Hôm nay,  

Sương Tan Thành Lệ

14/01/200900:00:00(Xem: 8586)
SƯƠNG TAN THÀNH LỆ
Hạnh Chi
Trong những trang kinh tả cảnh giới đẹp đẽ  trên cõi Cực Lạc của  Phật A Di Đà, có đoạn: "Bỉ Phật quốc độ vi phong suy động, chư bảo hàng thọ, cập bảo la võng, xuất vi diệu âm, thí như bá thiên chủng nhạc đồng thời câu tác" ý nói, trong thế giới của Đức Phật đó gió thơm thổi nhẹ qua các hàng cây báu cùng các màn lưới báu giăng cao, phát ra âm thanh vi diệu tựa như muôn ngàn nhạc khí hợp tấu".
Đoạn kinh này là một, trong rất nhiều họa phẩm tuyệt tác ở kinh A Di Đà mà người thưởng ngoạn không chỉ chiêm ngưỡng mầu sắc, còn rung động với bao âm thanh hài hòa, từ tự thể cảnh giới đó cất lên.
Sáng nay, khi thiền hành dọc con đường nhỏ nơi cư ngụ, tôi chợt bắt gặp phần nào, cảnh giới đó.
Sáng sớm, trời còn mờ sương có lẽ chưa phải là thời gian thích hợp để thong thả thiền hành đối với nhiều người. Nhưng tôi, một kẻ quen sống với giác quan thứ sáu, là thường làm những gì chợt cảm thấy muốn làm, hay nên làm, mà không sợ hãi, so đo hơn thiệt. Cũng may, giác quan này thường cho tôi biết sự thật, dù đôi khi là những sự thật rất đau lòng!
 Sáng nay, biết là còn sớm, nhưng khởi niệm muốn thiền hành khi phố xá vắng người nên tôi đi vớ, mặc thêm áo ấm, đội nón len và mở cửa bước ra ngoài.
Đường vắng đến độ đôi dép tôi mang rất êm mà vẫn nghe thấy nhịp chân mình bước. Tôi thở vào "A Di", thở ra "Đà Phật"; thở vào "Đã về", thở ra "Đã tới"; thở vào "Bây giờ", thở ra "Ở đây" Tuy tôi giữ tâm vào hơi thở như thế nhưng vẫn nghe mơ hồ đâu đây, tiếng gió thơm thổi qua các hàng cây báu. Đúng thế, gió nhẹ hửng đông đang thổi qua hàng dừa ven đường, vi vu, trầm bổng như tiếng Thầy tôi tụng Lăng Nghiêm; và trên giậu tường vi, long lanh bao hạt-ngọc-trời đính trên lá biếc, khác gì các màn lưới báu nơi cõi nước tịnh của giáo chủ Tây Phương!
Tôi dừng lại trước giậu hoa, chăm chú nhìn những hạt sương mong manh trong suốt, khẽ uốn mình qua lại trên thân lá, như chưa từng bao giờ thấy những hạt sương thoát tục đến thế. Dù kim cương được tôn vinh là đẹp nhất trong mọi loại đá quý cũng không thể đẹp bằng những hạt sương tôi đang chiêm ngưỡng vì những hạt kim cương mà nằm đây thì không thể mang vẻ thảnh thơi, tự tại được; chúng sẽ là mục tiêu của bao sự tranh giành, cướp giựt, đưa đến sân hận, oan khiên! Những hạt sương trên giậu tường vi đẹp như kim cương nhưng không lo sợ ai tranh cướp, đập nát cả. Hạt sương đến khi đủ duyên, đi khi hết duyên, và phút giây nào hiện hữu thì hoan hỷ mang thông điệp của đại-thừa Kim-Cang-Kinh, vô ngôn mà bất tận.     
