Hôm nay,  

McCain Hồi Sinh

19/02/200800:00:00(Xem: 11506)

...McCain đắc cử tổng thống Mỹ thì chúng ta sẽ thấy các lãnh tụ Hà Nội bối rối...

Năm 1973, Hiệp Định Paris được bốn phe ký kết, chấm dứt sự tham chiến của Mỹ tại Việt Nam, mặc dù cuộc chiến vẫn tiếp tục thêm hai năm nữa. Sau đó, tù binh đôi bên được trao đổi, trong đó có hải quân trung úy John McCain. McCain trở thành người hùng, người trở về từ cõi chết.

Năm 1967, trong phi vụ oanh tạc Bắc Việt lần thứ hai mươi ba, máy bay của trung úy McCain bị hoả tiễn tầm nhiệt của Nga bắn rớt. Thật ra, phi công McCain có thể đã tránh né được hỏa tiễn khi được radar cho biết máy bay của ông đã bị lọt vào vòng tầm nhiệt của hỏa tiễn địch. Ông chỉ cần bẻ lái gắt thì có hy vọng thoát. Nhưng vốn dĩ gan lì – hay ngoan cố- ông tiếp tục trực chỉ vì không muốn hụt mục tiêu, một nhà máy điện lớn. Kết quả: ông thả bom trúng mục tiêu, nhưng đồng thời cũng bị hỏa tiễn bắn trúng. Máy bay nổ tung, ông bị hất văng ra khỏi máy bay, gẫy xương cả hai tay và xương chân.

Rớt xuống hồ Trúc Bạch, ông được một đám dân quân Bắc Việt bắt được và chào đón bằng một báng súng vào vai, khiến ông gẫy thêm xương vai.

Ông được đưa về “khách sạn” Hỏa Lò. Ở đây, ông tiếp tục bị cai ngục cộng sản Bắc Việt chào đón, gẫy xương tay và chân thêm vài lần nữa.

Một năm sau, Bắc Việt hay tin thân sinh tù binh McCain vừa được bổ nhiệm Đô Đốc Tổng Tư Lệnh Hạm Đội Thái Bình Dương. Vì mục đích tuyên truyền rẻ tiền cố hữu của cộng sản, Bắc Việt đề nghị trao trả tù binh McCain về Mỹ. Ông McCain khẳng khái -hay ngoan cố- từ chối, không chịu về một mình trong khi các chiến hữu vẫn còn bị tù. Ông ở lại Hỏa Lò chịu đòn tra tấn đánh đập thêm bốn năm nữa, cho tới năm 1973. Về đến Mỹ, ông phải chống nạng và nằm nhà thương chữa trị một thời gian dài.

Ngày nay, ông vẫn không dơ hai cánh tay lên cao được.

Mùa hè năm 2007, công cuộc vận động tranh cử tổng thống của ông McCain hoàn toàn bế tắc. Tỷ lệ hậu thuẫn của ông trong khối cử tri Cộng Hòa vẫn lẹt đẹt ở hàng thứ tư, sau các ứng viên Giuliani, Romney và Thompson. Số tiền ủng hộ thu được không đủ mua quảng cáo trên truyền hình, mà cũng chẳng đủ để trả lương nhân viên. McCain bắt buộc phải sa thải nhân viên và cố vấn, đóng cửa hàng loạt văn phòng vận động. Ông thay đổi chiến lược vận động. Bỏ thời giờ đi gặp cử tri tại các tỉnh, làng nhỏ nhất tại Iowa và New Hampshire, là hai tiểu bang sẽ có những cuộc bầu sơ bộ đầu tiên. Ông thay đổi phương thức nói chuyện, không còn rào đón như các chính khách bình thường, mà nhất quyết  -hay ngoan cố- nói thật nói thẳng và nói hết.

Qua đầu năm 2008, khi các cuộc bầu sơ bộ bắt đầu, ông bất ngờ về đầu tại New Hampshire (đất của Romney), rồi South Carolina (đất của Huckabee), và cả Florida (đất của Giuliani).

Và bây giờ, ứng viên McCain trở thành đại diện cho đảng Cộng Hòa để tranh cử tổng thống vào Tháng Mười Một tới. Một lần nữa, McCain trở thành người hùng, trở về từ cõi chết!

Sự hồi sinh của ứng viên McCain có thể được giải thích bằng nhiều yếu tố.

Trước hết phải nói đến cách vận động mới của ông.

Chính trị gia mà nói thật nói thẳng là điều thật khác thường và hiếm có. Nhờ vậy, ông thu hút được cảm tình của một số lớn cử tri, và nhất là của giới truyền thông, vốn dĩ thích những chuyện giựt gân, khác thường. Nhất là trong những chuyện nói thật nói thẳng đó, có nhiều chuyện đi ngược lại tư tưởng lập trường của đảng Cộng Hòa. Giới truyền thông cấp tiến vốn dĩ có ác cảm với Cộng Hòa đã không bỏ lỡ cơ hội khai thác và ca tụng McCain là người can đảm, có lập trường dung hòa, không quá khích như Bush hay Giuliani.

