Hôm nay,  

Đọc Sách: ‘vụ An Trần Ngọc Châu’

4/23/200900:00:00(View: 15817)

Đọc Sách: ‘Vụ An Trần Ngọc Châu’ Dịch Từ Nguyên Bản Tiếng Anh: ‘The Chau Trial’ Của Elizabeth Pond
Trần Ngọc Châu và tác phẩm. Trần Ngọc Châu (thứ 3 từ phải) và phu nhân mang hoa cờ vàng VNCH. BS Võ Đình Hữu (thứ 2, từ phải). Chánh án Nguyễn Trọng Nho, ngồi bên trái.


Lý Kiến Trúc-Văn Hóa Magazine
I/ Lời nói đầu:
Ngày Thứ Hai 2 tháng 3 năm 1970, Trung tá Triệu Khắc Huỳnh Chánh thẩm chủ tọa Toà án lưu động Mặt trận vùng III Chiến thuật khai mạc phiên tòa tại trụ sở Hải quân Công xưởng để xử Dân biểu Trần Ngọc Châu, TTK Hạ viện VNCH bị áp giải ngay tại Hạ viện; sau mấy ngày xử, ông Trần Ngọc Châu bị kết án 10 năm tù khổ sai, tịch biên tài sản, không biệt xứ với tội danh: " Tiếp xúc với thành phần nguy hiểm cho quốc gia".
Giở chồng báo cũ, vụ án - phiên tòa xử "bị cáo" Trần Ngọc Châu hội đủ các điều kiện "ồn ào, náo nhiệt, hấp dẫn" tiêu biểu cho bộ mặt sinh hoạt chính trị Sàigon loan tải trên trang nhất các tờ báo lớn ở Sàigon; nhưng điều đáng để ý tới là vụ án lại vang dội ảnh hưởng sâu tới hành  pháp, lập pháp Hoa Kỳ và quốc tế, lý do vì bị cáo vốn nguyên là tỉnh trưởng hai lần tỉnh Kiến Hòa, nguyên thị trưởng thành phố Đà Nẵng (thành phố lớn thứ nhì sau Sàigon), đương kim Tổng thư ký Hạ Nghị Viện VNCH, lý do "thầm kín nặng ký" bên cạnh, miệng đời thường cho rằng Trần Ngọc Châu là "Xịa", là liên lạc viên quá nhiều với CIA, với tình báo Bắc Việt, xuyên qua các hoạt Động bình định nông thôn, chính trị, quân sự, mạng lưới gián điệp, mạng lưới phản gián, thậm chí vi phạm quá sâu vào những toan tính chiến  lược của những cái đầu đầy tham vọng trong cuộc chiến Việt Nam-Đông Dương; ngoài ra người đọc còn nhìn thấy hình ảnh của một tòa án quân sự mặt trận có một không hai "xử"  về tình tự dân tộc, xử về tình đối đãi anh em ruột thịt, xử về sự lạnh lùng ác độc của một gia đình thượng lưu trí thức VN tiêu biểu, sống cao trên nấc thang xã hội được trang bị đầy đủ vũ khí ở hai bên chiến tuyến Bắc-Nam. * Xem bản chụp một số báo chí Sàigon cũ trước 1975)
Nhà báo Elizabeth Pond, thường trú tại Sàigon quãng năm 1969-1970, theo dõi sát nút vụ án; với chiếc xe nhỏ, bà không từ nan một địa điểm nào, chi tiết nào ghi nhận vào sổ tay để viết "The Chau Trial". Tác phẩm tư liệu này mang lại vinh quang cho Pond, giải thưởng báo chí của The Alicia Patterson Foundation. Sách nằm trong thư viện Quốc hội Hoa kỳ với mã số ISBN: 978-0-9797069-7-4.
Ở Hoa kỳ, dịch giả Thanh Nguyễn và Hoàng Ngọc Trác (bạn của ông Tr. N. Châu) đã chuyển sang Việt ngữ từ nguyên tác gồm 3 phần: The Chau Trial I: Prologue; The Chau Trial II: Denoucment; The Chau Trial III: Aftermath. Vietbook USA xuất bản tháng 3, 2009. Cuốn sách ra đời năm 2009 vào lúc "bị cáo" Trần Ngọc Châu đã 86 tuổi hiện đang sống êm đềm tại nam California, Vietbook USA hiệu đính và xuất bản, như một món quà quí giá dành cho "bị cáo". Sách hội đủ sự đòi hỏi của tính nghiêm túc, vuợt khỏi tính khô khan của sự kiện, khiến người đọc phải đọc một hơi từ đầu đến cuối. 
