Hôm nay,  

Kinh Tế Thế Giới 2010

30/12/200900:00:00(Xem: 9773)

Kinh Tế Thế Giới 2010

Mai Vân RFI và Nguyễn Xuân Nghĩa

Bong bóng đầu cơ và thất nghiệp : mối đe doạ cho các nền kinh tế trên đà ra khỏi suy thoái năm 2010...

Sau một năm đen tối, các nhà kinh tế trước ngưỡng 2010 đều lạc quan khẳng định tình hình dứt khoát sẽ tươi sáng hơn. Cơ sở cho những đánh giá lạc quan này là gần như hầu hết các quốc gia rơi vào suy thoái, đều đang nối lại với tăng trưởng, ngoại trừ một số nước như Bồ Đào Nha, Island, Ireland. Dự báo cho năm 2010 đang đến, tăng trưởng Hoa Kỳ sẽ hơn 2%, khu vực Châu Âu yếu nhất nhưng cũng được gần 1%, khoẻ mạnh nhất là Châu Á, với Trung Quốc dự báo tăng 9%, Ấn Độ 7%, Việt Nam 5%, và Châu Mỹ La tinh dẫn đầu là Brazil với tăng trưởng dự báo 4%.
Thành quả đạt đươc, theo giới chuyên gia, chủ yếu là nhờ các kế hoạch kích thích kinh tế mà các nước từ Châu Ấu, Châu Mỹ, Châu Á đã đồng loạt đưa ra. Tuy nhiên các nhà phân tích còn rất thận trọng : kinh tế toàn cầu dù triệt thoái khỏi suy thoái nhưng chưa hẳn lành bệnh, và có thể rơi trở lại vào khủng hoảng.
Mối đe doạ lớn là bong bóng đầu cơ. Thất nghiệp rất cao cũng sẽ đè nặng lên đà vực dậy kinh tế. Theo số liệu của tạp kinh tế Pháp L'Expansion, số công việc làm mà khủng hoảng vừa qua đã hủy diệt lên đến 6 triệu ở Mỹ, riêng Pháp cũng đã có đến 500.000, và sẽ có thêm 200.000 người khác mất việc làm vào năm tới đây. Để hiểu thêm tình hình sắp đến, vững vàng đến đâu, thách đố như thế nào, RFI đã đặt một số câu hỏi với chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa tại California, điểm qua những dự báo về viễn ảnh kinh tế 2010.
RFI: Xin kính chào anh Nguyễn Xuân Nghĩa. Nhìn chung vào tình hình kinh tế cuối năm 2009, giới nghiên cứu kinh tế thế giới đều dự đoán rằng năm tới có vẻ khả quan hơn dù còn nhiều triệu chứng bấp bênh. So với các chu kỳ suy thoái trước thì lần này tình hình có vẻ nhẹ hơn cho nên người ta đã hy vọng là năm tới sẽ tốt hơn" Và thưa anh có phải đó là nhờ các kế hoạch kích thích kinh tế không"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Vụ Tổng khủng hoảng thời 1929-1933 có góp phần đưa tới Thế chiến II. Từ sau Thế chiến II, kinh tế thế giới cũng có lúc thịnh lúc suy nhưng lần này mới thật là một vụ suy thoái toàn cầu vì các nền kinh tế đều hội nhập buôn bán với nhau một cách quy mô và sâu xa chưa từng thấy. Tuy nhiên, cũng vì có hội nhập và đều e sợ một vụ tổng khủng hoảng nên từng nước đều lập tức có biện pháp ứng phó và còn cố gắng phối hợp với nhau để cùng ứng phó. Nhờ vậy mà các nước đã đẩy lui nguy cơ khủng hoảng và lần lượt đụng đáy rồi hồi phục.