Tính dung hòa này cũng thu hút được cảm tình của những cử tri độc lập, không thuộc đảng Dân Chủ mà cũng chẳng phải đảng viên Cộng Hòa.

Yếu tố thứ hai đưa tên tuổi ông lên là lập trường của ông đối với cuộc chiến Iraq. Trước đây, ông công khai chỉ trích Tổng thống Bush và Bộ trưởng Quốc phòng Rumsfeld là đã điều hành cuộc chiến một cách hoàn toàn sai lầm, không chịu gửi đủ lính, nên gây ra vấn đề là tạo cơ hội cho quân phiến loạn Sunnis và quân khủng bố Al Qaeda đạt được nhiều thành quả quân sự. Trong khi cả nước Mỹ chống chiến tranh Iraq và phe Dân Chủ lớn tiếng đòi rút quân, thì ông McCain chủ trương phải đánh mạnh hơn nữa. Cũng chính vì vậy mà tỷ lệ hậu thuẫn của ông đì đẹt không lên nổi.

Nhưng rổi ông Bush quyết định đôn quân đúng như ông McCain vẫn đòi hỏi từ lâu. Chiến lược này được chứng tỏ là đúng và đưa đến thành công. Các cuộc tấn công khủng bố suy giảm mau chóng và rõ rệt. Ông McCain nhân đó cũng chứng minh rằng điều ông kêu gọi từ đầu đã là đúng. Hiển nhiên ông là người có viễn kiến vì là một cựu quân nhân có nhiều kinh nghiệm quân sự cũng như chính trị.

Yếu tố thứ ba đưa ông lên ứng viên hàng đầu là những sai lầm chiến lược chiến thuật của các đối thủ của ông. Từ ông Romney với lập trường bất nhất, đến ông Giuliani với chiến lược tập trung nỗ lực quá muộn vào một tiểu bang Florida, từ ông Thompson với cuộc tranh cử ỉu xìu, đến ông Huckabee chỉ giỏi giảng đạo. Tất cả, chẳng ông nào có tầm vóc của một McCain.

Cuộc chạy đua bên Cộng Hòa chính thức chưa chấm dứt vì ông mục sư Huckabee vẫn còn chưa chịu bỏ cuộc. Nhưng thực tế mà nói, ông này không có chút hy vọng gì. Ông McCain coi như sẽ đại diện cho Cộng Hòa, để mai mốt sẽ đấu với bà Hillary hay ông Obama trong trận thư hùng cuối cùng Tháng Mười Một tới.

Nhưng trước khi tới đó, lộ trình của ứng viên McCain vẫn còn nhiều chông gai nghiêm trọng hơn cái gai Huckabee.

Trước hết, dĩ nhiên là cuộc chiến tại Iraq vẫn còn hết sức bấp bênh. Một vài vụ đánh bom chết vài trăm người là có thể thay đổi cuộc diện dễ dàng. Nếu tình hình bỗng suy đồi thì hậu thuẫn của ông McCain có thể biến mất. Và đảng Cộng Hòa sẽ lâm vào cảnh bối rối không biết làm sao có thể kịp thay thế McCain.

Ngoài ra, ngay trong nội bộ phe bảo thủ của đảng Cộng Hòa, ông McCain cũng đang bị chống đối kịch liệt. Nhóm cực hữu cho rằng ông McCain này chẳng có gì là bảo thủ mà chỉ là thứ cấp tiến núp dưới chiêu bài bảo thủ, do đó còn nguy hiểm hơn loại cấp tiến thực sự như bà Hillary hay ông Obama. Phe Dân Chủ cũng thừa nước đục thả câu, bật mí rằng hồi năm 2000, sau khi McCain bị Bush đánh bại trong cuộc bầu cử tổng thống năm đó, ông McCain đã tính toán bỏ đảng Cộng Hòa chạy qua Dân Chủ. Dĩ nhiên, ông cải chính rằng không có chuyện ấy, nhưng nghi vấn đã được khều ra!

Một yếu tố không kém quan trọng là tuổi tác. Chúng ta ngồi nhà coi tin tức tranh cử cũng cảm thấy hết sức mệt mỏi rồi, nói chi đến chuyện đi vận động tranh cử thực sự. Một ngày chạy đi hai ba thành phố, hò hét diễn văn dài ngắn cả chục lần, đầu óc lúc nào cũng căng thẳng tột đỉnh với việc phối hợp bên trong và ứng đối bên ngoài. Ai biết được cụ McCain sẽ còn đủ sức chạy đua đến lúc nào"

Hiện nay hãy còn hơi sớm để biết được đối thủ Dân Chủ của ông McCain sẽ là ai. Dù sao đi nữa thì sự khác biệt giữa McCain và Hillary hay Obama cũng rất là lớn. Do đó, cuộc bầu Tháng Mười Một tới sẽ là một sự lựa chọn rất rõ ràng cho cử tri Mỹ.

