Hôm nay,  

Trào Dầu Làm Nghẹn Cảng

22/05/201000:00:00(Xem: 7767)

Trào Dầu Làm Nghẹn Cảng

Nguyễn Xuân Nghĩa

Nếu dầu loang vào sông Mississippi...
Một tháng sau vụ nổ dàn khoan Deepwater Horizon của hãng British Petroleum trong Vịnh Mễ Tây Cơ, người ta bắt đầu lo thêm một chuyện. Đó là dầu loang có thể bao cửa khẩu Southwest Pass và làm nghẽn mạch sông Mississippi rồi khóa luôn các hải cảng trong khu vực - một kịch bản của khủng hoảng kinh tế Hoa Kỳ.
Trước tiên, dàn khoan đã bị nổ ngày 20 rồi chìm xuống biển ngày 22 Tháng Tư. Dàn khoan này hút dầu từ đáy biển lên và khi bị nổ bất ngờ, dầu thô cứ thể mà trào lên mặt biển và lan chảy qua nơi khác. Theo ước lượng của hãng BP thì mỗi ngày có khoảng 5.000 thùng dầu thô đã phun lên như vậy và giả thuyết kinh hoàng của họ là 60 ngàn thùng một ngày. Những cố gắng nhằm bịt ống dầu phun hoặc hút lại dầu đều chưa đạt kết quả.
Chúng ta nhớ lại là năm 1989, tầu chở dầu Exxon Valdez bị tai nạn tại Alaska và trữ lượng dầu trong tầu chỉ lên tới 250 ngàn thùng. Bây giờ, vụ Deepwater Horizon lại nguy ngập hơn thế vì lượng dầu có thể thoát ra ngoài chính là túi dầu dưới biển. Việc ngăn dầu thất thoát từ dưới đáy biển lên quả thật không dễ dàng và co thể giải quyết mau chóng. Giải pháp kỹ thuật siêu hạng là đào xuống một ống dẫn khác để khóa mạch dầu đang chảy. Giải pháp này cần hai ba tháng mới thành và trong giả thuyết bi quan là dầu tuôn lên 60 ngàn thùng một ngày thì chúng ta đang gặp một tai họa kinh tế và môi sinh nguy kịch hơn vụ Exxon Valdez gấp bội.
Về tổn thất kinh tế, khu vực bị nạn là một trung tâm ngư nghiệp của các tiểu bang Louisiana, Mississippi và Alabama. Vì dầu loang, các tầu đánh cá hay bắt tôm đều bị chặn và việc dùng hoá chất để khử dầu có thể gây họa cho kỹ nghệ tôm cá trong nhiều năm tới. Cũng về kinh tế, khu vực bị nạn còn là một trung tâm năng lượng của Hoa Kỳ, với sản lượng dầu thô vào khoảng một phần ba của số tiêu thụ toàn quốc. Dầu thô mà lan rộng thì nhiều dàn khoan khác cũng phải ngưng hoạt động.
Một tổn thất kinh tế khác là kỹ nghệ chuyển vận hàng hải.
Các tầu hàng mà bị dính dầu thì không được cập bến, phải được rửa sạch, hàng hóa phải chuyển qua tầu khác và những việc đó cũng làm tắc nghẽn việc vận tải ra vào các hải cảng. Nhiều nhà máy lọc dầu sẽ bị đình đọng. Nếu dầu lại lan tới các hải cảng và lấn vào hạ nguồn sông Mississippi thì tai họa kinh tế sẽ thành vô lường. Chúng ta cần chú ý đến giả thuyết ấy.


Cho đến nay, việc bịt dầu phun lên vẫn chưa có kết quả nhưng dầu chưa lan tới các cửa khẩu. Cũng may là mực nước sông Mississippi còn cao nên dầu không nhập sông và còn bị hệ thống tháo nước sông đẩy ra ngoài. Và càng may là lớp dầu cũng loãng và nhẹ và có thể khử được nên chưa bám vào thân tầu. Nhưng, giới chức hữu trách thì vẫn phải tự chuẩn bị cho tình huống bi quan nhất. Hải cảng New Orleans cho biết là sông chưa bị khoá và có sẵn sàng bốn trạm rửa cho các thân tầu bị lấm dầu. Bên trong, nhiều trạm khử dầu cũng đã được lệnh ứng trực.... Tuy nhiên tình hình vẫn có thể thay đổi vì dầu vẫn phun và vẫn loang, lại đang Tây tiến về các cảng Plaquemines và cảng dầu LOOP của Louisiana.
Chúng ta đều biết Hoa Kỳ trở thành cường quốc kinh tế trước tiên là nhờ địa dư hình thể với con sông Mississippi tiếp nhận các nhánh sông khác của cả khu vực Trung-Tây Midwest. Con sông chính này lại chảy ra các bến cảng ở quanh thành phố New Orleans. Hơn hẳn New York hay Los Angeles, Long Beach, thành phố New Orleans mới có vị trí trọng yếu nhất cho kinh tế Hoa Kỳ vì là ngả thông thương hàng hóa cho các tiểu bang nằm bên trong với cửa biển. Đây là trung tâm phân phối nông sản Mỹ bán ra thế giới và c ũng là nơi tiếp nhận thương phẩm của thế giới cho kỹ nghệ Hoa Kỳ.
Hệ thống sông ngòi ở hạ nguồn sông Mississippi có thể được sánh với một lá phổi kinh tế của Hoa Kỳ. Con sông là đường chuyển vận hàng hóa của một khu vực rộng lớn nằm trong đất liền thông thương ra Vịnh Mễ Tây Cơ và các đại dương của thế giới. Nếu cửa sông bị nghẽn, sinh hoạt kinh tế trong đất liền sẽ bị đình đọng, các tầu chở hàng xuất cảng của Mỹ mà bị dính dầu thì cũng không được cập bến đổ hàng qua xứ khác...
Cho đến nay, nạn dầu loang có thể gây ra nhiều hậu quả chính trị đáng ngại cho kỹ nghệ năng lượng Hoa Kỳ, nhất là cho quyết định khai thác dầu khí ngoài khơi, một quyết định đang gặp nhiều chống đối khiến Chính quyền Obama và Quốc hội phải phân vân cân nhắc rất kỹ. Cũng vì vậy mà hãng BP mới bị các chính khách ráo riết đả kích và quy trách. Nhưng, dù sao thì hậu quả kinh tế vẫn chưa là một vấn đề ở cấp quốc gia.
Nếu dầu loang vào các hải cảng và cản trở việc vận chuyển của sông Mississippi thì đấy mới là một tai họa cho rất nhiều ngành nghề và địa phương của Hoa Kỳ. Những ai cho rằng năm Canh Dần là một năm "dữ" thì cũng không ngờ là dữ đến vậy! Nhưng dữ nhất là khi Mississippi bị nghẹn dầu. Đấy là một yếu tố nên canh chừng khi theo dõi tin tức về vụ dầu loang.

Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.