Hôm nay,  

Họa Sĩ Ann Phong, Biển

14/11/201100:00:00(Xem: 9447)
Họa Sĩ Ann Phong, Biển

ann_phong_-large-contentNữ họa sĩ Ann Phong.

Đặng Phú Phong

Ann Phong sinh tại Sài Gòn, là cô giáo dạy hội họa trước khi vượt biên năm 1981, định cư tại miền nam California năm 1982. Năm 1995, cô tốt nghiệp Cao Học Mỹ Thuật (MFA) tại Đại Học California State ở Fullerton. Ann Phong hiện đang dạy hội họa tại Cal State University Pomona, và chị đang là chủ tịch hội đồng quản Trị của VAALA niên khóa 2010 (Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ, trụ sở tại Quận Cam, miền nam California).
Bắt đầu cho sự nghiệp hội họa của mình, Ann Phong lấy chủ đề cuộc chiến Việt Nam dưới cái nhìn của một người dân bình thường để sáng tác. Thời gian sau, Ann Phong bước sang đề tài “Sự chuyển mình của một phụ nữ Việt Nam sống bên ngoài đất nước” . Nhưng những chủ đề đó không thực sự là điều Ann Phong kiếm tìm.
Biển đã giúp Ann Phong vượt thoát, nhưng cũng chính biển cày sâu vào tâm thức chị. Khi trốn chạy, Ann Phong mong đi qua biển thật nhanh, qua được rồi , nhiều năm sau nước biển vẫn còn “thấm trên da thịt” (chữ của Ann Phong). Biển đã trở thành một khúc quành thiết thân của đời mình, thế nên chị đã quay lại biển. Nhưng lần này Ann Phong không dùng thuyền máy mà dùng cọ vẽ làm cột bườm, kết màu sắc thành thuyền, ung ung ra khơi. Hai chuyến đi có khác về phương cách nhưng có cùng một mục đích thăng hoa; một thăng hoa cho đời sống, một thăng hoa cho nghệ thuật của mình.
Trong giai đoạn nầy, những nét cọ, nhát dao, phóng tay trên khung bố của Ann Phong là những đợt sóng dữ. Biển không phải là sự trầm mặc, bí ẩn , êm đềm , hiền hòa mà biển ở đây là biển động, hung hãn, cuồng nộ, gào thét, căm thù. Kỹ thuật đắp nổi bằng Acrylic diễn tả mạnh thêm lên sự hung bạo của sóng, như chồm lên,vượt ra khỏi bức tranh, cuống lấy, nhận chìm người xem. Không khí của tranh hừng hực thù hận. Đó là thời kỳ Ann Phong mỗi khi cầm cọ trước khung bố là chị nhớ lại những giọt nước mắt thống thiết của mấy cô học trò chỉ khoảng 13, 14 tuổi, ôm chầm lấy cô, khi vừa gặp lại trên đảo , kể cho chị nghe chuyện chúng bị hải tặc hãm hiếp. Chị đã vẽ tranh bằng những giọt nước mắt của học trò và của chính mình.

ann_phong_chay_-large-contentChạy, Acrylic. 6'X10'. Ann Phong.

