Hôm nay,  

Tiêu Thụ Là Dân Quyền

06/05/201000:00:00(Xem: 8782)

Tiêu Thụ Là Dân Quyền

Việt Long & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA

...quyền tiêu thụ gia tăng cũng cho người dân có tiếng nói trong các quyết định kinh tế...

Một mức tiêu thụ quân bình với đầu tư và xuất nhập khẩu có thể là yếu tố ổn định cho sự tăng trưởng bền vững. Tiêu thụ còn gia tăng được quyền hạn của người dân trong mọi sinh hoạt của một quốc gia. Diễn đàn Kinh tế đài RFA tìm hiểu khía cạnh này qua phần trao đổi với nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa, do Việt Long thực hiện sau đây.
Vai trò của tiêu thụ
Việt Long: Trong chương trình chuyên đề vào tuần trước của chúng ta, khi đề cập tới nguy cơ của một trận chiến mậu dịch giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, ông có nêu lên một chi tiết đáng chú ý. Đó là vai trò của tiêu thụ trong sinh hoạt kinh tế. Ông còn nói rằng tiêu thụ gia tăng thì cũng có thể nâng cao quyền hạn của người dân. Vì vậy, kỳ này chúng tôi xin đề nghị ông triển khai khía cạnh ấy cho thính giả cùng rõ. Như thường lệ, xin ông bắt đầu trình bày về bối cảnh của vấn đề.
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Trước hết, từ nhân vật có thể là thủy tổ của môn kinh tế tự do là Adam Smith và cũng từ Karl Marx, ta đều thấy ra sự gắn bó giữa kinh tế và chính trị và "kinh tế chính trị học" là một bộ môn thống nhất. Điều ấy có nghĩa là chính sách kinh tế cho quốc gia cũng là những quyết định chính trị cho quốc dân.
- Thứ hai, có nhiều cách đo đếm khả năng sản xuất của một quốc gia qua khái niệm gọi là Tổng sản lượng gộp nội địa hay Tổng sản phẩm nội địa, gọi tắt là GDP. Cách đo lường phổ biến là tính theo kết cấu của các khu vực sản xuất, như công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ. Một phương pháp khác là tính theo mức chi tiêu. Theo phương pháp chi tiêu này, sản lượng mà một quốc gia sản xuất thêm trong một khoảng thời gian nhất định nào đó cũng bằng với tổng số chi tiêu các loại hàng hóa và dịch vụ cuối cùng.
- Theo công thức chuyên môn thì đấy là tổng số chi tiêu của tư nhân và chính phủ cộng với số đầu tư và cộng với sai số của cán cân thương mại, tức là xuất khẩu trừ đi nhập khẩu. Nói cho dễ hiểu dễ nhớ thì tổng sản lượng là tiêu thụ cộng đầu tư và cộng xuất khẩu. Ba thành tố chi tiêu, đầu tư và xuất cảng này là một cách nhìn khác về tổng sản lượng mà quốc gia sản xuất thêm. Cách nhìn này gián tiếp cho thấy khả năng hưởng dụng của người dân trong nền kinh tế hàng hóa và khả năng đó cũng là một quyết định chính trị của lãnh đạo.
Việt Long: Chúng tôi xin được tóm lược lại là sản lượng kinh tế một nước hay một địa phương trong một thời khoảng nào đó cũng bằng với tổng số chi tiêu cộng với đầu tư cộng với xuất khẩu và trừ đi nhập khẩu. Xin ông giải thích vì sao ông tin rằng con số ấy có bao hàm một yếu tố chính trị bên trong.
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi xin lấy một thí dụ có lẽ ai cũng nhớ là một năm Hoa Kỳ sản xuất ra chừng 14.200 tỷ đô la thì phần tiêu thụ của tư nhân chiếm tới 10.000 tỷ, tức là 70%. Đấy là một sắc thái văn hoá và chính trị của xứ này và cũng giải thích vì sao Mỹ nhập khẩu rất mạnh để phục vụ thị trường nội địa và trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất thế giới cho các nước khác.
- Tình hình đó không thể kéo dài và nước Mỹ đang phải điều chỉnh thói quen tiêu thụ và muốn đẩy mạnh xuất khẩu để quân bình lại cơ cấu kinh tế, là chuyện chúng ta đã đề cập trong kỳ trước.
