Hôm nay,  

Á Châu Bật Dậy

05/11/200900:00:00(Xem: 11004)

Á Châu Bật Dậy

Nguyễn Xuân Nghĩa & Thanh Quang RFA

...dân nghèo tại Việt Nam... đã nghèo nay lại còn khổ hơn...

Sau báo cáo được Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF công bố hôm Thứ Năm 29 tuần trước, sáng Thứ Tư mùng bốn, giờ Hà Nội, Ngân hàng Thế giới cũng phổ biến bản cập nhật về kinh tế Á châu Thái bình dương. Cả hai định chế tài chính quốc tế đều nói đến sự bật dậy đáng mừng của các nền kinh tế Á châu. Tuy nhiên, bên dưới trào lưu chung đó là nhiều khác biệt của từng nước và hai câu hỏi chung là liệu sự phục hồi ấy có bền vững không, và các nước châu Á cần cải tổ thế nào để có thể tránh một vụ suy thoái tương tự" Diễn đàn Kinh tế đài RFA sẽ tìm hiểu các vấn đề ấy qua cuộc trao đổi do Thanh Quang thực hiện sau đây với nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa.
Thanh Quang: Xin kính chào chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa. Trong một tuần, hai định chế tài chính toàn cầu là Quỹ Tiền tệ Quốc tế rồi Ngân hàng Thế giới cùng đưa ra lượng định của họ về kinh tế Á châu với những dự đoán lạc quan hơn cho tình hình năm tới. Tuy nhiên, bên sau bức tranh toàn cảnh ấy là nhiều khác biệt trong từng quốc gia. Diễn đàn Kinh tế của chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về những khác biệt này, với mối quan tâm đặc biệt về trường hợp Việt Nam, Xin ông trước hết trình bày cho bối cảnh của đề tài tuần này.
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Nói về bối cảnh thì Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF vẫn nghiên cứu triển vọng kinh tế toàn cầu và trong từng khu vực. Đầu tháng 10, báo cáo về kinh tế toàn cầu đã được họ công bố, tới cuối tháng thì có báo cáo riêng về kinh tế Á châu, bao gồm một khu vực rộng lớn và có rất nhiều khác biệt. Ngân hàng Thế giới cũng khảo sát định kỳ và mỗi sáu tháng lại cập nhật tình hình các nước và sáng Thứ Tư, giờ Á châu thì công bố kết quả khảo sát tại các nước châu Á Thái bình dương, tức là các nước Đông Á, nghĩa là không có Ấn Độ.
- Chi tiết thứ hai về bối cảnh là định nghĩa để ta biết là đang nói về đối tượng nào được khảo sát khi nói về một khu vực địa dư là Á châu. Nói chung, hai định chế này xếp loại các nền kinh tế trong khu vực theo trình độ phát triển, chủ yếu là đo lường ở lợi tức hay sức mạnh sản xuất.
Thanh Quang: Thế thưa ông, họ xếp loại như thế nào và vị trí Việt Nam nằm ở đâu"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Trong khối Á châu, IMF nói tới "Á châu công nghiệp hoá" gồm ba nước Nhật, Úc và New Zealand và "Á châu đang phát triển" hay "đang lên", gồm Ấn Độ, Trung Quốc, Hong Kong, Nam Hàn, Đài Loan, Singapore, Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam. Trong khối đang lên ấy, họ còn phân biệt bốn xứ gọi là "tân hưng" gồm có Hong Kong, Nam Hàn, Đài Loan và Singapore với các nước còn lại, có lợi tức thấp hơn, kể cả Việt Nam.