- Trả lời câu hỏi thứ hai thì trong lịch sử kinh tế thế giới chưa khi nào các quốc gia đã đồng loạt phản ứng như vậy, với một lượng tiền được bơm vào kinh tế lên đến con số kỷ lục. Nói cho dễ hiểu thì khối tiền lệ lưu hành trong kinh tế gần như tăng gấp đôi. Còn về cụ thể thì tùy tình hình quân bình vĩ mô, có nước thiên về giải pháp tiền tệ là cắt lãi suất tới tận sàn, hạ mức dự trữ pháp định để khuyến khích ngân hàng cho vay dễ dàng hơn, thậm chí in tiền bơm vào kinh tế, gọi là "tăng mức lưu hoạt có định lượng" là chuyện xưa nay mới chỉ thấy áp dụng tại Nhật năm 2001. Có quốc gia khác thì thiên về giải pháp ngân sách như gia tăng công chi và/hoặc giảm thuế, nếu chưa bị bội chi ngân sách quá nặng. Nhiều nước thì áp dụng cả hai ba loại biện pháp áy. Riêng trong quan hệ giữa các nước với nhau thì xứ này còn muốn xứ khác tăng chi để kích hoạt kinh tế hầu cho mình đỡ phải gánh việc đó, là chuyện xảy ra khi Chính quyền Barack Obama muốn các nước Âu Châu phải tăng chi nhiều hơn và thực tế là bị Âu Châu cự tuyệt.
RFI : Dạ thưa anh, trong việc ra khỏi suy thoái, nếu mà nhìn từng khu vực thế giới, các nhà kinh tế dự báo như thế nào cho năm tới "
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Nói chung, người ta dự báo là kinh tế thế giới sẽ tăng trưởng bình quân là 4% trong năm tới. Nếu ta nhớ đến mức tiêu chuẩn là "dưới 3% có nghĩa là thế giới suy trầm" thì còn số 4% này là điều đáng mừng, nhưng vẫn còn thấp hơn trung bình của năm năm trước khi bị suy trầm, là 5%. Nôm na là đã hết bệnh nhưng chưa bình phục như trước.
- Thứ hai, tỷ lệ 4% là kết quả tổng hợp của hai khối kinh tế. Mười nước đã công nghiệp hoá thì chỉ đạt tốc độ bình quân có 2%, trong khi các nước đang phát triển có hy vọng đạt được 6,5%. Điều ấy có nghĩa là các nền kinh tế công nghiệp hoá sẽ là đầu máy rất yếu cho thế giới và nước nào mà trông cậy vào việc xuất khẩu cho các nền kinh tế đó để ra khỏi suy trầm thì sẽ thất vọng.
- Trong 10 nước công nghiệp hoá, Hoa Kỳ sẽ hồi phục nhanh nhất nhưng không mạnh vì chưa đạt mức 3% mà chỉ chừng 2,8% là nhiều. Âu Châu đi sau với tỷ lệ èo uột từ 1,2% đến 1,4% thôi và thất nghiệp sẽ còn tăng trong khi thất nghiệp tại Mỹ có hy vọng giảm dần, dù là rất chậm. Riêng Nhật Bản thì còn bị suy trầm và sẽ là quốc gia có vấn đề, với một đà tăng trưởng có 0,7%. Đó là lý do vì sao Nhật còn phải nghĩ đến nhiều biện pháp kích thích kinh tế trong khi các nước khác bắt đầu triệt thoái khỏi tình trạng gọi là bất thường hiện nay bằng cách hút bớt tiền ra khỏi kinh tế để không gây ra nguy cơ bong bóng đầu tư hay lạm phát, hoặc cả hai.
RFI: Thưa anh nếu như vậy thì có lẽ hy vọng của thế giới nằm tại các nước đang phát triển, nhất là tại Châu Á "
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa chỉ một phần nào thôi. Chúng ta nên nhớ là trong tốc độ bình quân toàn cầu là 4% thì tốc độ của các nước giàu chỉ có chừng 2%, các nước đang phát triển thì 6,5%. Trong khối này, có Trung Quốc và Ấn Độ dẫn đầu với 10% và 8%, có Liên bang Nga sẽ đạt hơn 5% nhưng có thể lại tuột đáy - tức là bị suy trầm nữa, thậm chí suy thoái và khủng hoảng chính trị - và có Brazil với chừng 4,8%. Vấn đề là các nước đang phát triển này phải có khả năng cải cách từ căn bản đề mở rộng sức tiêu thụ nội địa thay vì lệ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu sang các nước công nghiệp hoá. Việc cải cách thật ra đòi hỏi một nỗ lực thay đổi tư duy và cơ chế.