II/ Vào đề:
Một số nhận xét cho rằng:
- Vụ xử án Dân biểu Trần Ngọc Châu do Tổng thống Nguyễn văn Thiệu "bày trò";
- Vụ xử án Dân biểu Châu là vụ án có tính chất đặc biệt chính trị;
- Vụ xử án Dân biểu Châu vì Châu liên quan đến người ngoại quốc (tình báo CIA);
- Vụ xử án Dân biểu Châu vì tội "phạm pháp bắt quả tang liên lạc với tình báo gián điệp CS";
- Vụ xử án Dân biểu Châu vì đã "liên hiệp với các phe nhóm thân cộng mà ông Châu cho là không CS";
- Vụ xử án Châu vì Châu "cả gan đóng vai trò trung gian, khởi xướng sự kêu gọi đối thoại giữa "ba) phe tham chiến (Sàigon, Hà Nội và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam) mà không cần có sự hiện diện của người Mỹ" * (tr. 31), và vì Châu (ngây thơ hay giả ngây giả mù "phỗng" tay trên Bắc Việt để "đón" MTGPMN về với VNCH ) - Châu lợi dụng tình cảm ruột thịt tìm hiểu qua Hiền việc đề nghị Bắc Việt có chịu đồng ý tiếp một phái đoàn dân biểu miền Nam đi Hà Nội…, hoặc tạo một cuộc gặp gỡ tại Paris. ** (tr. 109 & 180) - Trần Ngọc Hiền, anh ruột Châu từng kêu lên "Châu là một chính khách trí trá".
- Một số nhận xét khác đứng trên lập trường "Mưu tìm giải pháp chấm dứt chiến tranh qua con đường hòa bình, độc lập, trung lập". Nhóm này không ở bên cạnh Châu.
- Một nhóm khác cho rằng quan điểm giải quyết cuộc chiến Việt Nam của Dân biểu Châu khác biệt với quan điểm của TT Thiệu đương quyền "đúng vào lúc chính quyền Nixon đang dò dẫm tìm cho ra một chính sách riêng đối với vấn đề Việt Nam" (tr. 31+32).
- Trong bối cảnh chính trị  đằng sau cái "đa nguyên hỗn tạp" như vậy, có những nhân vật, đoàn thể ở trong "Lực lượng Liên minh Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình tiêu biểu là Trịnh Đình Thảo-Lâm Văn Tết", và cái gọi là "Lực lượng thứ ba" bao gồm nhiều trí giả sa lông Sàigon, gân cổ ở nghị trường và trên các tờ báo thiên tả nổ, kêu gọi thỏa hiệp, hòa giải cùng với nhiều luận điệu khác, mà đối với ông Thiệu thì "vừa nghe ra có hơi hướng liên hiệp vừa ngụ ý là nhắm lật đổ ông Thiệu."
- Lại có luồng nhận xét vừa có hơi hướng đa nghi, vừa có vẻ thông thạo về chính trường miền Nam cho rằng lập trường của ông Châu lúc đó "chẳng qua cũng chỉ là những luận điệu thăm dò của ông Thiệu và người Mỹ hoặc của riêng người Mỹ hỏa mù tung ra …" (tr. 32).
1/ Nhìn về truyền thống gia đình của Trần Ngọc Châu, Châu sinh trưởng và hấp thụ văn hóa từ một gia đình Khổng Mạnh có máu chính trị. Bao nhiêu năm xa cách cho đến khi gặp nhau trong một hoàn cảnh trái khuấy (đây là một gia đình VN tiêu biểu do chiến tranh gây ra mà người ngoại quốc ít khi hiểu nổi), hai anh em thường tranh luận đối chọi chính trị, cùng chơi trò cút bắt mèo vờn chuột chuột lờn mèo, cùng khai thác ý đồ tin tức lẫn nhau, cùng mượn tay nhau, đặc biệt nhất là phía Châu, ỷ vào thế chính quyền, cầm quyền, trong lúc người anh ruột của mình hoạt động bí mật nhiều hiểm họa vây quanh, Châu không từ bỏ việc khai thác nguồn tình báo chiến lược Hiền - đại biểu cho lập trường chính trị MTGPMNVN và Hà Nội; từ Hiền, Châu bắc thang tham vọng leo lên hàng chính khách trên sân khấu chính trị thượng tầng của Sàigon, từ Hiền, Châu giao du mật thiết với các trùm "Xịa", thậm chí, Châu còn muốn đi xa hơn nữa, từng buớc lấn sân Tổng thống Thiệu đến mức Bunker phải báo cáo: "Tôi cho rằng ông Thiệu đã có vẻ một ăn hai thua với vụ ông Châu". Châu quần thảo với Thiệu để chuẩn bị sức nặng chính trị hầu nhắm vào ghế lãnh đạo VNCH sau này, khi Mỹ đang làm mọi cách rút quân an toàn danh dự ra khỏi vũng lầy miền Nam.
