Hôm nay,  

Kinh Tế Thế Giới 2010

30/12/200900:00:00(Xem: 9774)

Kinh Tế Thế Giới 2010

Mai Vân RFI và Nguyễn Xuân Nghĩa

Bong bóng đầu cơ và thất nghiệp : mối đe doạ cho các nền kinh tế trên đà ra khỏi suy thoái năm 2010...

Sau một năm đen tối, các nhà kinh tế trước ngưỡng 2010 đều lạc quan khẳng định tình hình dứt khoát sẽ tươi sáng hơn. Cơ sở cho những đánh giá lạc quan này là gần như hầu hết các quốc gia rơi vào suy thoái, đều đang nối lại với tăng trưởng, ngoại trừ một số nước như Bồ Đào Nha, Island, Ireland. Dự báo cho năm 2010 đang đến, tăng trưởng Hoa Kỳ sẽ hơn 2%, khu vực Châu Âu yếu nhất nhưng cũng được gần 1%, khoẻ mạnh nhất là Châu Á, với Trung Quốc dự báo tăng 9%, Ấn Độ 7%, Việt Nam 5%, và Châu Mỹ La tinh dẫn đầu là Brazil với tăng trưởng dự báo 4%.
Thành quả đạt đươc, theo giới chuyên gia, chủ yếu là nhờ các kế hoạch kích thích kinh tế mà các nước từ Châu Ấu, Châu Mỹ, Châu Á đã đồng loạt đưa ra. Tuy nhiên các nhà phân tích còn rất thận trọng : kinh tế toàn cầu dù triệt thoái khỏi suy thoái nhưng chưa hẳn lành bệnh, và có thể rơi trở lại vào khủng hoảng.
Mối đe doạ lớn là bong bóng đầu cơ. Thất nghiệp rất cao cũng sẽ đè nặng lên đà vực dậy kinh tế. Theo số liệu của tạp kinh tế Pháp L'Expansion, số công việc làm mà khủng hoảng vừa qua đã hủy diệt lên đến 6 triệu ở Mỹ, riêng Pháp cũng đã có đến 500.000, và sẽ có thêm 200.000 người khác mất việc làm vào năm tới đây. Để hiểu thêm tình hình sắp đến, vững vàng đến đâu, thách đố như thế nào, RFI đã đặt một số câu hỏi với chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa tại California, điểm qua những dự báo về viễn ảnh kinh tế 2010.
RFI: Xin kính chào anh Nguyễn Xuân Nghĩa. Nhìn chung vào tình hình kinh tế cuối năm 2009, giới nghiên cứu kinh tế thế giới đều dự đoán rằng năm tới có vẻ khả quan hơn dù còn nhiều triệu chứng bấp bênh. So với các chu kỳ suy thoái trước thì lần này tình hình có vẻ nhẹ hơn cho nên người ta đã hy vọng là năm tới sẽ tốt hơn" Và thưa anh có phải đó là nhờ các kế hoạch kích thích kinh tế không"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Vụ Tổng khủng hoảng thời 1929-1933 có góp phần đưa tới Thế chiến II. Từ sau Thế chiến II, kinh tế thế giới cũng có lúc thịnh lúc suy nhưng lần này mới thật là một vụ suy thoái toàn cầu vì các nền kinh tế đều hội nhập buôn bán với nhau một cách quy mô và sâu xa chưa từng thấy. Tuy nhiên, cũng vì có hội nhập và đều e sợ một vụ tổng khủng hoảng nên từng nước đều lập tức có biện pháp ứng phó và còn cố gắng phối hợp với nhau để cùng ứng phó. Nhờ vậy mà các nước đã đẩy lui nguy cơ khủng hoảng và lần lượt đụng đáy rồi hồi phục.