Tôi khẽ nhấn ngón tay trên một chiếc lá non. Hạt sương theo sức nhấn, lăn nhẹ theo, rồi đậu giữa lòng bàn tay, tròn trịa, vẹn toàn, không rơi vãi đi đâu chút nào! Với tôi, trong phút giây tinh khôi đầu ngày, hạt sương long lanh trên tay đang thị hiện cảnh giới trang nghiêm khi đại chúng đồng ngồi nghe pháp tại vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc:
Nhất thiết hữu vi pháp
Như mộng huyễn bào ảnh
Như lộ diệc như điện
Ưng tác như thị quán (*)
Tôi lặng người vì xúc động, tưởng như đang được nghe Đức Thế Tôn dạy ngài Tu Bồ Đề, trong đoạn 28, kinh Kim Cang, rằng, ví như có vị Bồ Tát đem bảy thứ ngọc ngà châu báu chất đầy khắp hoàn vũ mà bố thí, thì công đức vị ấy cũng không hơn  công đức của một người chợt hiểu ra, các pháp đều vô ngã; nhất là, khi người ấy chấp nhận sự thật đó một cách thảnh thơi và hoan hỷ.

Khi tôi rời giậu tường vi, tiếp tục kinh hành thì ánh dương cũng vừa hé rạng. Trên đường trở về am, tôi biết những hạt sương trên lá đang tan dưới ánh mặt trời. Sương dẫu tan thành lệ nhưng là những hạt lệ tưới tẩm đất mầu để cây lá xanh tươi hơn.
Hạt-ngọc-trời trao tặng thế gian như vậy. Nhưng những hạt ngọc nhân gian tặng nhau để trang điểm cho những gì họ ngỡ là sẽ thủy chung, sẽ bất tử, lại thường vỡ nát dưới lăng kính của những tỵ hiềm, ích kỷ, dối gian, sân hận. Những hạt ngọc đó khi tan thành lệ mới là lệ trầm kha bi thảm, lệ chảy đời này chưa đủ, còn luân hồi tìm nhau kiếp khác để tiếp tục vay trả và đổ lệ đầm đìa như tinh thần sám pháp Lương Hoàng Sám từng chỉ dạy.    
Tại sao nhân gian thường khó đi suốt kiếp với nhau bằng sơ tâm yêu thương, ngọt ngào thuở ban đầu" Có lẽ bởi nhân gian không can đảm trực diện và quán chiếu lẽ vô thường của các pháp. Những gì tưởng đang sở hữu, đang nắm bắt, thật ra, bản chất chỉ là giấc mộng không thật, chỉ là bọt nước, là bóng nắng, là hạt sương, là điện chớp "Như mộng huyễn bào ảnh. Như lộ diệc như điện". Nếu quán được và chấp nhận được như thế thì sự còn, mất của người thân, sự thủy chung hay phản bội của người thương, sự gắn bó hay hời hợt của bằng hữu v…v…sẽ đi qua đời ta như những cơn gió thoảng.      
Ta có nắm bắt được gì đâu mà rơi lệ khóc than vì còn, vì mất"
Thử hứng một hạt sương buổi sáng. Hứng bằng tất cả sự ân cần giữa lòng bàn tay, ta thấy gì trước khi ánh mặt trời rực rỡ phương đông rọi tới"      
Ta thấy sự chuyển hóa.     
Hạt sương long lanh chuyển hóa. Cái đẹp đó sẽ chuyển hóa. Như chính chúng ta sẽ chuyển hóa.   
Sương sẽ tan thành lệ. Ta sẽ tan thành bụi.   
Với tỷ lệ tương đối, có lẽ thời gian hiện hữu ngắn ngủi của hạt sương cũng chẳng kém chi một kiếp người, như ta thường tin rằng trăm năm ở trần gian chỉ bằng một ngày trên tiên giới; hoặc như đời sống của bông hồng dài hơn đời bông sứ, nhưng bông sứ lại xót thương đóa quỳnh hương, mang tất cả hương sắc tặng đời chỉ vẻn vẹn trong một đêm trăng tỏ!