Châu thừa biết rằng, đứng giữa áp suất chính trị, Châu mặc nhiên chấp nhận tứ bề thọ địch. Châu thừa biết các đối thủ, sẽ "mượn dao chém thớt đánh ngầm đòn độc sau lưng Châu", cuới cùng thì bạn bè của Châu, sau khi la toáng lên rồi cũng đành hậm hực xanh mặt trước cái trò "bày ra trò" đưa Châu, Hiền, Sắc, và các trùm cụm tình báo của MTGPMNVN-Hà Nội vào rọ. Tổng thống Thiệu đã ra tay một đòn rất chính xác khi điểm ngay huyệt Hạ Viện, cái lò tập trung đa nguyên hỗn tạp.
2/ Sau cùng, cuối năm 1969 đầu năm 1970, bước ngoặt của chiến tranh, các phe tham chiến ở Việt Nam (tác giả Elizabeth Pond vẫn chưa xác định rõ các phe tham chiến là 4 phe; theo ý tôi: "bốn" phe tham chiến là Mỹ (và các đồng minh ăn theo), VNCH, MTGPMN và Bắc Việt), cùng bật đèn xanh bắt giam và xử hai anh em Trần Ngọc Châu-Trần Ngọc Hiền, khai tử đường dây tình báo chiến lược của Mặt Trận GPMNVN-Hà Nội, chính Hà Nội đã khai tử Trần Ngọc Hiền. Thế còn có ông trùm nào bị hốt thêm trong đường dây gián điệp, phản gián điệp này không" Thành quả cuối đời của những điệp viên này ra sao" Tác gỉa cuốn sách, phiên tòa và ông Châu không nói nhiều tới các ẩn số tình báo đặc biệt như Tư Hiệp, Ba Căn, anh Toàn và…)
3/ Qua vụ án, sách đã mô tả, ta có thể định lượng rằng, bốn bên Mỹ-HàNội-MTGPMN-Sàgon đã sử dụng nhân vật chính trị Châu "nhị trùng" phải trở nên một "đối tượng sang sông sáng giá nhất", một "hiểm họa chính trị khôn lường nhất trên bàn cờ Việt Nam cần phải khóa miệng lại."
Nhưng xét cho kỹ, bản án 10 năm khổ sai đối với Trần Ngọc Châu và 4 năm tù đối với Trần Ngọc Hiền có khi lại là bản án cứu mạng Châu và Hiền, đó là tính chất nhân bản của chế độ chính trị Sàigon và Mỹ vẫn còn yêu chuộng nhân tài dành cho người yêu nước chân chính. Cuối trào của cuộc chiến, áp lực của quân giải phóng và quân Bắc Việt đè nặng lên chế độ Sàigon, và khi chế độ chính trị của Thiệu ngày càng lung lay, Thiệu ra lệnh thả Châu ra từ nhà tù Chí Hòa (được ở nhà riêng nhưng bị quản chế nghiêm ngặt), bản án của toà án lưu động mặt trận trở thành bản án định mệnh khi định mệnh phũ phàng bỏ rơi Châu lang thang trên bờ sông Sàigon ngày 30 tháng Tư 1975, Châu uất ức và buông xuôi theo định mệnh vào tù trong các trại tù cải tạo khổ sai của CS.(4)
 III/ Trích đoạn:
Trang 33, Elizabeth Pond viết:
- " Bối cảnh chung của toàn cục là việc Mỹ rút quân. Đấy là trọng tâm của sự kiện chính trị. Việc rút quân đó ảnh hưởng đến tình hình chính trị tại VN ra sao chỉ còn là vấn đề thời gian. Việc Mỹ chưa hoàn toàn rút quân trước cuối năm 1969 chẳng qua chỉ là do sự trì trệ của lịch sử". (1)
- " Do đó tình hình sẽ có thể thúc đẩy ông Thiệu phải mở rộng cơ cấu chính trị của chế độ mình về cánh tả… thì ông Thiệu lại cố thủ giữa hàng ngũ các phe nhóm cánh hữu, các người công giáo gốc miền Bắc và quân đội, thay vì nhích lại gần các phần tử mềm mỏng hơn. Rõ ràng là ông ta sợ rằng việc Hoa kỳ rút quân sẽ làm suy yếu cái thế của ông ta, bởi vì cái thế đó rõ rệt là do sự ủng hộ của người Mỹ mà có."
