Hôm nay,  

Xin lỗi cha Joe

22/10/201100:00:00(Xem: 8310)

Xin lỗi cha Joe 

cha_joe_nam_1977-large-content: Cha Joe năm 1977.

cha_joe_khan_gia_xem_kich-large-content: Khán giả xem kịch Quo Vadis diễn cuộc đời cha Joe. 

cha_joe_va_thieu_nien_ty_nan-large-content: Thiếu niên tỵ nạn Việt nam, con cái của cha chụp hình kỷ niệm tại Songkhla

cha_joe_day_hoc-large-content: Trong các bạn, ai là người đã ngồi trong lớp học này.

Giao Chỉ - San Jose.

Joe Devlin và Quo Vadis.

Ngày xưa tôi đã được xem phim La mã có tựa đề Quo Vadis. Chữ nghĩa này lấy từ kinh thánh khi các đồ đệ của Chúa hỏi nhau về sự ra đi của người. Quo Vadis" Thầy đi đâu.

Ngày nay tại San Jose người ta thành lập một kịch đoàn có tên là Quo Vadis do bà Marie Balletim đạo diễn và quản trị. Sự hiểu biết của tôi về chữ nghĩa của kinh thánh cũng có chừng đó. Còn về phần cha Joe, hơn 20 năm trước đã nghe tên của người. Ngày nay hình ảnh đã mờ nhạt. Danh tiếng của cha Joe Devlin không vang lừng thế giới. Có thể chỉ vài ngàn người Việt Nam trước năm 1975 còn nhớ nếu là dân ở Tràm Chim, miền Tây Nam Phần. Có thể chỉ vài chục ngàn dân tỵ nạn Việt Nam biết đến cha Joe nếu họ đã từng ở trại Songkha Thái Lan.

Nhưng đám trẻ Việt Nam lang thang trôi giạt đến Songkha tạm trú trong trung tâm trẻ em không thân nhân chắc hẳn mãi mãi còn nhớ đến cha Joe.

Trong đó có cô Vanessa Thu Vân Cao, chủ nhân T&H Body Shop trên đường số 5 thành phố San Jose. Đi trên xa lộ 101 đôi khi ta thấy có tấm bảng T&H nhận bảo trợ công tác làm sạch sẽ Freeway. Đó chính là cô gái tỵ nạn 13 tuổi ở Songkha ngày xưa, bây giờ theo lời cha nuôi trả nợ Hoa Kỳ bằng cách góp phần làm sạch sẽ quê hương mới.

Tôi muốn kể hầu quí vị về cha Joe và cô Vanessa.

Trước hết xin đọc qua bản tin của Dân Sinh News.

(Dân Sinh News)

Cuộc đời ngoại hạng của một linh mục tận tụy hy sinh cho những người dân quê miền Nam Việt Nam. Tiếp theo, cũng chính vị linh mục đó đã tiếp tục là người chăm sóc cho hàng chục ngàn thuyền nhân tại Thái Lan.

Cha Joe Devlin vốn là người dân Bắc CA nhưng định mệnh đã đưa vì linh mục trẻ đến Tràm Chim miền Nam Việt Nam. Định mệnh cũng đã đưa cha đến Songkhla Thái Lan.

Hàng ngàn nạn nhân chiến tranh đã được cha Joe giúp đỡ. Hàng chục ngàn Thuyền nhân Việt Nam đã được cha Joe cưu mang.

Sự hy sinh và tận tụy của cha Joe đối với những người Việt bất hạnh từ trước và sau 75. Từ đồng ruộng miền Nam đến biển Đông. Tưởng như cha là người phải trả nợ cho dân Việt cùng đường.

Hiện nay trên thế giới có cả chục ngàn người Việt đã từng được sự giúp đỡ trực tiếp hay gián tiếp của cha Joe. Bao nhiêu người còn nhớ đến cha. Cha Joe bây giờ ở đâu ".

Ngay tại San Jose cũng có cả trăm người trong số hàng chục ngàn Thuyền nhân đã nhận cha Joe là ân nhân tại Songkhla.

Bao nhiêu người còn nhớ đến ông.

Nếu có ai hỏi bây giờ cha ở đâu thì câu trả lời rằng cha đã đi xa từ lâu rồi.

Nhưng Quo Vadis sẽ đưa cha trở về San Jose. Trong 8 buổi trình diễn liên tiếp, cuộc đời cha Joe được dựng lại thành vở kịch sẽ được trình diễn ngay tại San Jose.

Chuyện lạ chưa từng xẩy ra. Trong giai đoạn cha Joe mới đến Việt Nam, bác sĩ Phan Quang Đán là người đã mời cha đến Việt Nam. Cuộc đời cha dính liền với một Việt Nam đau thương từ lúc đó. Trong vở kịch này ai sẽ đóng vai cha Joe. Phải đến xem mới biết được. Ai đóng vai bác sĩ Phan Quang Đán. Người đó là bác sĩ Vũ Thế Hưng.