- Phần mình, Ngân hàng Thế giới tập trung vào khối Đông Á và Thái bình dương với đôi chút khác biệt về định nghĩa. Họ xếp vào loại "Đông Á đang lên" hai nhóm quốc gia. Nhóm "đang phát triển" gồm có Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan, Cam Bốt, Lào, Mông Cổ, Việt Nam và một số các nền kinh tế nhỏ ở các hải đảo. Nhóm thứ hai là các nước "tân hưng" gồm có Hong Kong, Nam Hàn, Đài Loan, Singapore và lại có cả Trung Quốc, là điều hơi mơ hồ. Ngân hàng Thế giới còn phân biệt nhóm quốc gia có lợi tức trung bình với các nước có lợi tức thấp. Lợi tức trung bình là các nước như Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philippines và Thái. Còn lợi tức thấp là ba nước trên bán đảo Đông Dương là Việt Nam, Lào và Cam Bốt. Qua cách xếp loại ấy, Ngân hàng Thế giới đưa Trung Quốc vào loại "đang phát triển" mà cũng là "tân hưng" nhưng lại có lợi tức trung bình, là ba khái niệm hơi khác nhau. Theo thiển ý thì việc ấy phản ảnh sự phân vân của định chế tài trợ này mỗi khi đề cập tới Trung Quốc. Riêng về Việt Nam thì đứng hàng rất thấp về lợi tức trong cách xếp loại của cả hai định chế này.
Thanh Quang: Xin cám ơn ông về cách trình bày những định nghĩa trên vì làm nổi rõ sự khác biệt về trình độ giữa các quốc gia ở trong cùng một khu vực Á châu. Bước qua nội dung thì ông thấy thế nào về Á châu qua sự lượng định của hai tổ chức quốc tế này"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Đầu tiên và cũng về bối cảnh, ta không quên là mấy năm trước, giới kinh tế lạc quan nói đến khả năng riêng của khối Đông Á đang lên là có thể tách rời khỏi các nước đã công nghiệp hóa, gọi chung là nhóm G-7. Nghĩa là khối Đông Á có sức mạnh nội tại và không còn bị lệ thuộc vào các quốc gia Âu-Mỹ hay Nhật. Chuyện ấy không xảy ra. Đông Á vẫn bị hậu quả tai hại khi kinh tế Hoa Kỳ bị suy trầm từ cuối năm 2007 rồi khủng hoảng tài chính tại Mỹ đã bùng nổ vào tháng Chín năm ngoái và lan thành suy thoái cho cả khối G-7 rồi gây ra chấn động toàn cầu. Bối cảnh chung là thế giới bị khủng hoảng tài chính nặng nhất kể từ vụ Tổng khủng hoảng thời 1930 và kinh tế Mỹ bị trận suy thoái trầm trọng nhất kể từ năm 1982, và lâu nhất kể từ năm 1854 vì bình quân từ 155 năm nay thì kinh tế chỉ đình trệ 17 tháng là hết.
- Thế rồi, sau khi bị hiệu ứng tai hại xuất phát từ các đầu máy kinh tế mạnh nhất là Hoa Kỳ, Âu Châu và Nhật Bản, các nền kinh tế Đông Á nói chung đã bật dậy rất lẹ và tương đối thì mạnh nhất trong các khối kinh tế trên thế giới. Đấy là nhận định của hai tổ chức tài chính nói trên.
Thanh Quang: Những nguyên nhân nào khiến cho khối kinh tế Đông Á này đã đụng đáy và bật dậy mau lẹ như vậy"


Nguyễn Xuân Nghĩa: - Một nguyên nhân chính được báo cáo của IMFnhắc tới là kinh nghiệm của vụ khủng hoảng kinh tế Đông Á năm 1997-1998 khiến các nước trong khu vực đều cố tạo dựng quân bình vĩ mô của nền kinh tế. Đó là tránh bội chi ngân sách quá cao, có hệ thống tài chính ngân hàng lành mạnh hơn và lập một khối dự trữ ngoại tệ dồi dào, hầu có phương tiện kích thích kinh tế khi bị suy thoái. Nhờ điều kiện ấy, các nước đều có thể lập tức tung ra biện pháp kích cầu ào ạt, như tăng chi, giảm thuế, cắt lãi suất, bơm tín dụng, v.v... nên phần nào nâng cao được số cầu của thị trường nội địa để bù đắp cho thất thâu trên thị trường quốc tế.