Trang 36 & 37, Elizabeth Pond viết:
- "Ngoài ra ông Thiệu cũng nghi ngờ cả người Mỹ… viên Tổng giám đốc Cảnh sát Quốc gia của ông Kỳ cũng vẫn tố cáo là người Mỹ đã cấu kết với Cộng sản để dựng lên vụ Tết Mậu Thân. (2)


- Uỷ viên Công tố (tr. 159): "Ông nói rằng ông đã thuyết trình ba tiếng đồng hồ cho ngươì Hoa Kỳ về việc tiên liêu cuộc tổng tấn công vào dịp Tết, thế tại sao ông lại không báo cho chính phủ Việt Nam biết về kết quả buổi thuyết trình"
- Châu: "Không phải vì biết trước về vụ tổng tấn công vào dịp Tết mà tôi đã có buổi thuyết trình đó." (3)
- Rốt cuộc, sau tất cả những thất bại về quân sự mà lực lượng Cộng sản phải gánh chịu trong trận tổng tấn công 1968, có một dữ kiện chính trị nổi bật. Đó là: trận Tết Mậu thân 1968 đã khiến Tổng thống Johnson và công luận Mỹ cho rằng không thể thắng cuộc chiến Việt Nam, mà đã đến lúc phải đàm phán tìm giải pháp để Hoa Kỳ rút quân. Đó chính là khúc quanh của cuộc chiến, vào một thời điểm không thể quay lại. Sau cùng, quan niệm của tướng Văn Tiến Dũng ít ra cũng có một điểm đúng. Đó là: đập tan ý chí chiến đấu của đối phương thì đối phương sẽ phải ngồi lại thương thuyết.
Trang 58: Elizabeth Pond viết:
- John Paul Van đã ra điều tra điều trần tại tiểu ban Ngoại giao Thượng viện trong lần gặp gỡ ông ta đã thông báo cho ông Khiêm biết về mối hợp tác giữa ông Châu và Washington "theo từng chi tiết" - tức là về việc ông Châu đã thông báo cho người Mỹ biết về các cuộc tiếp xúc giữa ông ta với ông Hiền…
Trang 180 & 186, Elizabeth Pond viết:
- Hiền nói: "Chú à, chú có thực sự tìm ra một sự hòa giải giữa người Việt và người Việt hay không" Ý kiến vừa rồi là từ chú mà ra hay là của một lực lượng nào khác" "Đương sự đề nghị là tôi nên thăm dò coi xem Mặt trận và miền Bắc có đồng ý với một cuộc gặp gỡ như vậy hay không nội trong tháng Tư hay tháng Năm-1969, khi mà đương sự sẽ đi Paris… Tôi nhân cơ hội đó mà nhẹ nhàng nêu lên cái ý sau đây: đây là quan điểm thực sự và tâm huyết của chú hay là một đòn chính trị hoặc kế hoặc của CIA""
- Đường lối và lập trường của miền Bắc và của MTGPMNVN đều luôn luôn phù hợp với nhau."
- "Giải pháp đứng đắn duy nhất là phải thành tâm tìm ra một giải pháp trực tiếp với MTGPMNVN… bằng cách thương thuyết trực tiếp với MTGPMNVN, sớm muộn gì thì chúng ta cũng phải đi đến chỗ đó… "Bắc Việt chưa thừa nhận chế độ miền Nam"
- "Sau đó, rồi ra Mặt trận cũng có thể được coi như là một chính đảng. Có thể sửa đổi Hiến pháp để cho phe thiểu số (MT) có thể có một số ghế…. Nhưng ngay bây giờ mà nói ra điều đó hay tuyên bố như thế thì sẽ bị người ta đập chết."