Vẽ biển đã thành thói quen của Ann Phong. Ở bất kỳ bức tranh nào của chị, người xem đều dễ dàng thấy biển trong đó, dù chủ đề chẳng liên quan gì với biển, dù sắc màu của tranh là sắc màu của đất đá, là sắc màu của mặt trời mặt trăng. Những đường cong nhỏ, khệnh khạng, tung tóe là hình dạng của cơn sóng dữ đập vào trí não của chị. Sự dữ dội của biển nuốt chững bàn tay của người họa sĩ. Những chiếc thuyền nhỏ chệch choạc, mong manh bên cạnh những đợt sóng khổng lồ, những con người , những bàn tay chới với, những đôi chân trần buông thỏng diễn tả mạnh mẽ sự phá hủy của biển đối với con người. Ann Phong thường dùng gam màu đậm bên cạnh gam màu nhạt như muốn dẫn người xem thấy được sự tranh đấu sinh tử trong đời sống nghiệt ngã mà điển hình nhất là hành trình của những người “vượt biển”
Tranh của Ann Phong thường dày vì nhiều lớp. Chị giải thích: “ Hình ảnh cứ đến rồi đi trong tranh. Em không xắp xếp sẵn hình ảnh trên khung bố (có nghĩa là không vẽ nét rồi tô màu). Lúc vẽ nghĩ tới những gì thì vẽ thứ đó. Vẽ xong không ưa thì vẽ hình khác chồng lên trên và cứ thế mà sáng tác”. Sự giải thích của chị đưa chúng ta thêm một ý nghĩa về cuộc đời là lớp sơn mới hôm nay phủ chùm lên lớp màu cũ hôm qua chính là lớp bụi thời gian, chính là sóng sau xô sóng trước. Điều này giúp cho tôi giải thích được tại sao tôi chia sự sáng tác về biển của Ann Phong làm hai thời kỳ. Thời kỳ thứ nhất là từ khoảng 2006 trở về trước , thời kỳ thứ hai là từ 2007 đến hiện tại.


ann_phong_playground-large-contentPlayground. Mixed Media. 57X57.Ann Phong.

Tôi có cơ duyên xem tranh của Ann Phong hầu như hết tất cả những cuộc triển lãm của chị ở vùng Little Saigon. Từ 2006 trở về trước, ngắm tranh của chị , tôi không khỏi bàng hoàng vì sự dữ dội của từng bức tranh. Cảm giác nhức nhói , buốt cả tay chân làm tôi đôi khi không dám nhìn lâu vào tranh. Không gian tranh chật chội, nóng bức . Những đường cong , nhiều khi là gập gãy, những mảng bột màu nổi như một thách thức cho người xem. Chất Acrylic không bóng láng mà khô khốc, có lẽ là một dụng ý thêm cho sự thô nhám , tàn bạo trong tính chất sự việc mà tác giả nói đến. Nói chung, tranh của Ann Phong trong giai đoạn nầy thể hiện sự đối kháng quyết liệt của chị với hung thần biển. Tính chất Biểu Hiện (expression) rực sáng trong tranh.
Qua giai đoạn thứ hai (từ 2007 về sau) tranh của Ann Phong nhẹ nhàng ra. Điển hình là bức Playground. Mặc dù bức tranh này vẫn là những uất ức cho thân phận. Bố cục mở ( loại bố cục mà Ann Phong rất thường xử dụng) đẩy sự tưởng tượng của người xem đi xa hơn qua sự liên đới những hình tượng trong tranh. “Sân chơi” có thể là của bọn trẻ, có thể là của đội banh Cà na và cũng có thể là cuộc đời của một cô gái Việt trên vùng đất mới . Nhưng tổng thể của bức tranh là màu tươi, sắc sáng, nhân vật trong tranh nẩy lên mầm sống, hứa hẹn một sự thay đổi đầy sáng tạo.
Từ sự mâu thuẫn, dằn co giữa sợ hãi, phẩn nộ và yêu quí biển trong Ann Phong , đã phát sinh một ngả rẽ khác. Tranh của Ann Phong từ đây có thể nói rằng điềm đạm, sâu lắng . Những vệt cong của sóng thong thả hơn, mềm mại hơn làm người xem vừa thấy được sự thản nhiên cố hữu của nước, vừa thấy được sự bạo tàn của sóng. Những khối màu nổi không còn sự ngập ngừng mà măng muốt, kết nối được những tư tưởng của tác giả gửi gắm một cách liên tục. Biển của Ann Phong bây giờ trở nên thâm trầm, khó lường. Phần đe dọa , hung hãn đã biến thái theo độ dài sóng soải của ngọn sóng.
ann_phong_hop_nuoc_bien-large-contentHộp Nước Biển Mixed Media.40''X30",Ann Phong 2010.

