Hôm nay,  

Châu Á Há Mồm

22/11/200700:00:00(Xem: 9064)

Sau khi ASEAN tự vả vào miệng...

Kỷ niệm 40 năm thành lập, Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á ASEAN vừa chứng minh rằng tổ chức này vẫn chưa trưởng thành vào tuổi bốn mươi.

Thiếu trưởng thành là trạng thái tâm lý của đứa trẻ bất chấp thực tế mà ham muốn cùng lúc nhiều điều mâu thuẫn. Và nếu không toại ý thì giận hờn đổ lỗi cho ai khác.

Thành hình từ nhu cầu an ninh của thời Chiến tranh lạnh, để lập ra liên minh chống cộng khi miền Nam Việt Nam bị đe dọa, hiệp hội ASEAN núp dưới cây dù bảo vệ của Mỹ. Và nhiều nước đã trục lợi kinh tế nhờ cuộc chiến Việt Nam.

Nhưng, mặc cảm nhược tiểu Á châu - của một chuỗi quốc gia từng cúi đầu dưới ách thực dân Âu châu - khiến các nước muốn tìm cho mình một định mệnh châu Á riêng biệt. Giải pháp dễ dãi nhất là đi tìm sự phồn thịnh của kinh tế thị trường, và an toàn dưới ách cai trị độc tài. Cái gọi là "định mệnh Á châu" ấy chỉ là một nỗ lực thực dụng và lý tài, và ASEAN biến thành một câu lạc bộ các tài phú, hợp tác với nhau để kiếm ăn. An ninh là vấn đề của ai khác, của "người lớn", của Hoa Kỳ hay Nhật Bản, hay Úc Đại Lợi.

Mâu thuẫn giữa mục tiêu kinh tế và an ninh cho chế độ dẫn tới một nguyên tắc hành xử: là hãy cùng lo kiếm ăn mà đừng xiá vào chuyện nội bộ của các thành viên trong câu lạc bộ. Thực tế là nhắm mắt trước một chuỗi hậu quả của hình thái kinh tế tự do kết hợp với chính trị chuyên chế, như là ách độc tài, nạn hủy hoại môi sinh, lạm thác, cháy rừng, và những bất ổn xã hội chính trị tiềm ẩn bên dưới.

Khi Chiến tranh lạnh kết thúc và cùng với việc Trung Quốc rồi Ấn Độ tiến hành cải cách, hiệp hội ASEAN đã có lúc ham muốn thêm chuyện viển vông, là trở thành một lực đối trọng với Trung Quốc hay Ấn Độ. Mục tiêu là để các nước Đông Nam Á Cộng sản hoàn lương khỏi bị rơi vào vùng ảnh hưởng của hai cường quốc Á châu kia. Vì vậy, ASEAN đón nhận Việt Nam, Lào, Cambốt và Miến Điện làm hội viên. Lý luận lý tài là nhờ quan hệ kinh tế, ASEAN sẽ kéo bốn xứ độc tài ấy ra khỏi vùng ảnh hưởng của Trung Quốc.

Đây là sự viển vông không thực tế, vì cả 10 hội viên kết hợp vẫn không đủ trọng lượng trước sức nặng Trung Quốc. Ngược lại, ASEAN còn bị Bắc Kinh đánh tỉa, mỗi hội viên lại được nhử vào một kế hoạch hợp tác riêng lẻ, để hiệp hội hết có nổi một đối sách thống nhất. Cụ thể là việc khai thác sông Mekong - hầu mua chuộc bốn nước Thái, Miến, Mên, Lào - hay thăm dò năng lượng ngoài Đông hải, trên các vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa - nhằm tranh thủ riêng từng nước như Việt Nam, Malaysia, Philippines...

Mặt khác, nguyên tắc không xen lấn vào nội bộ hội viên khiến ASEAN nhắm mắt trước nạn chà đạp nhân quyền và đàn áp dân chủ còn nghiêm trọng hơn thời thuộc địa. Hai thí dụ chói lọi nhất là Việt Nam và Miến Điện.

Bốn mươi năm sau, ASEAN tiến được một bước để... trở về chốn cũ. Đó là chuyện Hội nghị Thượng đỉnh tuần qua tại Singapore.

Hiệp hội bất lực này tiến được một bước khi thu hết can đảm Á châu để soạn thảo ra một văn kiện lịch sử. Bản Hiến chương về Nhân quyền.