- Trong khi ấy, các nước này cũng gặp bài toán cực kỳ tế nhị là triệt thoái khỏi suy thoái, nghĩa là hút bớt tiền đã bơm ra, và làm cho khéo để khỏi rơi lại vào suy trầm, nếu không triệt thoái thì tiền sẽ lại bơm vào bong bóng, như người ta đang thấy tại Trung Quốc và Việt Nam.
RFI: Riêng về hai nước này, nhũng thách thức gì là quan trọng nhất trong năm tới"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Vì cả hai đều tận dụng giải pháp tín dụng là bơm tiền qua ngân hàng vào kinh tế trong một cơ chế vẫn chưa tự do thông thoáng nên sẽ gặp hai nguy cơ là bong bóng đầu cơ và ngân hàng suy sụp dưới núi nợ xấu. Cả hai lại duy trì chính sách ngoại hối có kiểm soát là buộc giá đồng bạc vào tiền Mỹ theo tỷ giá cố định và bất thường, nên những khó khăn ấy dẫn tới vấn đề ngoại hối. Đó là mâu thuẫn về trị giá đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc với các nước khác và gây tranh chấp về mậu dịch khi kinh tế của các nước công nghiệp hoá vẫn còn yếu.
- Tại Việt Nam, chế độ hối đoái ấy - lẫn hậu quả của suy trầm toàn cầu nên đầu tư và tiền trợ giúp từ nước ngoài gửi về đều giảm - rất dễ gây ra khủng hoảng ngoại hối và cả nạn lạm phát.
RFI : Thưa anh, nhìn chung thì ảnh hưởng kinh tế Hoa Kỳ đối với thế giới sẽ ra sao, có còn là đầu máy kinh tế cho Châu Á như trước đây hay không "
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Hoa Kỳ đang ra khỏi suy trầm nhưng tình hình còn bấp bênh và niềm tin của thị trường chưa phục hồi nên ngân hàng trung ương sẽ rất thận trọng khi điều chỉnh lãi suất kể từ giữa năm tới trở đi để ra khỏi tình trạng lãi suất âm như hiện tại. Trong hoàn cảnh đó, kinh tế xứ này khó làm đầu máy tăng trưởng cho các nước như trước đây. Huống hồ các kế hoạch tăng chi để cải tạo xã hội sẽ khiến xứ này mắc nợ tới mức kỷ lục và dân Mỹ sẽ chi tiêu dè xẻn hơn vì sự bất trắc đó. Vì vậy, thị trường nhập khẩu để tiêu thụ sẽ còn yếu và mâu thuẫn về mậu dịch càng dễ xảy ra với Chính quyền đang bị sức ép rất mạnh của xu hướng bảo hộ mậu dịch.
- Ngoài ra, ta không quên một vấn đề là giá xăng dầu tăng vọt trong năm 2008 có góp phần gây ra suy trầm. Nếu bất ổn bùng nổ tại Iran vì khủng hoảng bên trong và vì hồ sơ võ khí hạch tâm với bên ngoài mà dẫn tới cấm vận hay giao tranh tại eo biển Hormuz thì nạn dầu thô lên giá sẽ lại đẩy kinh tế toàn cầu vào cơn biến động khác trong năm tới. Vì vậy, ta chưa nên nổ xâm banh ăn mừng vội!
RFI: Nếu phải tóm lại tình hình kinh tế thế giới năm tới thì anh sẽ thu gọn trong một câu như thế nào "
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ là phải triệt thoái ra khỏi nạn suy thoái nhưng mà triệt thoái cho khéo, phải cân nhắc cho kỹ, và cái yếu tố quan trọng nhất là niềm tin của thị trường. nếu thị trường có tin tưởng, thì tín dụng có thể hoạt động mạnh một cách tự phát, lúc đó chính quyền có thể rút bớt tiền trở về được. Nếu mà không có thì chúng ta vẫn còn gặp rất nhiều bấc trắc.
RFI: Thưa anh, các chính phủ phải làm thế nào để tạo lại niềm tin cho các thị trường hầu ra khỏi suy thoái một cách vững vàng"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ đầu tiên hết là trong cái hệ thống ngân hàng. Tại vì từ khủng hoảng tài chính nó mới lây lan sang kinh tế. Nếu các hệ thống ngân hàng được chấn chỉnh lại, có thể hoạt động lại bình thường, và với một hệ thống kiểm soát tinh vi hơn nhưng đồng thời không bóp nghẹt sáng kiến của họ, thì có thể giúp giải tỏa tình trạng ách tắc tín dụng hiện tại.
- Nếu ách tắc tín dụng hiện tại vẫn còn kéo dài, thì các hệ thống ngân hàng trung ương của cả bên Âu Châu lẫn bên Hoa Kỳ, và các nước khác nữa vẫn chưa dám hút bớt tiền ra, và khi đó chúng ta vẫn lại thấy ra tình trạng rất bấp bênh: tiền ở nơi cần thì không có và những nơi không cần thì vẫn được bơm vào, lại có thể dẫn lên những nguyên nhân đưa đến khủng hoảng khác trong tương lai, tức là lại tạo nên những bong bóng và khi bóng bể thì chúng ta lại có nạn suy trầm.
RFI: Về chính sách kinh tế, hiện nay nhiều người đề xuất là từ Châu Âu, Châu Á, Châu Mỹ, tất cả đều phải tập trung vào thị trường nội điạ. Anh nghĩ thế nào về đề xuất này "
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Cái điều đó đúng, và có thế người ta mới tái lập lại quân bình gọi là toàn cầu. Tức là xưa nay các nước đang phát triển đều thắt lưng buộc bụng để bán hàng vào các nước đã phát triển. Và các nước đã phát triển thì mua hàng hóa của các nước kia với giá rẻ, và làm cho cà hai khối đều lệ thuộc với nhau và bây giờ thì cái khả năng mua hàng các nước công nghiệp hoá đã giảm, thành ra nếu mà họ không có tạo điều kiện cho cái thị trường nội địa là cái đầu máy chính thì sẽ gặp khó khăn.
- Ngược lại các nước đang phát triển, nhất là tại các nước Á Châu tập trung vào chiến lược lấy xuất khẩu làm đầu máy, thì cái xuất khẩu vào ba nền kinh tế lớn, Hoa Kỳ, Châu Âu và Nhật Bản, đều èo uột như chúng ta vừa thấy, thì các nước đang phát triển sẽ thấy là phải có nhu cầu giải phóng cơ chế sản xuất và phân phối trong nước để cho thị trường nội điạ là đầu máy chính thay vì chỉ có trong cậy vào thị trường xuất khẩu thôi. Mà cái tình trạng gọi là tái lập quân bình này đòi hỏi nhiều biện pháp cải cách mà có thể rằng là một hai năm mới có thể thấy kết quả.
- Do đó tình hình trong năm tới không còn u ám như năm 2009, nhưng mà nó vẫn chưa sáng sủa, cho đến khi các nước rút tỉa được các bài học của cái trận gọi là tổng suy thoái vừa rồi.
RFI: Xin cám ơn kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa tại California.