- Ở bên kia Thái bình dương có các quốc gia Đông Á đã dốc sức sản xuất để xuất cảng và dùng xuất khẩu như một đầu máy cho tăng trưởng. Khi các thị trường nhập khẩu lớn của thế giới là các nước công nghiệp hoá, như Hoa Kỳ, Nhật Bản và Âu Châu, đều co cụm sau trận tổng suy trầm vừa rồi, xứ nào mà càng lệ thuộc vào xuất khẩu sẽ càng khốn đốn. Khi ấy, ta mới chú ý đến hai đầu máy tăng trưởng còn lại, là đầu tư và tiêu thụ.
- Xứ nào mà có cơ cấu sản xuất quân bình giữa ba thành tố là tiêu thụ, đầu tư và xuất khẩu thì càng dễ vượt qua sóng gió trong ổn định. Trung Quốc là nơi mà tiêu thụ lại chiếm tỷ lệ quá nhỏ và khi xuất khẩu sút giảm đến nỗi tuột xuống số âm thì chính quyền phải gia tăng đầu tư, có lúc lên tới 90% đà tăng trưởng của tổng sản lượng, và đấy là vấn đề cực kỳ nguy kịch mà họ khó kịp điều chỉnh. Từ chuyện đó, chúng ta mới chú ý đến yếu tố tiêu thụ và đây là trọng tâm của chương trình kỳ này của chúng ta.
Việt Long: Bây giờ, sau phần bối cảnh ấy, chúng ta mới đi vào nội dung của vấn đề, là vai trò của tiêu thụ.
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Trước khi có Trung Quốc ra khỏi thời hoang tưởng của Mao Trạch Đông thì các nước Đông Á đều thấy chung một số đặc tính. Đất chật, người đông, kinh tế lại nặng về canh nông hơn là công nghiệp. Vì vậy, họ chọn chiến lược xuất khẩu để tạo ra việc làm, để gia tăng thu nhập và kiến thức về tổ chức sản xuất.
- Họ vận dụng sức tiết kiệm rất cao của người dân để lấy vốn đầu tư vào hạ tầng cơ sở và vào bộ máy công nghiệp hoá. Chiến lược ấy nghĩa là người dân thắt lưng buộc bụng, được tiêu thụ rất ít và thực tế góp phần cho hiện tượng mà ta gọi là "Sự kỳ diệu Đông Á".
- Sau khi tiến vào giai đoạn cải cách thì Trung Quốc và Việt Nam cũng học theo chiến lược của Đông Á và cũng đạt mức tăng trưởng rất cao như các nước Đông Á kia, cụ thể nhất là như Đài Loan hay Đại Hàn. Nhưng, hậu quả của chiến lược đó cũng khiến tiêu thụ nội địa bị kềm hãm, người dân lao động cực nhọc với lương bổng thấp để có sức cạnh tranh về xuất cảng. Và giờ đây, khi thế giới đang đi vào chu kỳ tái quân bình toàn cầu thì các nước này mới thấy rằng thị trường nội địa quá nhỏ không thể tạo ra sức kéo và cứ lệ thuộc vào thị trường xuất khẩu thì sản lượng sẽ suy giảm và bất công xã hội càng dễ gây ra động loạn.
Thị trường nội địa
Việt Long: Nghĩa là ông đang trở về một khuyến cáo đã được nói tới nhiều lần trên diễn đàn này, là phải gia tăng sức mua của thị trường nội địa"


Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa đúng như vậy. Singapore là một đảo quốc có dân số chỉ năm triệu nên phải tự chuyển hóa thành một trung tâm chế biến và tài chính cho luồng giao dịch quốc tề và tổng sản lượng lệ thuộc tới 188% vào xuất khẩu. Một quốc gia có gần 90 triệu dân như Việt Nam thì có thị trường nội địa đủ lớn cho yêu cầu sản xuất, nếu xứ này biết xây dựng hạ tầng cơ sở cho sự chuyển vận nội địa và cho dân chúng có cơ hội tiêu thủ thành quả tăng trưởng một cách đồng đều và công bằng hơn. Điều ấy là một sự cần thiết về kinh tế lẫn xã hội và đạo lý. Tôi xin lấy thí dụ của hai quốc gia đi trước để làm gương, đầu tiên là Đài Loan, sau đó là Nam Hàn.
Việt Long: Trước khi nói về trường hợp Đài Loan thì nói về Việt Nam, bất kỳ chính quyền nào cũng phải có cách gia tăng thu nhập của người dân thì mới gia tăng được sức tiêu thụ, phải không"
Nguyễn Xuân Nghĩa: Đúng. Và quyềt định gia tăng sức tiêu thụ đó nắm trong tay Nhà nước và liên quan đến thí dụ như hối suất của đồng bạc hay là chế độ thuế khoá, chế độ lương bổng của dân. 
Việt Long: Mời ông bắt đầu sang trường hợp Đài Loan.