- Trả lời câu hỏi thứ hai thì trong lịch sử kinh tế thế giới chưa khi nào các quốc gia đã đồng loạt phản ứng như vậy, với một lượng tiền được bơm vào kinh tế lên đến con số kỷ lục. Nói cho dễ hiểu thì khối tiền lệ lưu hành trong kinh tế gần như tăng gấp đôi. Còn về cụ thể thì tùy tình hình quân bình vĩ mô, có nước thiên về giải pháp tiền tệ là cắt lãi suất tới tận sàn, hạ mức dự trữ pháp định để khuyến khích ngân hàng cho vay dễ dàng hơn, thậm chí in tiền bơm vào kinh tế, gọi là "tăng mức lưu hoạt có định lượng" là chuyện xưa nay mới chỉ thấy áp dụng tại Nhật năm 2001. Có quốc gia khác thì thiên về giải pháp ngân sách như gia tăng công chi và/hoặc giảm thuế, nếu chưa bị bội chi ngân sách quá nặng. Nhiều nước thì áp dụng cả hai ba loại biện pháp áy. Riêng trong quan hệ giữa các nước với nhau thì xứ này còn muốn xứ khác tăng chi để kích hoạt kinh tế hầu cho mình đỡ phải gánh việc đó, là chuyện xảy ra khi Chính quyền Barack Obama muốn các nước Âu Châu phải tăng chi nhiều hơn và thực tế là bị Âu Châu cự tuyệt.
RFI : Dạ thưa anh, trong việc ra khỏi suy thoái, nếu mà nhìn từng khu vực thế giới, các nhà kinh tế dự báo như thế nào cho năm tới "
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Nói chung, người ta dự báo là kinh tế thế giới sẽ tăng trưởng bình quân là 4% trong năm tới. Nếu ta nhớ đến mức tiêu chuẩn là "dưới 3% có nghĩa là thế giới suy trầm" thì còn số 4% này là điều đáng mừng, nhưng vẫn còn thấp hơn trung bình của năm năm trước khi bị suy trầm, là 5%. Nôm na là đã hết bệnh nhưng chưa bình phục như trước.
- Thứ hai, tỷ lệ 4% là kết quả tổng hợp của hai khối kinh tế. Mười nước đã công nghiệp hoá thì chỉ đạt tốc độ bình quân có 2%, trong khi các nước đang phát triển có hy vọng đạt được 6,5%. Điều ấy có nghĩa là các nền kinh tế công nghiệp hoá sẽ là đầu máy rất yếu cho thế giới và nước nào mà trông cậy vào việc xuất khẩu cho các nền kinh tế đó để ra khỏi suy trầm thì sẽ thất vọng.
- Trong 10 nước công nghiệp hoá, Hoa Kỳ sẽ hồi phục nhanh nhất nhưng không mạnh vì chưa đạt mức 3% mà chỉ chừng 2,8% là nhiều. Âu Châu đi sau với tỷ lệ èo uột từ 1,2% đến 1,4% thôi và thất nghiệp sẽ còn tăng trong khi thất nghiệp tại Mỹ có hy vọng giảm dần, dù là rất chậm. Riêng Nhật Bản thì còn bị suy trầm và sẽ là quốc gia có vấn đề, với một đà tăng trưởng có 0,7%. Đó là lý do vì sao Nhật còn phải nghĩ đến nhiều biện pháp kích thích kinh tế trong khi các nước khác bắt đầu triệt thoái khỏi tình trạng gọi là bất thường hiện nay bằng cách hút bớt tiền ra khỏi kinh tế để không gây ra nguy cơ bong bóng đầu tư hay lạm phát, hoặc cả hai.
RFI: Thưa anh nếu như vậy thì có lẽ hy vọng của thế giới nằm tại các nước đang phát triển, nhất là tại Châu Á "
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa chỉ một phần nào thôi. Chúng ta nên nhớ là trong tốc độ bình quân toàn cầu là 4% thì tốc độ của các nước giàu chỉ có chừng 2%, các nước đang phát triển thì 6,5%. Trong khối này, có Trung Quốc và Ấn Độ dẫn đầu với 10% và 8%, có Liên bang Nga sẽ đạt hơn 5% nhưng có thể lại tuột đáy - tức là bị suy trầm nữa, thậm chí suy thoái và khủng hoảng chính trị - và có Brazil với chừng 4,8%. Vấn đề là các nước đang phát triển này phải có khả năng cải cách từ căn bản đề mở rộng sức tiêu thụ nội địa thay vì lệ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu sang các nước công nghiệp hoá. Việc cải cách thật ra đòi hỏi một nỗ lực thay đổi tư duy và cơ chế.