- Cũng cần nói thêm rằng hiệu ứng của nạn suy thoái do các đầu máy kinh tế lớn gây ra cho châu Á là nạn suy sụp thị trường xuất khẩu và sự khan hiếm tư bản và tín dụng, nhưng hậu quả về độ sút giảm sản xuất thật ra vẫn còn nhẹ hơn vụ khủng hoảng Đông Á mười năm về trước. Khi các nền kinh tế Âu Mỹ đã đụng đáy và đang hồi phục, dù còn yếu ớt, thì các nước xuất khẩu của Á châu đã bật dậy sớm nhất và mạnh nhất.
Thanh Quang: Ông nói là trong khối này thì các nước xuất khẩu đã bật dậy sớm nhất, tình hình các nước kia thì sao"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Đây là lúc mà mình thấy ra sự khác biệt trong cách xếp loại.
- Trên tổng thể thì cả khối Á châu đã bậy dậy và Quỹ Tiền tệ Quốc tế dự báo tốc độ tăng trưởng bình quân cho cả khối là 5,75% vào năm tới. Nhưng, con số bình quân này che giấu một thực tế không lạc quan nếu ta không gộp chung trường hợp của Trung Quốc, Ấn Độ và Nam Hàn. Thiếu tốc độ tăng trưởng khả quan hơn của ba nước đó, tình hình Á châu còn lại thật ra vẫn đen tối.
- Riêng Ngân hàng Thế giới thì đánh giá cao thành tích kích cầu và ảnh hưởng của Trug Quốc đối với các nước Đông Á vì trở thành thị trường xuất khẩu cho các nước này. Tuy nhiên, Trung Quốc chủ yếu nhập vào nguyên vật liệu hay thương phẩm, là sở trường của một số nước nghèo trong vùng, chứ không mua các sản phẩm chế biến. Báo cáo của định chế này cũng lượng định rằng nếu không kể thêm Trung Quốc thì tình hình Đông Á vẫn chưa sáng sủa.
Thanh Quang: Nếu như vậy thì phải chăng bức tranh toàn cảnh chưa thể là màu hồng như người ta có thể lầm tưởng"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa đúng vậy và trong khi phúc trình của Quỹ Tiền tệ Quốc tế cảnh báo các nước là phải theo dõi và duy trì các biện pháp kích cầu nếu thấy cần thiết thì Ngân hàng Thế giới cho là trong khu vực Đông Á, thì ngoài Trung Quốc và Nam Hàn ra, các nước kia vẫn chưa ra khỏi khó khẳn, kể cả trường hợp của Indonesia và Việt Nam là hai nước có đà tăng trưởng cao hơn các lân bang. Đây mới là điểm đáng chú ý nhất của hai báo cáo này. Nôm na là tình hình còn bấp bênh và khu vực này khó duy trì được một đà tăng trưởng khả quan và bền vững nếu không tiến hành một số chương trình cải cách. Ngân hàng Thế giới đặc biệt chú ý đến thành phần nghèo khổ của các quốc gia trong loại có lợi tức thấp, kể cả Việt Nam.
Thanh Quang: Ông vừa nói tới khuyến cáo của hai tổ chức này về yêu cầu tiến hành cải cách để có thể duy trì một tốc độ tăng trưởng khả quan trong lâu dài. Việc cải cách ấy gồm có những gì"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Vì các đầu máy kinh tế của khối G-7 còn yếu với đà tăng trưởng bình quân năm tới chỉ ở khoảng 1,25%, và tiêu thụ tư nhân sẽ còn thấp, các nước Á châu sẽ phải tìm ra lực đẩy ở nơi khác. Chủ yếu là ở thị trường nội địa. Hoàn cảnh ấy khiến Á châu phải quan niệm lại cái thế quân bình của kinh tế toàn cầu, đó là các nước công nghiệp hóa sẽ tiêu thụ ít đi và phải tiết kiệm nhiều hơn. Ngược lại, các nước đang lên của Á châu phải tiêu thụ nhiều hơn thay vì chỉ nghĩ tới việc thắt lưng buộc bụng để xuất khẩu qua các thị trường Âu-Mỹ-Nhật. Lồng trong chiều hướng cải cách ấy trong lâu dài, các nước Á châu phải cân nhắc kỹ nhu cầu tiếp tục kích thích kinh tế, với một đòi hỏi trái ngược là đừng thổi bùng lạm phát và gây thêm bội chi ngân sách.