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Mặc dù luôn luôn bị Trung Quốc đe dọa thôn tính và trong khi Việt Nam bị tai họa chiến tranh rồi cách mạng, trong các năm 1960-1980, Đài Loan đã nghiến răng thắt lưng buộc bụng để xuất khẩu và hết lệ thuộc vào viện trợ Mỹ. Trong 25 năm liền, xứ này đầu tư và xuất khẩu rất mạnh và kềm hãm tiêu thụ. Nhưng vì là đảo quốc nhỏ chỉ có hai chục triệu dân, họ không đi vào công nghiệp nặng mà từ sau thập niên 1980 đã đầu tư vào khu vực chế biến cao cấp, với sức đầu tư dù sao không thể quá 30% tổng sản lượng.
- Phần còn lại là sức đóng góp của tiêu thụ tư nhân, từ dưới 50% Tổng sản lượng nay đã là 60%. Cơ cấu kinh tế Đài Loan trở thảnh quân bình hơn và đồng thời xã hội cũng dân chủ hơn vì tư nhân giữ vị trí quan trọng hơn trong sinh hoạt kinh tế. Chúng ta nên chú ý tới hai biến chuyển song hành, là tiến trình dân chủ hóa và khả năng tiêu thụ của tư nhân, đều khởi sự từ đầu thập niên 1980 của thế kỷ trước.
Việt Long: Ông vừa nêu ra một hiện tượng rất đáng chú ý. Trường hợp Nam Hàn cũng như vậy sao"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Nam Hàn cũng thường xuyên bị đe dọa chiến tranh từ phía Bắc Hàn Cộng sản, đất đai lại khô cằn và khó trồng trọt hơn Việt Nam gấp bội, cho nên sau Đài Loan chừng một chục năm họ cũng học theo chiến lược Đông Á. Khi chiến tranh Việt Nam lên tới cao độ vào đầu thập niên 1970, Nam Hàn vọt tiến lên nhờ xuất khẩu và đầu tư rất mạnh nhờ tiết kiệm rất cao. Nghĩa là cũng thắt lưng buộc bụng để tìm lực đẩy.
- Hai chục năm sau, họ trở thành một xứ "tân hưng", có nền công nghiệp tiên tiến nhờ các tập đoàn "chaebol" và sự yểm trợ của chính quyền. Trong giai đoạn ấy, tiêu thụ bị kềm hãm và chỉ đóng góp dưới 50% vào tổng sản lượng.
- Nhưng lãnh đạo của họ sáng suốt nhìn ra yêu cầu quân bình trong xã hội nên điều chỉnh tỷ giá đồng bạc cho cao hơn để nâng sức mua của người dân và đồng thời cải tổ cơ chế chính trị cho dân chủ hơn. Thời điểm bản lề của họ là Thế vận hội Hán Thành năm 1988 là khi Nam Hàn trở thành một nước dân chủ tiên tiến, và tỷ lệ tiêu thụ bắt đầu vượt qua ngưỡng 50% tổng sản lượng.
- Nhờ vậy mà khi khủng hoảng kinh tế bùng nổ năm 1997-1998, dù xuất khẩu có sa sút xứ này vẫn vượt qua khó khăn với chính sách kích thích tiêu thụ nội địa. Ngày nay, Nam Hàn có mức tiêu thụ bằng 55% tổng sản lượng, xuất khẩu bằng 53% và đầu tư bằng 30%.
Việt Long: Như vậy, chúng ta có thấy ra một điều có thể gọi là quy luật, khi mức tiêu thụ nội địa gia tăng thì cũng là lúc mà người dân, tức là nhà tiêu thụ, có thêm nhiều quyền hạn, trước tiên là quyền hạn kinh tế, sau đó cũng là quyền hạn chính trị. Có phải như vậy không"
Nguyễn Xuân Nghĩa: Quyền hạn kinh tế là quyền được tự do chọn lựa khi mua bán với giá cả quy định tự do và minh bạch. Khi tiến vào lao động sản xuất mà công lao không được đền bù xứng đáng - thí dụ như vì đồng lương bị bóp nghẹt, hối suất hay tỷ giá bị quy định quá thấp, hay giá cả bị kiểm soát - thì người dân không có tự do và thực tế là bị bóc lột. Trong hoàn cảnh đó, nếu thiểu số có chức có quyền mà thao túng thị trường để trục lợi thì họ dễ thành tỷ phú hưởng thụ trên đầu trên cổ đa số người dân ở dưới. Đó là tình trạng của Trung Quốc và Việt Nam ngày nay, một tình trạng bất công vì tự do có hạn chế.