Tôi có đứa em gái… không cùng cha mẹ, nhưng đủ thân để nhiều chuyện trong đời tôi nó biết trước người khác. Nó gọi tôi bằng chị, thỉnh thoảng ghé ăn cơm, vui vẻ và thân thiết. Cho tới một ngày, bạn tôi chuyển cho tôi một email chung, trong đó “em gái” gửi đi tố cáo tôi làm báo mà thiên lệch. Tờ báo cũng bị em buộc tội thiếu trung lập, không đáng tin cậy.Lời em tố đúng sai hoãn bàn, chỉ biết là sau đó, chúng tôi bị một số thân chủ, thân hữu tẩy chay. Nếu chuyện này xảy ra hồi tôi mới lò dò vào nghề, chắc tôi sẽ cuống lên: “Chết rồi, mình đã lỡ không trung lập ở chỗ nào? Làm báo mà bị chê là ‘take side’ kỳ quá.” Có thể tôi đã phải viết một bài thanh minh về sự khách quan để chứng minh mình hết mực công bằng với trai gái, chó mèo, đen trắng, các bên đồng đều.
Việc bà Lori Chavez-DeRemer tuyên bố từ chức Bộ trưởng Lao động trong nội các ông Donald Trump nhiệm kỳ hai đánh dấu nhân vật thứ ba rời ghế, và điểm chung đáng chú ý: cả ba đều là phụ nữ. Tên tuổi bà Chavez-DeRemer, thú thật, không mấy ai trong giới theo dõi chính trị Hoa Kỳ buộc phải thuộc nằm lòng, bởi suốt thời gian ngồi ghế bộ trưởng, bà ít được nhắc đến về công việc chuyên môn hơn là về những tiện nghi, đặc quyền mà chức vụ mang lại. Về khoản đó, người ta thấy bà không khác mấy với bà Kristi Noem trước đây – cùng một lớp người bước vào chính quyền với một kho tham vọng lẫn sở thích “hưởng lộc công”. Tòa Bạch Ốc thông báo vắn tắt: bà rời chính phủ để “nhận một chức vụ trong khu vực tư nhân” – thứ câu chữ đã trở thành lối nói quanh quen thuộc, từng được dùng cho cả bà Noem lẫn bà Pam Bondi khi hai người này bị gạt sang bên lề. Luật sư của bà cũng không quên lời tuyên bố “theo sách vở”: việc ra đi không dính dáng gì đến “vi phạm pháp luật”, chỉ là “quyết định cá nhân
Có vẻ như ngày Thứ Hai của tuần mới không phải là một “Good Day” cho Tổng thống Trump. Cuộc đàm phán vòng hai với Iran chưa biết sẽ ra sao. Iran vẫn “cứng cựa” không chịu cho Trump cái mà ông ta muốn: chiến thắng. Do đó, ông lại phải mượn Truth Social để tấn công vào những nơi mà ông ta cho là an toàn nhất và “đã” nhất. Bởi vì ít nhất họ cũng chấp nhận im lặng như đã từng trong suốt thời gian qua. Trong hai bài đăng trên mạng xã hội, Trump đã gay gắt chỉ trích các thành viên Đảng Dân Chủ, gọi họ là “TẤT CẢ ĐỀU LÀ KẺ PHẢN BỘI” cũng như giới truyền thông vì những lời phê bình và sự hoài nghi của họ đối với cách ông ta xử lý cuộc chiến tại Iran.
Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.