Đây là bước tiến vì những bậc đại trí được trao phó nhiệm vụ nghiên cứu và soạn thảo văn kiện ấy là những lãnh tụ năm xưa vẫn đề cao giá trị của mô thức Á châu và nguyên tắc không xen lấn vào nội bộ xứ khác. Họ là nguyên Tổng thống Fidel Ramos của Philippines, nguyên Ngoại trưởng Alias Alatas của Indonesia, hay nguyên Phó Thủ tướng Musa Hitam của Malaysia. ASEAN nhúc nhích ra khỏi sự bất động cũ mà đề cập tới vấn đề nhạy cảm là nhân quyền trong các nước hội viên.

Ít ra cũng là một cách rửa mặt cho Á châu.

Như chuồn chuồn rửa đít. Rồi lại bay sà vào chốn cũ. Nghĩa là nói gì thì nói, nạn chà đạp nhân quyền tại Miến Điện vẫn là vấn đề nội bộ của Miến Điện. Chủ trì Thượng đỉnh ASEAN là Thủ tướng Lý Hiển Long đã đứng trên chiều cao thước tám của mình để bác bỏ lời kêu gọi của Hoa Kỳ, rằng ASEAN phải làm áp lực với Yangoon về việc chế độ quân phiệt đàn áp dân chủ, đánh đập và cầm tù tăng ni. Nói nôm na là nước Mỹ không nên xía vào chuyện nội bộ của ASEAN.

Chẳng những vậy, ASEAN còn đột ngột hủy bỏ một quyết định quan trọng về ngoại giao: Đặc sứ Liên hiệp quốc về hồ sơ Miến Điện là ông Ibrahim Gambari sẽ không được phát biểu trước Hội nghị như ASEAN đã trù tính.

Hùng dũng biết bao!

Và hèn hạ chừng nào, khi ta biết được rằng ba trong bốn nước xuất cảng nhiều nhất vào xứ Miến là Singapore, Thái Lan và Malaysia. Xứ kia là Trung Quốc. Động lực lý tài đã soi sáng cái lý trí bần tiện của châu Á.

Thành thử việc ASEAN ký kết Hiến chương Nhân quyền và lập ra một cơ quan chuyên theo dõi vấn đề nhân quyền trong nội bộ chỉ là trò hề. Cơ quan này là viên thái giám bất lực vì không có khả năng cưỡng hành: không thể làm gì mà không có sự thỏa thuận của tất cả các hội viên. Và tôn chỉ của Hiến chương, như "củng cố dân chủ, cải tiến hệ thống cai trị, phát huy pháp quyền, đề cao và bảo vệ nhân quyền và những quyền tự do căn bản, trong tinh thần tôn trọng quyền hạn và trách nhiệm của các quốc gia hội viên"... chỉ là khẩu hiệu nhảm.

Cũng vì vậy mà trong 10 hội viên, có một quốc gia không bước vào trò chơi đó. Tổng thống Glorial Macapagal-Arroyo của Philippines từ chối không phê chuẩn tờ giấy lộn này. Ít ra cũng khá hơn người Hà Nội!

ASEAN núp sau khẩu hiệu "phải giao kết với các chế độ độc tài" để giúp họ chuyển hoá một cách hoà bình. Dưới khẩu hiệu đó, họ hợp tác với các lãnh tụ hung đồ để trục lợi và ngậm miệng khi nạn chà đạp nhân quyền xảy ra. Chuyện ấy, tháng trước cả thế giới đều thấy rõ khi bọn quân phiệt Miến Điện biến nhà chùa thành nhà tù mà Thượng đỉnh ASEAN vẫn chỉ kêu gọi vu vơ. Và không muốn ai nói tới vấn đề này trong Thượng đỉnh năm nay.

Tinh thần "giao kết để chuyển hoá" của ASEAN khiến người ta nhớ tới lý luận tương tự của những người đang muốn chuyển hoá chế độ Hà Nội để kiếm ăn, và bất chấp thực tế bi thảm ở chung quanh. Họ tự xưng là "Việt kiều Yêu nước", một định nghĩa khác của "bọn ngu xuẩn hữu ích" theo lý luận của Lenin. Từng cá nhân có thể tối mắt như vậy. Nhưng khi cả một hiệp hội 10 quốc gia lại mắc dịch đớn hèn tập thể, thì khái niệm về "giá trị Á châu" chỉ là hài kịch. ASEAN đã há mồm và tự nhổ vào mặt trong dịp ăn mừng 40 năm thành lập. Rõ khéo!

Á châu vốn có nhiều biệt tài hơn thiên hạ. Người ta cứ hay nghĩ như vậy!

Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tuyên bố mục tiêu của Washington là chấm dứt chế độ thần quyền tại Iran và buộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Islamic Revolutionary Guard Corps, IRGC) đầu hàng; nếu không, Hoa Kỳ sẽ sử dụng vũ lực, đồng thời chấm dứt mọi nỗ lực đàm phán liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.