Vạn hữu thầm lặng mà vẫn hiển lộ bố-thí-ba-la-mật, cho hết lòng mà không chờ nhận lại.    
Cũng thế, chỉ với sát na ngắn ngủi đọng trên lá non, hạt sương đã biểu hiện sự tinh khiết tuyệt đích của cái đẹp toàn vẹn trong phút giây hiện tại.
Còn chúng ta, quãng đời chớp mắt trăm năm, chúng ta làm gì để thăng hoa"
Thương thay! Chúng ta thường quẩn quanh mộng mị, thấy những gì trong mộng là thật. Đúng, tất cả là THẬT TRONG MỘNG, nhưng vừa khi thức tỉnh thì ngay giấc mộng cũng không còn, huống chi là những gì trong mộng ảo! 
Có lẽ chúng ta đều biết như thế. Biết nhưng không chấp nhận vì cái tâm mong cầu luôn vẽ ra bao cảnh trí trong mộng nên nhân gian khó thoát những sợi giây vô hình, cuốn ta mê thiếp qua bao giấc mộng ngắn, dài của kiếp người, xô đẩy tới lui giữa tam độc tham, sân, si chập chùng vay, trả.
Một hành giả có lần bộc bạch cùng thiền-sư Tăng Xán:
- Con khổ quá! Xin Thầy dạy cho con pháp môn giải thoát.
Thiền-sư nhìn học trò, vừa thương hại, vừa nghiêm giọng hỏi:
-Ai trói buộc ngươi"
Câu hỏi, nhưng cũng là câu trả lời thấm thía, đáng cho chúng ta suy ngẫm.
Hạnh Chi
(Độc-Cư-Am, tháng giêng 2009) 
 (*) Kệ kinh Kim Cang

Đã từ lâu, những gì Donald Trump nói, làm, hoặc tung ra trên Truth Social Media, đã không còn là một tuyên bố mang tính chuẩn mực cao nhất của quốc gia. Nó cũng không còn bao hàm những quyết định quan trọng mà người dân mong chờ sẽ mang đến một xã hội tốt đẹp hơn, an toàn hơn. Không phải những cận thần chung quanh Trump không nhận ra điều đó. Rõ nhất là “Thằng Ất” và “Thằng Giáp” – hai kẻ đã từng đưa ra lời chỉ trích mạnh mẽ thời chưa bước vào cửa quan. “Thằng Ất” JD Vance hồi năm 2016 đã nhắn tin cho một người bạn học cũ, gọi Trump là "Hitler của nước Mỹ.” Trong một bài viết đăng trên tờ The Atlantic vào năm 2016, Vance mô tả Trump như một thứ "’heroin’ văn hóa.”
Trong kho tàng ngụ ngôn Aesop có hai câu chuyện. Một chuyện kể về cậu bé chăn cừu thích lấy nỗi sợ của cả làng ra làm trò đùa. Cậu nhiều lần hét to “Sói! Sói!” để lừa người lớn chạy hộc tốc lên đồi, rồi bỏ về, bực bội vì bị lừa. Đến một ngày nọ, sói thật xuất hiện, cậu kêu cứu đến khản cổ mà không còn ai buồn chạy lên đồi cứu giúp, khiến đàn cừu của cậu bị sói vồ sạch. Chuyện thứ hai kể về một con sói thật kiên nhẫn. Ngày này qua ngày khác, nó lảng vảng đến gần đàn cừu. Lúc đầu, người chăn cừu cảnh giác, luôn tay xua đuổi nó. Nhưng sói chỉ đứng xa, trông hiền hòa, không vồ con nào. Lâu dần, chàng chăn cừu quen thuộc với sự hiện diện của Sói, cho đến khi bóng dáng con vật trở nên một phần của phong cảnh xung quanh đàn cừu. Tới một hôm bận việc, anh cả tin đến mức gửi luôn đàn cừu cho sói “trông hộ”. Tối về, chuồng chỉ còn vài con sót lại.
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.