- "Ông Châu đã rất lấy làm thích thú sau khi Nixon thắng cử…"
- "Tôi đã khai rằng ông Châu là một chính khách nhiều thủ đoạn,… và thực ra tôi cũng không biết rõ là ông Châu mưu toan chuyện gì""
- "Làm chính trị có nghĩa là phải biết thế cân bằng thực sự giữa các lực lượng…"
Trang 233 Điện văn ngày 27-2-1970 của Bunker viết:
- "Tôi đã nói rằng tôi lấy làm ngạc nhiên, và Washington cũng vậy về việc người ta lập lại lời của Nguyễn Cao Thăng cho rằng Hoa Kỳ đã toa rập với Việt Cộng để cho xẩy ra vụ Tết Mậu Thân nhằm dễ bề dẫn đến chính phủ liên hiệp."
- "… Việc ông Trần Ngọc Châu rêu rao rằng ông ta đã báo động cho Hoa Kỳ về vụ Tết, và như vậy là gây phiền toái cho cả Hoa Kỳ và Việt Nam."
- "Ai cũng biết rằng ông Châu đã tìm hết cách để kéo Hoa Kỳ vào vụ án ông ta. Và bây giờ thì tòa án đã sa bẫy vào ông ta…. Nhưng bây giờ thì ông ta lại được dựng lên như là một nhân vật quốc tế…"
- TNS Fulbright viết: "Tôi chưa bao giờ nói Châu là CIA, Châu chỉ làm việc mật thiết với CIA".
IV/ Hậu quả:
Trang 224, Elizabeth Pond viết:
- "Về phía Hoa Kỳ thì điều ấy hàm ý là ông Thiệu có thể ổn định đủ tình hình cho Hoa Kỳ rút khỏi cuộc chiến, tương tự như ông Kỳ đã tạm ổn định tình hình cho Mỹ nhảy vào cuộc.
- Từ 1972 về sau, tôi chờ đợi tình hình chính trị sẽ suy đồi với nhịp độ nhanh mà khó lường. Và tôi chờ đợi MTGP  - với cơ sở cán bộ duy nhất có kỷ luật và trải rộng toàn quốc, sẽ có thể khai thác được sự suy đồi chính trị này. Con đường dẫn tới sự khống chế của Mặt trận - và Bắc Việt ở miền Nam không nhất thiết phải qua một cuộc tấn công quân sự." (5)
V/ Kết quả:
- 30 tháng Tư, 1975. 
VI/ Bài học:
Từ một số yếu tố trích trên, suy nghiệm lại cuộc đời hoạt động chính trị của Dân biểu VNCH Trần Ngọc Châu, tư tưởng sâu thẳm của nhà tình báo chiến lược miền Nam Trần Ngọc Hiền và bàn cờ chính trị của "bốn phe tham chiến", chúng ta có thể rút ra được bài học nào và sẽ học như thế nào để :
- Hiểu về bối cảnh chính trị hiện nay gói trong thế tam giác Hoa Kỳ, CSVN và Cộng đồng Việt Nam hải ngoại"
- Bài học thứ nhất về lý luận; ví dụ như tạm đưa ra một gỉa thuyết chính trị:
* Qua môi giới hoặc lồng qua các tổ chức phi chính phủ hoạt động xã hội, con đường hòa giải dân tộc là sẽ chấp nhận sự cầm quyền và tồn tại của đảng CSVN để đổi lấy việc tiến tới bản Hiến pháp mới trong đó có điểm công nhận đảng CSVN (mà không cần giải thể loại ra ngoài vòng pháp luật như Liên sô) và công nhận các đảng chính trị đối lập được hoạt động công khai."
* "Đề xuất quốc kỳ và quốc ca được trưng cầu dân ý - biểu quyết của toàn thể dân tộc Việt Nam hải ngoại - quốc nội.
- Bài học thứ hai về sinh hoạt chính trị; ví dụ như nếu "bạn" sẽ đóng một vai trò khi có Quốc hội mới và có Chính phủ Liên đảng phái.
- Bài học thứ ba là kinh nghiệm của nước nhỏ đối với nước lớn trong chiến tranh, trong hòa bình.