- Trong khi ấy, các nước này cũng gặp bài toán cực kỳ tế nhị là triệt thoái khỏi suy thoái, nghĩa là hút bớt tiền đã bơm ra, và làm cho khéo để khỏi rơi lại vào suy trầm, nếu không triệt thoái thì tiền sẽ lại bơm vào bong bóng, như người ta đang thấy tại Trung Quốc và Việt Nam.
RFI: Riêng về hai nước này, nhũng thách thức gì là quan trọng nhất trong năm tới"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Vì cả hai đều tận dụng giải pháp tín dụng là bơm tiền qua ngân hàng vào kinh tế trong một cơ chế vẫn chưa tự do thông thoáng nên sẽ gặp hai nguy cơ là bong bóng đầu cơ và ngân hàng suy sụp dưới núi nợ xấu. Cả hai lại duy trì chính sách ngoại hối có kiểm soát là buộc giá đồng bạc vào tiền Mỹ theo tỷ giá cố định và bất thường, nên những khó khăn ấy dẫn tới vấn đề ngoại hối. Đó là mâu thuẫn về trị giá đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc với các nước khác và gây tranh chấp về mậu dịch khi kinh tế của các nước công nghiệp hoá vẫn còn yếu.
- Tại Việt Nam, chế độ hối đoái ấy - lẫn hậu quả của suy trầm toàn cầu nên đầu tư và tiền trợ giúp từ nước ngoài gửi về đều giảm - rất dễ gây ra khủng hoảng ngoại hối và cả nạn lạm phát.
RFI : Thưa anh, nhìn chung thì ảnh hưởng kinh tế Hoa Kỳ đối với thế giới sẽ ra sao, có còn là đầu máy kinh tế cho Châu Á như trước đây hay không "
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Hoa Kỳ đang ra khỏi suy trầm nhưng tình hình còn bấp bênh và niềm tin của thị trường chưa phục hồi nên ngân hàng trung ương sẽ rất thận trọng khi điều chỉnh lãi suất kể từ giữa năm tới trở đi để ra khỏi tình trạng lãi suất âm như hiện tại. Trong hoàn cảnh đó, kinh tế xứ này khó làm đầu máy tăng trưởng cho các nước như trước đây. Huống hồ các kế hoạch tăng chi để cải tạo xã hội sẽ khiến xứ này mắc nợ tới mức kỷ lục và dân Mỹ sẽ chi tiêu dè xẻn hơn vì sự bất trắc đó. Vì vậy, thị trường nhập khẩu để tiêu thụ sẽ còn yếu và mâu thuẫn về mậu dịch càng dễ xảy ra với Chính quyền đang bị sức ép rất mạnh của xu hướng bảo hộ mậu dịch.
- Ngoài ra, ta không quên một vấn đề là giá xăng dầu tăng vọt trong năm 2008 có góp phần gây ra suy trầm. Nếu bất ổn bùng nổ tại Iran vì khủng hoảng bên trong và vì hồ sơ võ khí hạch tâm với bên ngoài mà dẫn tới cấm vận hay giao tranh tại eo biển Hormuz thì nạn dầu thô lên giá sẽ lại đẩy kinh tế toàn cầu vào cơn biến động khác trong năm tới. Vì vậy, ta chưa nên nổ xâm banh ăn mừng vội!
RFI: Nếu phải tóm lại tình hình kinh tế thế giới năm tới thì anh sẽ thu gọn trong một câu như thế nào "
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ là phải triệt thoái ra khỏi nạn suy thoái nhưng mà triệt thoái cho khéo, phải cân nhắc cho kỹ, và cái yếu tố quan trọng nhất là niềm tin của thị trường. nếu thị trường có tin tưởng, thì tín dụng có thể hoạt động mạnh một cách tự phát, lúc đó chính quyền có thể rút bớt tiền trở về được. Nếu mà không có thì chúng ta vẫn còn gặp rất nhiều bấc trắc.
RFI: Thưa anh, các chính phủ phải làm thế nào để tạo lại niềm tin cho các thị trường hầu ra khỏi suy thoái một cách vững vàng"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ đầu tiên hết là trong cái hệ thống ngân hàng. Tại vì từ khủng hoảng tài chính nó mới lây lan sang kinh tế. Nếu các hệ thống ngân hàng được chấn chỉnh lại, có thể hoạt động lại bình thường, và với một hệ thống kiểm soát tinh vi hơn nhưng đồng thời không bóp nghẹt sáng kiến của họ, thì có thể giúp giải tỏa tình trạng ách tắc tín dụng hiện tại.
- Nếu ách tắc tín dụng hiện tại vẫn còn kéo dài, thì các hệ thống ngân hàng trung ương của cả bên Âu Châu lẫn bên Hoa Kỳ, và các nước khác nữa vẫn chưa dám hút bớt tiền ra, và khi đó chúng ta vẫn lại thấy ra tình trạng rất bấp bênh: tiền ở nơi cần thì không có và những nơi không cần thì vẫn được bơm vào, lại có thể dẫn lên những nguyên nhân đưa đến khủng hoảng khác trong tương lai, tức là lại tạo nên những bong bóng và khi bóng bể thì chúng ta lại có nạn suy trầm.
RFI: Về chính sách kinh tế, hiện nay nhiều người đề xuất là từ Châu Âu, Châu Á, Châu Mỹ, tất cả đều phải tập trung vào thị trường nội điạ. Anh nghĩ thế nào về đề xuất này "
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Cái điều đó đúng, và có thế người ta mới tái lập lại quân bình gọi là toàn cầu. Tức là xưa nay các nước đang phát triển đều thắt lưng buộc bụng để bán hàng vào các nước đã phát triển. Và các nước đã phát triển thì mua hàng hóa của các nước kia với giá rẻ, và làm cho cà hai khối đều lệ thuộc với nhau và bây giờ thì cái khả năng mua hàng các nước công nghiệp hoá đã giảm, thành ra nếu mà họ không có tạo điều kiện cho cái thị trường nội địa là cái đầu máy chính thì sẽ gặp khó khăn.
- Ngược lại các nước đang phát triển, nhất là tại các nước Á Châu tập trung vào chiến lược lấy xuất khẩu làm đầu máy, thì cái xuất khẩu vào ba nền kinh tế lớn, Hoa Kỳ, Châu Âu và Nhật Bản, đều èo uột như chúng ta vừa thấy, thì các nước đang phát triển sẽ thấy là phải có nhu cầu giải phóng cơ chế sản xuất và phân phối trong nước để cho thị trường nội điạ là đầu máy chính thay vì chỉ có trong cậy vào thị trường xuất khẩu thôi. Mà cái tình trạng gọi là tái lập quân bình này đòi hỏi nhiều biện pháp cải cách mà có thể rằng là một hai năm mới có thể thấy kết quả.
- Do đó tình hình trong năm tới không còn u ám như năm 2009, nhưng mà nó vẫn chưa sáng sủa, cho đến khi các nước rút tỉa được các bài học của cái trận gọi là tổng suy thoái vừa rồi.
RFI: Xin cám ơn kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa tại California.