- Riêng Ngân hàng Thế giới thì nêu ra một số khuyến cáo cụ thể. Thứ nhất là mở rộng thị trường nội địa nhưng cũng nâng cao năng suất nhờ những ngành có giá trị đóng góp cao hơn, thay vì chỉ nghĩ tới xuất khẩu và cứ tập trung sản xuất loại hàng hóa có giá trị tich lũy thấp, như nguyên nhiên vật liệu hay khoáng sản. Thứ hai phải chú ý tới khu vực dịch vụ, khai thông những ách tắc trong hạ tầng cơ sở để giải quyết yêu cầu chuyển vận và phân phối trong nước. Thứ ba, cải tổ giáo dục và đào tạo để nâng cao năng suất và có một chính sách an sinh xã hội khả quan hơn hầu người dân bớt lo sợ bất trắc mà dám tiêu xài mạnh hơn, và tiết kiệm ít đi...
Thanh Quang: Riêng về trường hợp của Việt Nam thì sao" Hai định chế này nhận định thế nào"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Việt Nam đã ráo riết kích thích kinh tế với ngân khoản thực tế còn lớn hơn con số chính thức được công bố. Nhưng kết quả lại chưa sánh được với công sức vì yếu kém trong cơ chế. Việt Nam lại bị bội chi ngân sách quá cao, tới hơn 9% tổng sản lượng nội địa GDP, cho nên cần thận trọng khi tăng chi để kích cầu. Việc mở vòi tín dụng để kích cầu lại có thể gây thêm rủi ro cho hệ thống ngân hàng và còn thổi lên bong bóng đầu tư và nguy cơ lạm phát. Trong khi ấy, dự trữ ngoại tệ của Việt Nam lại sút giảm vì nhập siêu quá cao, đầu tư trực tiếp và tiền trợ giúp của thân nhân đều sụt, nên xứ này sẽ bị áp suất nặng về ngoại hối. Ngân hàng Thế giới còn ước lượng là tính đến tháng Tám vừa rồi, dự trữ ngoại tệ của Việt Nam chỉ còn có 16 tỷ rưỡi, và là vấn đề đáng quan tâm. Ngoài ra, Việt Nam cũng phải cải cách theo chiều hướng đã được nêu chung cho các nước.
- Nguy kịch nhất chính là số phận dân nghèo tại Việt Nam, một thành phần đáng kể và đã nghèo nay lại còn khổ hơn, trong khi ngân sách nhà nước bị thiếu hụt nên không thể mở rộng mạng lưới an sinh cứu giúp thành phần này. Nói chung thì tình hình Việt Nam vẫn còn rất đáng lo.

Từ khi Tối Cao Pháp Viện lật đổ Roe v. Wade, chúng ta đều biết câu chuyện không dừng lại ở đó. “Để tiểu bang tự quyết” chỉ là cái cớ. Và Texas, tiểu bang bảo thủ dẫn đầu, vừa chứng minh điều đó bằng một luật mới: trao cho bất kỳ ai quyền săn lùng và kiện những người dính dáng tới thuốc phá thai. Texas vốn đã có một trong những lệnh cấm khắc nghiệt nhất: phá thai bị cấm hoàn toàn, trừ vài ca y tế khẩn cấp. Không ngoại lệ cho thai dị tật chết non. Không ngoại lệ cho hiếp dâm. Không ngoại lệ cho loạn luân. Thế nên, nhiều phụ nữ Texas chỉ còn con đường tìm đến thuốc phá thai qua mạng, thường từ những nhà cung cấp ở ngoài tiểu bang. Luật mới nhắm thẳng vào cánh cửa mong manh ấy.