- Bài học thứ tư về kinh nghiệm đối xử của nước lớn đối với nước nhỏ đi đôi với biện pháp dân chủ hóa kiểu phương Tây vừa ủng hộ nhà cầm quyền vừa gia tăng yểm trợ đối lập.
- Bài học thứ năm về ảo giác chính trị.
- Bài học thứ sáu về tinh thần trách nhiệm thiêng liêng của người Việt Nam yêu nước trong ngoài nước.
 VII/ Kết luận:
Sau cùng, trong hàng trăm trang sự kiện miêu tả "Vụ án Trần Ngọc Châu" và phụ lục, tôi đặc biệt cảm nhận hai bản tự khai của Trần Ngọc Châu và Trần Ngọc Hiền, bản báo cáo của Đại sứ Bunker, thư  TNS Fulbright, chương Đối diện Phượng hoàng… và ngay cả tâm tư cốt lõi của người viết cuốn sách.
Biết bao nhiêu trang giấy viết về "sự thảm bại" - "sự hy sinh cho lý tưởng tự do", chú ý vào các biên khảo của tác gỉa Mỹ, không đủ bào chữa về chính sách đưa quân đi tham chiến ở Việt Nam mà cao điểm là quyết định dội bom Bắc Việt của TT Johnson đã rơi vào cái bẫy chính trị của Hà Nội giăng ra, để cuối cùng Hà Nội ngồi hàng ngang nói chuyện với Mỹ ở bàn  hội nghị Paris, thậm chí Lê Đức Thọ cũng không thèm cái bằng Nobel Hoà bình hão.
Sự thất trận của Mỹ từ trong đáy lòng người Mỹ đến nỗi một số người cố bào chữa cho bổn phận công dân của họ đối với quốc gia, nguỵ biện về cái gọi là phong trào phản chiến, bạo biện về cuộc chiến ý thức hệ mà không thể thấu suốt tầm nhìn về đặc tính chống ngoại nhân và khả năng dung hóa của dân tộc Việt Nam.
Bây giờ, tôi có thể mường tượng ra cái miền đất ngã tư quốc tế rơi vào đúng thời điểm phải dành đất cho các "anh hai cường quốc" thử sức; có anh muốn chứng minh rằng tôi không phải là đội quân lê dương mà là đội quân bách chiến bách thắng và tôi sẽ dậy cho Điện biên phủ biết thế nào là lễ độ! Và sự thể là như thế nào thì ai cũng biết rồi! Lại có anh lớn giọng muốn dậy cho Việt Nam một bài học để cuối cùng anh phải bỏ xác tại mặt trận Việt bắc mấy chục ngàn quân.
Bây giờ thì tôi đã thấy bài học thấu tâm can về hàng triệu thân phận Việt Nam nằm xuống có cả mẫu mực của một anh quốc gia lưu vong và một anh cộng sản lỗi thời hay một anh thất thời thất chí.
Bây giờ, tôi có thể mường tượng ra khi mà chúng ta nhìn thẳng vào mắt nhau, tự kiểm điểm lẫn nhau, chiêm nghiệm lại quá khứ để không phải làm người bơi ngược dòng trong dòng sông dò dẫm./
Lý Kiến Trúc, Văn Hóa Magazine
Chú thích:
(1) Thế nào là vấn đề thời gian" Thời gian đối với Thiệu và chế độ Thiệu, với MTGPMN hay đối với thái độ của Hà Nội" Thế nào là do sự trì trệ của lịch sử" Bối cảnh chiến lược Đông Nam Á Châu hậu chiến tranh lạnh lúc đó ra sao với sự tính toán của Mỹ đang muốn nhìn về lục địa Trung cộng" Lập trường của MTGPMNVN và Bắc Việt là một. Nghị quyết của Bộ chính trị đảng CSVN đề ra mục tiêu cuối cùng là giải phóng toàn bộ miền Nam tiến tới thắng lợi hoàn toàn. "Miền Nam trong trái tim tôi - thơ Hồ Chí Minh".