Đã từ lâu, những gì Donald Trump nói, làm, hoặc tung ra trên Truth Social Media, đã không còn là một tuyên bố mang tính chuẩn mực cao nhất của quốc gia. Nó cũng không còn bao hàm những quyết định quan trọng mà người dân mong chờ sẽ mang đến một xã hội tốt đẹp hơn, an toàn hơn. Không phải những cận thần chung quanh Trump không nhận ra điều đó. Rõ nhất là “Thằng Ất” và “Thằng Giáp” – hai kẻ đã từng đưa ra lời chỉ trích mạnh mẽ thời chưa bước vào cửa quan. “Thằng Ất” JD Vance hồi năm 2016 đã nhắn tin cho một người bạn học cũ, gọi Trump là "Hitler của nước Mỹ.” Trong một bài viết đăng trên tờ The Atlantic vào năm 2016, Vance mô tả Trump như một thứ "’heroin’ văn hóa.”
Trong kho tàng ngụ ngôn Aesop có hai câu chuyện. Một chuyện kể về cậu bé chăn cừu thích lấy nỗi sợ của cả làng ra làm trò đùa. Cậu nhiều lần hét to “Sói! Sói!” để lừa người lớn chạy hộc tốc lên đồi, rồi bỏ về, bực bội vì bị lừa. Đến một ngày nọ, sói thật xuất hiện, cậu kêu cứu đến khản cổ mà không còn ai buồn chạy lên đồi cứu giúp, khiến đàn cừu của cậu bị sói vồ sạch. Chuyện thứ hai kể về một con sói thật kiên nhẫn. Ngày này qua ngày khác, nó lảng vảng đến gần đàn cừu. Lúc đầu, người chăn cừu cảnh giác, luôn tay xua đuổi nó. Nhưng sói chỉ đứng xa, trông hiền hòa, không vồ con nào. Lâu dần, chàng chăn cừu quen thuộc với sự hiện diện của Sói, cho đến khi bóng dáng con vật trở nên một phần của phong cảnh xung quanh đàn cừu. Tới một hôm bận việc, anh cả tin đến mức gửi luôn đàn cừu cho sói “trông hộ”. Tối về, chuồng chỉ còn vài con sót lại.
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.