Quo Vadis dựng vở kịch về cha Joe mà dự trù trình diễn đến 8 lần thì cũng là chuyện rất lạ. Sẽ có bao nhiêu người Mỹ đi xem, bao nhiêu người Việt đi xem. Có thể chỉ đếm trên đầu ngón tay. Nào ai biết được. Nếu thực sự là thuyển nhân Songkhla, có thể sẽ đi xem nhiều lần. Có thể không hiểu hết đối thoại, nhưng cần gì. Hơn 20 năm trước, đã nói chuyện bằng tay với cha Joe mà sau cùng đã được vào Mỹ.

Người Việt lúc đó không ai gọi cha là linh mục. Ai cũng gọi là cha, như là một đấng sinh thành, nhất là đám trẻ không cha mẹ dưới 18 tuổi. Một trong đứa trẻ đó lúc ở trại là bé gái 13 tuổi. Ngày nay là thương gia ở San Jose, đã lái chiếc xe Van to tướng đến Việt Museum gỡ bức tranh Thuyền nhân để đem về làm phông cho vở kịch.

Vài nét về cha Joe.

Joe Devlin sinh ngày 27 Dec. 1916 tại San Francisco và thụ phong linh mục 1947. Lúc đó cha Joe là một thầy tu trẻ 31 tuổi và luôn luôn ước mong được phục vụ giáo hội tại những nơi khó khăn nhất. Tuy nhiên thực sự phải chờ đợi thêm một phần tư thế kỷ thì định mệnh mới đưa cha gắn liền với 2 chữ Việt Nam.

Năm 1970 bác sĩ Phan Quang Đán đang là thành viên quan trọng của chính phủ Nam Việt Nam đã gửi cha Joe một lá thư ngắn ngủi. Lúc đó cha đang tìm đường qua phục vụ Phi Châu. Bác sĩ Đán viết :

“Thưa cha, tôi nghe nói cha muốn tìm giúp đỡ dân nghèo. Xin đến đây. Chúng tôi có đủ cả. Dân nghèo, nạn nhân chiến tranh, vợ góa, con côi, ốm đau và chết chóc. Chúng tôi đang có chiến tranh với cộng sản. Chúng tôi hoan nghênh sự giúp đỡ của cha. Xin cha đến đây.”

Qua lá thư ngắn ngủi, định mệnh đã đưa cha Joe đến miền đất hẻo lánh gọi là Tràm Chim, ở miền Đồng Tháp, tỉnh Kiến Phong. Quả thực ở đây có đủ thứ mà bác sĩ Đán đã mô tả, lại thêm một kẻ thù kinh khủng nhất mà chưa được nói tới. Việt cộng.

Cha Joe đã sống 5 năm với người dân Tràm Chim. Bị Việt cộng treo đầu có giải thưởng. Bị ám sát hụt. Ông xây lại nhà Chúa, tổ chức cộng đồng xã hội và dựng lại niềm tin.

Khi cơn hồng thủy miền Nam tràn đến vào năm 1975, cha tìm cách giúp giáo dân di tản về Saigon. Chuyến đi trải qua nhiều gian truân.

Sau tháng 4-1975 cha về phục vụ tại trại tỵ nạn Pendleton California. Tiếp theo cha qua giúp dân tỵ nạn Việt Nam tại Songkhla Thái Lan. Tại đây cha trở thành vị thánh của người Việt tỵ nạn.

Có những lúc Songkhla lên đến hàng chục ngàn người, ai cũng biết cha Joe là vị ân nhân không mệt mỏi của bao nhiêu trường hợp.

Mỗi tối cha cầu nguyện cho dân tỵ nạn, nhưng cha sợ hãi khi buổi sáng thức giấc sẽ phải đi vớt xác người trên biển hay đón những gia đình tan nát, những cô gái bị hải tặc hành hạ

Những buổi bình minh đau thương vẫn đến với cha suốt ngày này qua ngày khác.

Chuyện của chị em cô Vân.

Có cả ngàn câu chuyện của người tỵ nạn viết về cha Joe. Xin nhắc lại một chuyện có hậu nhất. Ngày 16 tháng 3-1980 chị em cô Vân vượt biên tại Cà Mâu. Mẹ ở lại nuôi cha cải tạo. Bốn đứa con lên đường. Chị cả 17, rồi chị kế 15, cô bé Vân 13 và cậu em út 12. Gửi đi theo gia đình ông bác sĩ quen biết. Giờ chót, gia đình bác sĩ kẹt lại. Bốn chị em không có thân nhân xuống chiếc ghe dài 8 thước, rộng 1 mét rưỡi, chứa 48 người. Chưa đi đã thấy chết. Lúc đó là năm 80, hải tặc và sóng gió chờ ở ngoài khơi. con thuyền đi được đến hải phận quốc tế thì chết máy, thủng đáy. Đám người khốn nạn thay nhau tát nước và thả chiếc ghe trôi giạt trên biển cả.