Suốt 250 năm, người Mỹ đồng ý rằng cai trị bởi một người duy nhất là sai lầm, rằng chính quyền liên bang vốn cồng kềnh, kém hiệu quả. Lẽ ra hai điều ấy đủ để ngăn một cá nhân cai trị bằng mệnh lệnh từ Bạch Ốc. Nhưng Trump đang làm đúng điều đó: đưa quân vào thành phố, áp thuế quan, can thiệp vào ngân hàng trung ương, chen vào quyền sở hữu công ty, gieo nỗi sợ để buộc dân chúng cúi đầu. Quyền lực bao trùm, nhưng không được lòng dân. Tỉ lệ chấp thuận của ông âm 14 điểm, chỉ nhỉnh hơn chút so với Joe Biden sau cuộc tranh luận thảm hại năm ngoái. Khi ấy chẳng ai lo ông Biden “quá mạnh”. Vậy tại sao Trump, dù bị đa số phản đối, vẫn dễ dàng thắng thế?
Có bao giờ bạn nói một điều rõ ràng như ban ngày, rồi nghe người khác nhắc lại với nghĩa hoàn toàn khác? Bạn viết xuống một hàng chữ, tin rằng ý mình còn nguyên, thế mà khi quay lại, nó biến thành điều bạn chưa từng nghĩ đến – kiểu như soi gương mà thấy bóng mình méo mó, không phải bị hiểu lầm, mà bị người ta cố ý dựng chuyện. Chữ nghĩa, rơi vào tay kẻ cố ý xuyên tạc, chẳng khác gì tấm gương vỡ. Mỗi mảnh gương phản chiếu một phần, nhưng người ta vẫn đem mảnh vỡ đó làm bằng chứng cho toàn bộ bức tranh. Một câu, một đoạn, một khẩu hiệu – xé khỏi bối cảnh trở nên lệch lạc – hóa thành thứ vũ khí đâm ngược lại chính ý nghĩa ban đầu. Câu chuyện của đạo diễn Trấn Thành gần đây là một minh họa. Anh chỉ viết đôi dòng thương tiếc chia buồn với sự ra đi của nghệ sĩ đàn bầu Phạm Đức Thành. Vậy thôi. Thế mà lập tức bị chụp mũ, bêu riếu, bị gọi “3 que,” “khát nước,” “Cali con.” Người ta diễn giải đủ kiểu, vẽ ra đủ cáo buộc: từ tội mê văn hóa Việt Nam Cộng Hòa đến tội phản quốc.
Sau thất bại trước đối thủ đảng Dân Chủ Joe Biden trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2020, nội các “gia đình trị” của Donald Trump gần như biến mất khỏi chính trường. Các đồng minh không thể có cùng tiếng nói với Trump, nhất là sau vụ bạo loạn Quốc Hội Jan 06. Duy nhất một người vẫn một lòng trung thành không bỏ rơi Trump, đó chính là Stephen Miller. Nhiệm kỳ hai của Trump, người được cho là có quyền lực hơn trong vòng tròn thân cận của Trump, hơn cả JD Vance, chẳng ai khác hơn chính là Stephen Miller. Để tạo ra những ảnh hưởng chính trong chính quyền Trump hôm nay, Miller đã có một đường dài chuẩn bị, khôn ngoan và nhẫn nại.
Đầu tháng 8 năm 2025, Tổng thống Donald Trump đã ký một mệnh lệnh đặc biệt, chỉ đạo các cơ quan hữu trách lập kế hoạch đưa quân đội Hoa Kỳ đi trấn áp các tổ chức tội phạm ở Mỹ Latinh. Khoảng hai tuần sau, mệnh lệnh đã thành hiện thực. Ba khu trục hạm có gắn phi đạn viễn khiển (guided-missile destroyers) của Hoa Kỳ đã được khai triển tới vùng biển Venezuela, đảm trách việc chặn giữ các chuyến hàng ma túy.