Chị cứ vẽ biển và vẽ biển, phần yêu thích, sợ hãi hay thù hận biển, dành cho người xem, không dành lấy cho mình. Tâm trạng của Ann Phong đã lắng sâu xuống những lớp màu, giống như chị đang ở dưới đáy biển, tìm kiếm những gì thuộc về chị mà Thượng Đế đã ban phát, mặc cho vô số đợt sóng bạc triền miên vỗ trên đầu. Bức “ Hộp Nước Biển” (2010) thể hiện rõ nét sự thay đổi này. Bố cục của bức này vẫn là bố cục mở. Tác giả cắt đôi bề dày của biển, gộp loài cá lại như muốn bảo vệ chúng trước những bất trắc của biển. Những viên đá, sỏi từ lòng đáy biển như muốn thoát ra, tìm một nơi chốn yên bình. Chính những vật thể này đã làm cho bức họa trở nên sinh động . Biển đang di chuyển . Tự nó và, lăn quay. Ngắm nhìn bức tranh, khách xem dễ dàng bị cuốn hút , dễ dàng phiêu du trong biển cả của Ann Phong. Hình như thiền tính đang đâu đó trong tranh của chị. Cảm nhận như vậy, tôi nghĩ rằng mình đã mở được một cửa khác để bước chân vào thế giới tranh của Ann Phong.
Trong suốt 20 năm sinh hoạt trong bộ môn hội họa, Ann Phong thu hoạch một số thành công đáng kể. Chị có tranh được các trường đại học và gallery mua để trưng bày như: Đại học Fullerton, Đại học Cal Poly, Pomona. Queen Gallery ở Bangkok, Thái lan và nhiều gallery tư nhân treo tranh của chị. Xin mời khách yêu tranh vào web site của Ann Phong để thưởng lãm : www.annphongart.com.
11/11/11

Đã từ lâu, những gì Donald Trump nói, làm, hoặc tung ra trên Truth Social Media, đã không còn là một tuyên bố mang tính chuẩn mực cao nhất của quốc gia. Nó cũng không còn bao hàm những quyết định quan trọng mà người dân mong chờ sẽ mang đến một xã hội tốt đẹp hơn, an toàn hơn. Không phải những cận thần chung quanh Trump không nhận ra điều đó. Rõ nhất là “Thằng Ất” và “Thằng Giáp” – hai kẻ đã từng đưa ra lời chỉ trích mạnh mẽ thời chưa bước vào cửa quan. “Thằng Ất” JD Vance hồi năm 2016 đã nhắn tin cho một người bạn học cũ, gọi Trump là "Hitler của nước Mỹ.” Trong một bài viết đăng trên tờ The Atlantic vào năm 2016, Vance mô tả Trump như một thứ "’heroin’ văn hóa.”
Trong kho tàng ngụ ngôn Aesop có hai câu chuyện. Một chuyện kể về cậu bé chăn cừu thích lấy nỗi sợ của cả làng ra làm trò đùa. Cậu nhiều lần hét to “Sói! Sói!” để lừa người lớn chạy hộc tốc lên đồi, rồi bỏ về, bực bội vì bị lừa. Đến một ngày nọ, sói thật xuất hiện, cậu kêu cứu đến khản cổ mà không còn ai buồn chạy lên đồi cứu giúp, khiến đàn cừu của cậu bị sói vồ sạch. Chuyện thứ hai kể về một con sói thật kiên nhẫn. Ngày này qua ngày khác, nó lảng vảng đến gần đàn cừu. Lúc đầu, người chăn cừu cảnh giác, luôn tay xua đuổi nó. Nhưng sói chỉ đứng xa, trông hiền hòa, không vồ con nào. Lâu dần, chàng chăn cừu quen thuộc với sự hiện diện của Sói, cho đến khi bóng dáng con vật trở nên một phần của phong cảnh xung quanh đàn cừu. Tới một hôm bận việc, anh cả tin đến mức gửi luôn đàn cừu cho sói “trông hộ”. Tối về, chuồng chỉ còn vài con sót lại.
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.