Đối với dân tỵ nạn, ông McCain là một khuôn mặt quen thuộc.

Một số lớn cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa coi ông McCain như chiến hữu, chẳng những đã cùng chung vai sát cánh trong cuộc chiến bảo vệ tự do cho miền Nam, mà còn là bạn tù đã từng nếm mùi tra tấn của cộng sản. Cho đến nay, ông McCain vẫn duy trì sự khinh bỉ với những tên cai ngục cộng sản và cho rằng chế độ chiến thắng là chế độ bất xứng.

Với dân tỵ nạn, ông được biết đến như là người thực tế đã từng kêu gọi bỏ cấm vận, công nhận và mở liên hệ ngoại giao với Việt Nam Cộng Sản sớm nhất, vào năm 1994, với mục đích ngăn chận ảnh hưởng lan rộng của Trung Cộng. Nhưng đồng thời McCain cũng là người có thành tích tranh đấu tích cực trong 25 năm tại Thượng viện cho dân chủ, tự do, và nhân quyền tại Việt Nam ngày nay. Ông là một trong những chính khách Mỹ am hiểu tình hình Việt Nam nhất vì đã từng thăm viếng Việt Nam nhiều lần nhất. Ông cũng là ứng viên tổng thống có đại diện liên lạc trực tiếp với cộng đồng tỵ nạn Việt tại thủ đô tỵ nạn Bolsa. Chưa kể là trước đó ông đã vận động một đạo luật cho phép con em các cựu tù nhân cải tạo được theo cha mẹ nhập cư Hoa Kỳ. Một số gia đình được di tàn hay đoàn tụ đã không quên điều ấy.

Hiển nhiên Thượng nghị sĩ McCain gần với chúng ta hơn bà Hillary hay ông Obama, nhưng cuối cùng thì ông McCain, hay bà Hillary, hay ông Obama, cũng vẫn là người Mỹ, họ phải dành ưu tiên cho quyền lợi nước Mỹ và dân Mỹ. Họ được bầu lên vì chức năng ấy.

Điều thú vị là nếu ông McCain đắc cử tổng thống Mỹ thì chúng ta sẽ có dịp thấy các lãnh tụ Hà Nội bối rối không ít mỗi lần phải trực diện với ông (18-2-08).

Đã từ lâu, những gì Donald Trump nói, làm, hoặc tung ra trên Truth Social Media, đã không còn là một tuyên bố mang tính chuẩn mực cao nhất của quốc gia. Nó cũng không còn bao hàm những quyết định quan trọng mà người dân mong chờ sẽ mang đến một xã hội tốt đẹp hơn, an toàn hơn. Không phải những cận thần chung quanh Trump không nhận ra điều đó. Rõ nhất là “Thằng Ất” và “Thằng Giáp” – hai kẻ đã từng đưa ra lời chỉ trích mạnh mẽ thời chưa bước vào cửa quan. “Thằng Ất” JD Vance hồi năm 2016 đã nhắn tin cho một người bạn học cũ, gọi Trump là "Hitler của nước Mỹ.” Trong một bài viết đăng trên tờ The Atlantic vào năm 2016, Vance mô tả Trump như một thứ "’heroin’ văn hóa.”
Trong kho tàng ngụ ngôn Aesop có hai câu chuyện. Một chuyện kể về cậu bé chăn cừu thích lấy nỗi sợ của cả làng ra làm trò đùa. Cậu nhiều lần hét to “Sói! Sói!” để lừa người lớn chạy hộc tốc lên đồi, rồi bỏ về, bực bội vì bị lừa. Đến một ngày nọ, sói thật xuất hiện, cậu kêu cứu đến khản cổ mà không còn ai buồn chạy lên đồi cứu giúp, khiến đàn cừu của cậu bị sói vồ sạch. Chuyện thứ hai kể về một con sói thật kiên nhẫn. Ngày này qua ngày khác, nó lảng vảng đến gần đàn cừu. Lúc đầu, người chăn cừu cảnh giác, luôn tay xua đuổi nó. Nhưng sói chỉ đứng xa, trông hiền hòa, không vồ con nào. Lâu dần, chàng chăn cừu quen thuộc với sự hiện diện của Sói, cho đến khi bóng dáng con vật trở nên một phần của phong cảnh xung quanh đàn cừu. Tới một hôm bận việc, anh cả tin đến mức gửi luôn đàn cừu cho sói “trông hộ”. Tối về, chuồng chỉ còn vài con sót lại.
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.