Một góc khuôn viên của Đồi Capitol sáng Thứ Tư là những câu chuyện tưởng đã bị chôn vùi, nay được kể ra trong sự run rẩy, xúc động và cả nước mắt. Trước hàng chục ống kính truyền thông chiếu trực tiếp trên toàn quốc, khoảng mười người phụ nữ lần lượt kể ra câu chuyện của chính mình – nạn nhân của Jeffrey Epstein, tỷ phú tội phạm tình dục và buôn bán mại dâm trẻ vị thành niên. Ngày đó, những phụ nữ này chỉ vừa 16, 18 tuổi, nhỏ nhất là Marina Lacerda, 14 tuổi.
Ở đời, chẳng có ngai vàng nào là miễn phí. Muốn hỏi cưới công chúa thì phải có sính lễ. Làm gì có chuyện đi tay không mà cuỗm được gái đẹp — trừ trường hợp dùng quyền lực bẩn thỉu cưỡng hiếp gái tơ (nghe quen quen). Muốn làm đàng anh đàng chị không thể vừa keo kiệt vừa đòi được người ta kính nể. Quy luật xưa nay không đổi ăn khế thì phải trả vàng. Ngai vàng toàn cầu cũng vậy -- không chỉ làm bằng vàng, mà còn bằng chi phí, lời hứa, và trên hết, là sự tín nhiệm.
Tháng Năm, 2024, trong phiên tòa xét xử bị cáo, tức cựu Tổng thống Donald Trump, liên quan các khoản chi phí cho nữ diễn viên phim khiêu dâm Stormy Daniels dưới dạng tiền bịt miệng, có một cựu công tố viên, bộ trưởng tư pháp từ Flordia đến tòa New York. Bà ngồi bên dưới theo dõi để ủng hộ Trump. Đó là Pam Bondi. Sau khi bồi thẩm đoàn phán quyết Trump có tội trong 34 tội danh, Bondi đã xuất hiện trên Fox News, cùng với Kash Patel, phát biểu rằng “một niềm tin rất lớn đã bị mất vào hệ thống tư pháp tối nay.” Bà còn nói thêm: “Người dân Mỹ đã nhìn thấu điều đó.”
Chiều thứ Sáu, chúng tôi ăn trưa với một người bạn mới ở Huntington Beach. Không biết vì men bia hay vì chọn quán giữa một thành phố “đỏ”, câu chuyện đang nhẹ nhàng bỗng rẽ thẳng vào chính trường. Nhắc đến những gì xảy ra kể từ ngày tổng thống Trump nắm quyền sinh sát, cô bạn tôi đề cập đến vật giá leo thang, vừa lạm phát vừa thuế quan, kinh tế bất ổn, đời sống bất an… Anh bạn mới của chúng tôi nghe đến đây lên tiếng cắt lời: “Dẫu có thế, so với nhiều người, nhiều xứ khác, người Mỹ vẫn còn đang sống trong may mắn. Và chúng ta nên biết ơn điều đó.” Anh khiến tôi liên tưởng đến thuyết “dân túy tàn bạo”, được Jay Kuo nhắc đến trong bài báo mới đăng của Ông trên Substack tuần qua.
Tuần trước, tình cờ tôi đọc được một bài viết của tác giả Vũ Kim Hạnh được chia sẻ lại qua Facebook. Bài viết có tựa đề là "Cơ hội vàng ở Mỹ sau mức thuế đối ứng 20%", trong đó bà nhắc riêng về kỹ nghệ xuất cảng gỗ của Việt Nam sang Hoa Kỳ và thế giới. Trước khi đi vào chi tiết của bài viết, có thể nhắc sơ về bà Vũ Kim Hạnh ắt đã quen thuộc với nhiều người trong nước. Bà từng là Tổng Biên Tập báo Tuổi Trẻ, cũng như nằm trong nhóm sáng lập tờ tuần báo Sài Gòn Tiếp Thị, từng là những tờ báo khá thành công tại Việt Nam.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.