- Ngược lại, khi dân được hưởng thành quả lao động và có quyền tiêu thụ, thị trường nội địa sẽ giữ vai trò quân bình lại sự thăng giáng của thị trường quốc tế như ta đã thấy trong hai năm qua. Nhưng song song, quyền tiêu thụ gia tăng cũng cho người dân có tiếng nói trong các quyết định kinh tế và đấy là một điều kiện cụ thể cho phép xứ sở dân chủ hoá trong sự ổn định. Bài toán về cải cách rất khắt khe ngày nay của Trung Quốc, với sức tiêu thụ bị kềm hãm trong khi xuất khẩu sa sút, là một bài học mà Việt Nam nên thấy trước và kịp thời cải cách cho đông đảo người dân được hưởng thành quả của tăng trưởng mà chính họ, chứ không phải nhà nước, mới là động lực.
Việt Long: Ông có vẻ hơi lạc quan khi nói đến những điều Nhà nước cần làm để gia tăng quyền lực kinh tế cho người dân. Nhưng trong những quốc gia mà chính quyền không muốn cho người dân có thêm quyền hạn kinh tế để tăng quyền hạn chính trị, thì làm sao họ có thể thực hiện những điều đó"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Trong trường hợp đó thì quốc gia đó sẽ bị khủng hoảng. Kinh tế sẽ bị khủng hoảng, và nếu nền kinh tế lại nằm dưới một chế độ chính trị hà khắc, thì khủng hoảng kinh tế sẽ dẫn đến khủng hoảng chính trị. Đó là điều chúng ta không muốn Việt Nam sẽ gặp trong nay mai.

Trong một cuộc hỏi đáp về thỏa thuận Iran, Tổng thống Donald Trump được hỏi một câu rất căn bản: ông có đưa văn kiện này ra Quốc hội hay không? Câu trả lời: “Chưa từng nghĩ tới. Nhưng sẽ làm.” Chính vế đầu mới đáng nói.Trong một nền dân chủ hiến định, Quốc hội không phải là điều “nghĩ tới sau”. Nhất là với những quyết định liên quan đến chiến tranh, hòa bình và đối ngoại — những lĩnh vực mà Hiến pháp không trao trọn cho một cá nhân.
Phó Tổng thống Hoa Kỳ JD Vance hôm nay Chủ nhật đến Thụy Sĩ để mở màn vòng thương thuyết với các giới chức cao cấp của Iran, với kỳ vọng nối dài một thỏa ước đình chiến hãy còn mong manh, nhằm chặn lại cuộc chiến đang làm đảo lộn trật tự Trung Đông. Cuộc họp bốn bên giữa Hoa Kỳ, Iran, Pakistan và Qatar tại Geneva được xem như cơ hội hiếm hoi để cứu vãn hòa bình trên giấy, trong khi ngoài chiến trường, tiếng súng và những toan tính quyền lực vẫn chưa chịu lắng. Trong khi giới thương thuyết ngồi lại ở Geneva, những con số dưới đây cho thấy cái giá thực sự của cuộc chiến đối với các bên tham chiến, với cả vùng, và với phần còn lại của thế giới.
Năm 1948, trên đảo Jura, Scotland, George Orwell viết lời sau đây trong kiệt tác 1984: “Cho dù anh có viết ‘ĐẢ ĐẢO ANH CẢ’ hay không viết, cũng chẳng thay đổi được gì. Cho dù anh có tiếp tục ghi chép, hay bỏ dở cuốn nhật ký, cũng chẳng thay đổi được gì. Cảnh sát Tư Tưởng sớm muộn gì cũng sẽ tóm anh…”
Từ lâu, giới lãnh đạo Nga vẫn tự hào rằng nước này tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong đời sống chính trị quốc tế. Niềm tin đó dựa trên những lý do như vị thế thành viên thường trực tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, tư cách cường quốc hạt nhân và ảnh hưởng đáng kể đối với các nước thuộc Xô Viết cũ. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, thực tế chuyển biến đã làm lung lay các kỳ vọng đó...
Nếu đến hôm nay người ta vẫn phải thí điểm những “phường xã hội chủ nghĩa”, thì điều đó chính là bằng chứng rõ ràng nhất rằng công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam chưa từng đạt được mục tiêu đã đề ra. Lịch sử có thể khoan dung với những sai lầm. Nhưng lịch sử sẽ không tha thứ cho việc kéo dài một sai lầm suốt nhiều thế hệ mà vẫn từ chối thừa nhận nó.