Tàu cá Thái Lan đến tiếp tế và bóc lột nhiều lần nhưng may mắn chưa gặp tàu hải tặc. Sau 16 ngày trôi giạt gặp dàn khoan và được cứu về Songkhla. Bốn chị em gặp cha Joe đưa vào trung tâm trẻ em. Từ đó các em trở thành con cái của cha. Ở đảo 7 tháng. Chị em Vân được vào Mỹ và người quen nhận bảo trợ về Oakland. Cha Joe quản ngại nên giới thiệu về cho cha Tịnh và được người quen khác nhận về cư ngụ tại San Jose. Từ lúc đó cha Joe bên đảo tiếp tục theo dõi giúp đở. Các em theo đạo và đã từng được chị Kim Oanh nhận là mẹ đỡ đầu. Lúc đó cô Kim Oanh là cháu cha Tịnh cũng chỉ hơn chị em vài tuổi.

Chị em đưa nhau đi học và cùng nhau trưởng thành tại San Jose. Đám cưới cô Vân có cha Joe về chủ hôn. Sau đó khi cha về nghỉ hưu ở San Jose thì chị em và các gia đình tỵ nạn tại San Jose có tới lui thăm viếng. 

Vân và chổng đứng bên tay mặt cha Joe nhân ngày họp mặt tại San jose.

Đám tang cha Joe cũng tại San Jose, cô Vân lên đọc bài ai điếu khi các người tỵ nạn Việt Nam ngồi chật cả nhà thờ. Ai cũng khóc cho người ân nhân số 1 của Việt Nam tại Songkhla.

Ngày nay cô bé Vân 13 tuổi ra đi ở Cà Mâu năm 80 trở thành Vanessa Thu Vân Cao là người tổ chức và bảo trợ chính cho kịch đoàn Quo Vadis dựng lại cuộc đời cha Joe tại San Jose.

Cha JOE sống lại.

Trong 8 buổi diễn liên tiếp, mỗi ngày cha Joe đã sống lại 2 lần.. Cảnh 1 gần 1 giờ, cha sống tại Tràm Chim, miền Đồng Tháp, Việt Nam và cảnh 2 hơn nửa giờ cha sống tại trại tỵ nạn Songkhla,Thái Lan.

Tổng cộng có 15 diễn viên Hoa Kỳ và Việt Nam. Kịch bản lôi cuốn diễn tiến chặt chẽ. Giám đốc kịch đoàn và đạo diễn là bà Marie Balletime. Các diễn viên rất xuất sắc. Người đóng vai cha Joe đảm trách vai chính sống động vô cùng. Các vai khác nỗ lực hết sức kể cả các tài tử gốc Việt.

Đối thoại hoàn toàn bằng Anh ngữ, ngắn gọn, và dễ hiểu.

Đặc biệt toàn bộ kịch bản nói lên tinh thần chống Cộng quyết liệt. Đối thoại có chiều sâu và tạo nên những đoạn bi hài lẫn lộn. Các vai phụ lần lượt đóng nhiều vai. Nông dân, thuyền nhân rồi hải tặc. Một cô gái Việt đóng cả vai nữ đặc công vào ám sát cha Joe. Một thanh niên Việt đóng vai vị đại úy VNCH anh hùng quyết ở lại chiến đấu tại Tràm Chim. Nước mắt và tiếng cười được chia xẻ bởi hàng trăm khán giả Hoa Kỳ.

Kịch đoàn Quo Vadis sau buổi diễn cuối cùng ngày chủ nhật.

Phần kết luận.

Trong suốt 8 lần trình diễn, buổi tối vào ngày thường và 2 buổi chủ nhật diễn ban ngày. Mỗi ngày có chừng hơn 100 đến 200 khách Mỹ tham dự. Khách Việt Nam rất ít, thực là đáng tiếc. Buổi mở đầu, buổi tiếp tân và buổi cuối cùng hoàn toàn không có truyền thông Việt Nam tham dự.

Lại thêm một lần đáng tiếc.

Riêng Dân Sinh Media có đến quay phim toàn bộ, có thể sẽ đưa lên TV sau này. Cũng nên lưu ý thêm quý vị thân hữu của tôi. Vai bác sĩ Phan Quang Đán trong vở kịch này do bác sĩ Vũ Thế Hưng đảm trách.