(2) Trận tổng công kích Tết Mậu Thân 1968, gần như toàn bộ sinh lực của MTGPMN bị tiêu diệt; Ai muốn tiêu diệt sinh lực này" Cũng như Chiến dịch Lam sơn 719 Hạ Lào 1972, sinh lực của lực lượng tổng trừ bị được coi là thiện chiến nhất của VNCH bị tổn thất nặng, nặng nhất là vấn đề tâm lý đối với quân đội; Ai muốn tiêu diệt sinh lực này"
(3) Châu đã từng thảo luận thuyết trình và báo cáo mối liên lạc của Châu với Hiền cho người Mỹ nhiều lần. John Paul Vann khi điều trần tại Uỷ ban Ngoại giao Quốc hội Hoa kỳ đã nói rằng "Các cuộc liên lạc của ông Châu với anh mình đều được người Mỹ đồng ý và tiếp đó được báo cáo lại cho chính phủ VN từ năm 1965" (tr. 314).
(4) Châu ở tù trong Chí Hòa chung phòng với Luật sư Nguyễn Long, Cố vấn Huỳnh Văn Trọng, Chủ tịch sinh viên VN Huỳnh Tấn Mẫn. Trần Ngọc Hiền tù riêng cách ly. Sau khi Hiệp định Paris "bốn" bên ký kết vào tháng Giêng, 1973, trong các đợt trao trả tù binh, Châu, Trọng, Mẫm, Long và Hiền bị đưa lên trại tù Suối Máu Tam Hiệp để từ đó trực thăng chở lên Lộc Ninh trả về miền Bắc. Châu cương quyết không lên trực thăng, trưởng uỷ ban tù binh Bắc Việt không nhận Châu và nói rằng Châu không phải là người của ông ta, Châu không có trong danh sách. Đây là kế độc của Thiệu. Cuối cùng phải trả Châu từ Suối Máu về lại khám Chí Hòa. Tháng 6, 7, 1974, Châu được tự do về nhà quản chế. Nhà tình báo Trần Ngọc Hiền sau đó về "quê" hưu trí, sau 1975 có gặp lại Châu vài lần trước khi Châu vượt biên. Phần nào, Hiền đã chuyển hóa tư tưởng và bắc thang danh vọng chính trị cho Châu.
(5) Thật là sai lầm quan trọng khi phán xét về chủ trương của Hà Nội, đọc “Nhìn lại vai trò của Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp trong cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân.”

Đã từ lâu, những gì Donald Trump nói, làm, hoặc tung ra trên Truth Social Media, đã không còn là một tuyên bố mang tính chuẩn mực cao nhất của quốc gia. Nó cũng không còn bao hàm những quyết định quan trọng mà người dân mong chờ sẽ mang đến một xã hội tốt đẹp hơn, an toàn hơn. Không phải những cận thần chung quanh Trump không nhận ra điều đó. Rõ nhất là “Thằng Ất” và “Thằng Giáp” – hai kẻ đã từng đưa ra lời chỉ trích mạnh mẽ thời chưa bước vào cửa quan. “Thằng Ất” JD Vance hồi năm 2016 đã nhắn tin cho một người bạn học cũ, gọi Trump là "Hitler của nước Mỹ.” Trong một bài viết đăng trên tờ The Atlantic vào năm 2016, Vance mô tả Trump như một thứ "’heroin’ văn hóa.”
Trong kho tàng ngụ ngôn Aesop có hai câu chuyện. Một chuyện kể về cậu bé chăn cừu thích lấy nỗi sợ của cả làng ra làm trò đùa. Cậu nhiều lần hét to “Sói! Sói!” để lừa người lớn chạy hộc tốc lên đồi, rồi bỏ về, bực bội vì bị lừa. Đến một ngày nọ, sói thật xuất hiện, cậu kêu cứu đến khản cổ mà không còn ai buồn chạy lên đồi cứu giúp, khiến đàn cừu của cậu bị sói vồ sạch. Chuyện thứ hai kể về một con sói thật kiên nhẫn. Ngày này qua ngày khác, nó lảng vảng đến gần đàn cừu. Lúc đầu, người chăn cừu cảnh giác, luôn tay xua đuổi nó. Nhưng sói chỉ đứng xa, trông hiền hòa, không vồ con nào. Lâu dần, chàng chăn cừu quen thuộc với sự hiện diện của Sói, cho đến khi bóng dáng con vật trở nên một phần của phong cảnh xung quanh đàn cừu. Tới một hôm bận việc, anh cả tin đến mức gửi luôn đàn cừu cho sói “trông hộ”. Tối về, chuồng chỉ còn vài con sót lại.
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.