hay thấp, ta còn có vấn đề nối tiếp là gánh nặng công trái: Chính quyền phải vay tiền thị trường bằng cách phát hành công khố phiếu (là "giấy nợ của quốc gia"), và phải lấy tiền trong ngân sách trả nợ cho khoản vay mượn này. 

Cho nên, trong hoàn cảnh bị ách tắc tín dụng, cái gánh công trái có sẵn ấy cũng thu hẹp khả năng khai thông... 

ách tắc tín dụng!Nếu hiểu vấn đề như vậy, ta có thể thấy rằng Hoa Kỳ vẫn còn khả năng thoát hiểm - và có khả năng cao hơn nhiều xứ khác. 

Tổng số tín dụng loại thứ cấp có thể ở khoảng 550 tỷ Mỹ kim, và không phải toàn là nợ thối, đã hay sẽ mất. 

Cho là có bị mất hết thì khoản tiền ấy chỉ bằng 3,9% của tổng sản lượng Hoa Kỳ sản xuất ra một năm (chừng 14 ngàn tỷ Mỹ kim). 

Tổng số ngân khoản dự trù cho kế hoạch cấp cứu là 700 tỷ mà có mất hết trong một vài năm tới thì cũng chỉ bằng 5% tổng sản lượng đó. 

Điều đáng sợ nhất cho Hoa Kỳ là nước Mỹ đang ở trong tháng cuối của bầu cử mà phản ứng mị dân là điều dễ xảy ra. 

Vì vậy, tâm lý bi quan hốt hoảng có thể kéo dài và chính quyền tân nhậm sẽ vì sự lo sợ ấy mà tăng chi quá đáng rồi đành phải tăng thuế thì ta gặp lại kinh nghiệm xấu của vụ tổng khủng hoảng 1929-1933: kéo dài hậu quả tai hại của nạn suy thoái sản xuất.Ngoài Hoa Kỳ ra, nhiều quốc gia cũng đang gặp cảnh bội chi ngân sách cao, công trái quá nặng hoặc lệ thuộc quá nhiều vào đầu tư từ nước ngoài, vào nguồn tư bản của ngoại quốc trên nguyên tắc đang bị cạn kiệt. 

Các quốc gia đó mới khó đối phó hơn và dễ bị khủng hoảng hơn nếu không có một chính quyền mạnh. 

Thế giới có chừng 15 quốc gia đang gặp hoàn cảnh ngặt nghèo đó, kể cả... 

Pháp và Ý.Tổng kết lại, Hoa Kỳ sẽ không bị sụp đổ, nhưng sự sợ hãi có thể gây ra thảm họa còn cao hơn.

Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.