Hôm nay,  

Da Trắng Vỗ Bì Bạch

08/01/200800:00:00(Xem: 10430)

Hoa Kỳ là một xứ phân biệt chủng tộc: kỳ thị dân da trắng...

Tại một tiểu bang rất "ruộng" - của nước Mỹ thâm sâu - là Iowa, chiến thắng của Nghị sĩ Barach Hussein Obama là một biến cố lịch sử. Đa số cư dân Iowa là dân da trắng, thuần thành và hiền hòa, họ bỏ phiếu rất mạnh cho một ứng cử viên da đen. Trong số này, không thiếu cử tri thuộc nhóm "độc lập" và cả cử tri thiên Cộng hoà.

Biến cố Iowa hôm Thứ Năm mùng ba khiến Nghị sĩ Hillary Clinton ứa lệ hôm Thứ Hai, một ngày trước vòng sơ bộ tại New Hampshire. Đây là cơ hội cho dân Mỹ nhìn thấy mặt thật của Hillary lạnh lùng sắt thép, nên chưa chắc đã hoàn toàn tai hại. Nhưng, người muốn làm Tổng tư lệnh quân đội mà mới chỉ bị tuột xích có một lần ở vòng sơ bộ mà đã ca bài Smoke Gets in Your Eyes, ở ngay giữa thời chiến, thì… nghi quá.

Cho nên, Barach Obama cứ như diều gặp gió. Đấy là lúc ta nhìn xem cánh diều này màu gì….

Trong khi mải lo tranh cử, dân Mỹ không để ý đến một chi tiết lạ, và truyền thông cũng chẳng hỏi Obama về điều ấy. Xứ Kenya có loạn! Vì sao phải hỏi" Vì thân phụ Barack Obama là dân Kenya, như người Mỹ ưa nhấn mạnh. Điều mà không ai nhấn mạnh là thân mẫu của ông là phụ nữ Hoa Kỳ da trắng. Yếu tố "da trắng" ấy không đáng kể, chỉ có màu da từ Kenya mới đáng chuyện: lần đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ, một người da đen có thể lên làm Tổng thống Mỹ! Ngược lại, nếu Barack Obama trở về quê cha để tranh cử và vãn hồi hòa bình sắc tộc và bộ tộc cho xứ Kenya, thế giới sẽ nói sao" Hoa Kỳ đưa người da trắng về thống trị xứ này!

Đâm ra, trắng đen phải tùy nơi tùy lúc!

Tại Hoa Kỳ cơn cuồng phong Obama từ Iowa kéo về New Hampshire đã khiến truyền thông lạc quan của Mỹ kết luận: nước Mỹ từ nay hoà giải được với quá khứ kỳ thị màu da của mình! Nhiều dân Mỹ trẻ kết luận như vậy và hô hào dồn phiếu cho Obama để chuộc lại lỗi lầm của tổ tông. Họ có phản ứng truyền thống của Mỹ, là hay thái quá trong các phản ứng của mình!

Ta nên làm một việc tâm phân học ở đây:

Nói chung, truyền thông, dư luận và cả các nhà phân tách thời cuộc, các "thầy bàn" pundits, của Mỹ đều thổi Obama lên mây xanh vì lý do chính yếu là da đen. Huyết thống của bà mẹ da trắng thật không đáng kể. Đó là một chuyện, không nhỏ! Hãy tưởng tượng một ứng viên gốc Đức lai Ý, hay gốc Mỹ… lai Việt, xem. Yếu tố dị chủng ấy không đáng kể vì người ta chỉ chú ý đến màu da trắng trong các nhân vật này.

Thứ hai, trong cuộc tranh cử, Obama nhấn mạnh là tinh thần đại đoàn kết của mình sẽ hàn gắn mọi khác biệt về sắc tộc, màu da hay vân vân. Nhưng tiềm ẩn bên dưới các thông điệp vẫn là niềm kiêu hãnh da đen - một thành phần cùng khốn đã vượt qua mọi nghịch cảnh để thành công và sẽ lãnh đạo xã hội Mỹ tiến lên một kỷ nguyên không còn phân biệt sắc tộc.

Sự thật lại không hắc bạch phân minh như vậy.

Họ đạo của Obama là Trinity United Church of Christ có một mục sư - tất nhiên da đen - năng nổ với chủ trương dẫn dắt một số người có thiện duyên tiến tới một thế giới duy Phi châu - Afro-centric. Phi châu chẳng là cái nôi của nhân loại sao" Nhà thờ của ông còn ghi rõ trên website tôn chỉ là "Hãnh diện là Da đen và Thiên chúa giáo!"

Ứng cử viên Mitt Romney theo đạo Mormon nên vất vả không ít về tôn giáo đặc biệt của mình. Nhưng, nếu nhà thờ The Church of Jesus Christ of Latter-day Saints của dòng Mormon mà trưng bảng "unashamedly white"- hãnh diện là da trắng, thì coi như Mitt sẽ ra "red meat", bị xơi tái về tội kỳ thị! Cách phân biệt đối xử ấy khiến Obama chẳng phiền hà gì về tính chất duy chủng và cực đoan của họ đạo của ông, nhưng cũng cho thấy sự rỗng rang trong chủ trương đại đoàn kết mọi sắc màu của ứng cử viên này.

Hơn bốn chục năm trước, nhiều người da trắng đã tích cực đấu tranh trong phong trào đòi hỏi dân quyền bình đẳng cho người da đen. Nhưng người ta chỉ nói đến Mục sư  Luther King và các lãnh tụ da đen. Chuyện ấy, ta thông cảm được. Nhưng vấn đề còn nghiêm trọng hơn thế. Trong cuộc tranh cử vào ghế Nghị sĩ Illinois, ứng viên Cộng hoà Alan Keys - người da đen - đã đả kích Barack Obama là da đen nhưng không phải là con cháu nô lệ! Nghĩa là trong cõi da đen, người ta cũng có sự phân biệt! Càng gần với quá khứ u tối của lịch sử thì ngôi sao da đen càng dễ tỏa sáng!

Ông Bill Clinton am hiểu tâm lý dân Mỹ tới vô cùng, nên gọi hiện tượng nhường nhịn đến tôn sùng da đen là "mặc cảm da trắng". Trong tiềm thức, xã hội dân chủ và đa nguyên nhất thế giới vẫn chưa thoát khỏi nỗi ám ảnh về màu da.

Nếu Hillary Clinton có thể ngồi dậy từ cú té tuần này, bà sẽ áp dụng bài bản của Bill Clinton năm xưa khi đối đầu với Mục sư da đen Jesse Jackson, bằng cách "nhắc khéo" cử tọa đến yếu tố da đen, để hù dân da trắng!

Lúc ấy, truyền thông đầy mặc cảm của Hoa Kỳ sẽ xử trí ra sao" Ly kỳ!

Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.