Trong ngày diễn cuối cùng vào chủ nhật vừa qua, chúng tôi tham dự cùng ông bà thẩm phán Phan Quang Tuệ. Ông Tuệ có dịp nói chuyện với toàn thể diễn viên với tư cách là con trai của bác sĩ Đán. Sự hiện diện của ông cũng là một sự tình cờ đặc biệt khi được xem kịch sĩ tài tử đóng vai người cha danh tiếng của mình.

Riêng phần cá nhân tôi, có dịp nói với toàn thể kịch đoàn rằng, 34 năm về trước, khi còn làm việc cho học khu San Jose, cũng trên sân khấu đường Park này chúng tôi đã dựng vở hội nghị Diên Hồng cho phụ huynh và các học trò Việt Nam mới đến Mỹ. Lúc đó ông Mã Sanh Nhơn đóng vai vua nhà Trần. Ông nhạc sĩ Anh Việt, Trần Văn Trọng đóng vai dẫn đầu đoàn bô lão vào nghị hội. Còn tôi, Vũ Văn Lộc, đóng vai Thằng Mõ vác loa đi kêu gọi toàn dân. Ba ông đại tá hết thời tại San Jose vào dịp Tết 77 đã lên múa may trên sân khấu mua vui cho đám học trò tỵ nạn.

Ai ngờ rằng 34 năm sau chỉ còn mình tôi có dịp trở lại cũng sân khấu này để xem kịch bản dân Việt ở Tràm Chim và dân tỵ nạn ở Songkhla. Hai ông bạn cũ nay đi xa cả rồi. Hơn 30 năm trước, chúng tôi đem cho con trẻ tiếng cười. Ba mươi năm sau, họ diễn cho người lớn khóc.

Ban kịch này trình diễn tại San Jose, nơi có đông người Việt nhất thế giới cũng là tin tức đáng lưu ý. Duy có điều đáng tiếc là số khán giả Việt Nam tỵ nạn Songkhla tại San Jose có cả ngàn người. Mà số người đến với cha Joe ngày nay chẳng được bao nhiêu.

Thôi cũng đành xin lỗi cha Joe.

Người tỵ nạn năm xưa đâu có biết rằng kịch diễn hay và dễ hiểu như thế. Riêng đám trẻ của trung tâm Songkhla, toàn là con cái của ngài, bây giờ đã trở thành các công dân Hoa Kỳ gương mẫu.

Khả năng hiểu biết về tôn giáo của tôi rất giới hạn. Bên Phật giáo dường như ai thiện tâm cũng là Phật. Vì vậy đối với thuyền nhân Việt nhớ ơn cha Joe. Ngài cũng là Chúa. Quo Vadis" Bây giờ Thầy đi đâu"

Thiếu niên tỵ nạn Songkhla trở thành công dân Mỹ tại San Jose

Đã từ lâu, những gì Donald Trump nói, làm, hoặc tung ra trên Truth Social Media, đã không còn là một tuyên bố mang tính chuẩn mực cao nhất của quốc gia. Nó cũng không còn bao hàm những quyết định quan trọng mà người dân mong chờ sẽ mang đến một xã hội tốt đẹp hơn, an toàn hơn. Không phải những cận thần chung quanh Trump không nhận ra điều đó. Rõ nhất là “Thằng Ất” và “Thằng Giáp” – hai kẻ đã từng đưa ra lời chỉ trích mạnh mẽ thời chưa bước vào cửa quan. “Thằng Ất” JD Vance hồi năm 2016 đã nhắn tin cho một người bạn học cũ, gọi Trump là "Hitler của nước Mỹ.” Trong một bài viết đăng trên tờ The Atlantic vào năm 2016, Vance mô tả Trump như một thứ "’heroin’ văn hóa.”
Trong kho tàng ngụ ngôn Aesop có hai câu chuyện. Một chuyện kể về cậu bé chăn cừu thích lấy nỗi sợ của cả làng ra làm trò đùa. Cậu nhiều lần hét to “Sói! Sói!” để lừa người lớn chạy hộc tốc lên đồi, rồi bỏ về, bực bội vì bị lừa. Đến một ngày nọ, sói thật xuất hiện, cậu kêu cứu đến khản cổ mà không còn ai buồn chạy lên đồi cứu giúp, khiến đàn cừu của cậu bị sói vồ sạch. Chuyện thứ hai kể về một con sói thật kiên nhẫn. Ngày này qua ngày khác, nó lảng vảng đến gần đàn cừu. Lúc đầu, người chăn cừu cảnh giác, luôn tay xua đuổi nó. Nhưng sói chỉ đứng xa, trông hiền hòa, không vồ con nào. Lâu dần, chàng chăn cừu quen thuộc với sự hiện diện của Sói, cho đến khi bóng dáng con vật trở nên một phần của phong cảnh xung quanh đàn cừu. Tới một hôm bận việc, anh cả tin đến mức gửi luôn đàn cừu cho sói “trông hộ”. Tối về, chuồng chỉ còn vài con sót lại.
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.