Hệ thống luật quốc tế đang đối diện với những thách thức chưa từng có trong lịch sử cận đại. Luật quốc tế vốn đặt ra các nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực giữa các quốc gia, cấm tiến hành chiến tranh xâm lược và thiết lập hệ thống an ninh tập thể như một phần nối tiếp của các biện pháp chính trị.
Nếu ai chưa hiểu Tổng thống Donald Trump với những hành động và lời nói “khác lạ” thường xuyên vượt qua lòng tự trọng và khả năng tri thức dành cho cương vị một nguyên thủ quốc gia, nhất là một quốc gia lãnh tụ trong thế giới tự do dân chủ, thì câu hỏi là: thực sự ông muốn gì? Ông muốn trở thành đệ nhất nhân trong cả ba khát vọng: ông không chỉ muốn trở thành người giàu nhất, mà còn muốn là vị tổng thống quyền uy bậc nhất, người dám làm những điều mà các tổng thống tiền nhiệm né tránh, và là cái tên được lịch sử ghi ở hàng đầu. Ái tình và của cải chỉ là hai trong ba mục tiêu; mục tiêu còn lại là quyền lực tạo danh vọng, và cả ba đều phải đứng đầu.
Trong thế giới báo chí truyền hình, 60 Minutes là một trong số ít chương trình mang nặng lịch sử. Suốt hàng thập niên, 60 Minutes là tiêu chuẩn vàng của báo chí điều tra, nơi kim phút của trách nhiệm luôn tích… tích… không ngừng để hướng về sự thật. Suốt 58 năm qua, tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ tròn là biểu tượng dễ nhận ra nhất của một nền báo chí Hoa Kỳ. Chiếc đồng hồ bấm giờ mở đầu mỗi tập 60 Minutes – tích, tắc, tích – chưa bao giờ chỉ là hình ảnh minh họa. Theo thời gian, nó là một lời giao ước. Nó nói với khán giả rằng trong một giờ đồng hồ của tối Chủ Nhật, người Mỹ được biết sự thật. Quyền lực phải trả lời câu hỏi và chiếc đồng hồ do những người làm báo giữ nhịp sẽ không vì quyền lợi của bất kỳ ai mà dừng lại.
Cuối tuần qua, trong khi tôi đang nghe ca sĩ Thương Linh hát ở Coffee Factory, một độc giả đến hỏi: “Này, chị viết để làm gì? Bây giờ còn ai đọc những bài bình luận nhức đầu nữa không?” Tôi đã suy nghĩ về câu hỏi ấy. Không phải để thôi viết. Cũng không phải để tránh né suy luận. Nhưng đôi khi, trước một số sự kiện, chỉ cần ghi lại sự việc. Ngày nào. Ở đâu. Chuyện gì. Ai nói. Nói nguyên văn thế nào. Có lẽ anh ta có lý, có những lúc người viết nên “bớt viết”.Trong nhiều năm qua, tổng thống Donald Trump nhiều lần dùng lời lẽ miệt thị các nữ phóng viên ngay trước ống kính. Nhiệm kỳ đầu đã vậy. Sang nhiệm kỳ hai, những cảnh ấy không chỉ trở lại mà còn thô hơn, lỗ mãng hơn, và gần như thành thói quen không thể thiếu trong các buổi họp báo, phỏng vấn, hay bất cứ khi nào có máy quay phim và có phụ nữ cầm micro hay cầm bút làm việc.
Có một cách đọc về nhiệm kỳ thứ hai của Donald Trump càng lúc càng khó bác bỏ: ông biến chính chức vụ tổng thống thành phương tiện làm giàu lớn nhất đời mình, mà không phải âm mưu vụng về với tài liệu mật, chỉ bằng chính lời nói của tổng thống. Một câu dọa chiến tranh, một lời hăm dọa thuế quan, một tuyên bố ngừng bắn hay một dòng đăng mạng xã hội đều có thể làm thị trường Hoa Kỳ và thế giới chao đảo gần như tức thì. Với nhóm nhỏ biết trước thời điểm và nội dung lời nói, những con sóng ấy lại có thể tiên đoán, mà tiên đoán được thì kiếm lời hợp pháp, miễn không để lại dấu vết nối thẳng về ông. Đây không phải lời buộc tội đã được chứng minh trước tòa: chưa có bản án, cũng chưa có bằng chứng công khai về một đường dây giao dịch phối hợp. Nhưng một luận đề chỉ cần một cấu trúc động cơ rõ ràng, một chuỗi sự kiện trùng khớp, và một môi trường pháp lý cho phép hành vi ấy diễn ra mà gần như không sợ bị trừng phạt. Cả ba đều đang hiện diện.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.