Hôm nay,  

Đích Danh Thủ Phạm

02/12/201100:00:00(Xem: 10264)
Bùi Tín Viết Riêng Cho VOA, Thứ Tư, 30 Tháng 11 Năm 2011: Đích Danh Thủ Phạm

Bùi Tín
Dư luận trong nước, từ báo chí lề phải đến lề trái, từ trong Quốc hội đang họp đến các blogger tự do, đang bàn tán sâu rộng về vấn đề «tái cấu trúc nền kinh tế» đang đứng trước nhiều vấn đề hệ trọng, trao đổi ý kiến về «cải cách hệ thống», về «đổi mới đợt 2».
Cuộc thảo luận, tranh luận càng thêm sôi nổi khi các cơ quan thông tin quốc tế có uy tín báo động rằng hệ thống ngân hàng Việt Nam bị đánh giá tụt điểm, xuống mức thấp nhất, chạm đáy về tín nhiệm, khi chỉ số chứng khoán VN Index từng lên cao tới mức 650, tụt dần xuống dưới 500, nay xuống dưới 400, mấy ngày nay chỉ còn 380 và còn xuống nữa, chưa biết đến mức nào.
Tình hình thêm báo động đỏ khi tổ chức tài chính Anh quốc Elliot lên tiếng kiện Tổng công ty Vinashin cùng 20 công ty vệ tinh về những món nợ khổng lồ lên đến 600 triệu đôla đã quá hạn. Hiện Vinashin mắc nợ đến 4 tỷ 4 đôla các chủ nợ quốc tế. Đây là trái bom nổ chậm khủng khiếp cho nhà nước vì Vinashin là một Doanh nghiệp Nhà nước - DNNN - được nhà nước bảo hộ theo luật. Rồi đây, nhà nước VN có thể bị xiết nợ dưới nhiều hình thức.
Ngoài xã hội, cuộc sống càng thêm bức bách, gay go. Giá cả tiêu dùng tăng nhanh, đồng tiền mất giá, tham nhũng lan tràn theo cấp độ nhân, dân tình phẫn nộ, tuổi trẻ nhắc đến câu nhận định của Hưng Đạo đại vương về thời nhiễu nhương: “của kho có hạn, lòng tham không cùng, khác nào đem thịt mà nuôi hổ đói, giữ sao cho khỏi tai vạ về sau”.
Biện pháp cấp cứu ra sao đây? Vẫn chỉ là những bài thuốc xoa bóp, chữa cảm cúm. Tiết kiệm trong ngân sách, tận thu thuế, đình hoãn một số công trình lớn, điều chỉnh tý chút tỷ giá tiền Đồng, phát hành thêm tiền mặt và công trái, hạ lãi suất thực, vay nợ mới để trả nợ cũ với lãi xuất cao. Toàn là những biện phát chữa cháy chắp vá tạm thời.
Tất cả những lời yêu cầu, đề nghị, kiến nghị khẩn thiết, có thiện chí từ trong nước, từ cộng đồng ở ngoài nước, từ các chuyên gia quốc tế về cải tổ đồng bộ, toàn diện – chính trị, kinh tế, tài chính, văn hóa, thay đổi hệ thống, từ bỏ độc quyền về mọi mặt… đều bị bỏ ngoài tai của lãnh đạo, dù cho trong thâm tâm, về lý lẽ, họ không thể bác bỏ được. Họ cũng biết suy luận, hiểu rõ vấn đề, nhưng lòng tham làm họ mù quáng, không chấp nhận kế hay.
Mới đây, tôi có dịp nói chuyện với một số trí thức ở Đông Đức cũ, Ba Lan và Czech, các bạn có nhiều ý kiến bổ ích về thời kỳ hậu Cộng sản. Họ cho rằng ở Việt Nam đang hình thành một “chủ nghĩa tư bản lộn ngược”, trái quy luật, một loại hình đặc biệt chưa có tiền lệ, chưa có tên gọi trong sách giáo khoa.
Chủ nghĩa tư bản ra đời sau khi loài người trải qua các chế độ người nguyên thủy, kinh tế tự nhiên, hái lượm, săn bắt, rồi chế độ trao đổi hàng hóa, dẫn đến kinh tế tiền tệ, thủ công nghiệp, công nghiệp… Chủ nghĩa tư bản ra đời từ thấp lên cao, qua quá trình công nghiệp hóa, cơ khí hóa, điện khí hóa, điện tử hóa, đồng thời tư bản tích tụ dần, tập trung thành các công ty, đại công ty chuyên ngành, đa ngành, thành những đàn cá mập- độc quyền-đầu cơ - lũng đoạn, tiêu biểu là nhóm tỷ phú Phố Wall.
Tư bản tập trung đến đâu cũng vẫn có nền tảng là vô vàn nhà kinh doanh nhỏ và vừa, chiếm số đông, tạo nên do đông đảo cử tri có quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế trước pháp luật, hạn chế tệ độc quyền, bất bình đẳng trong xã hội, điều chỉnh mọi lạm dụng bất công.
Trước đây, dưới thời chủ nghĩa xã hội hiện thực theo mô hình Mác-xít, hình thức sở hữu tư nhân, kinh doanh tư nhân bị bóp chết triệt để, thay vào đó là độc quyền của sở hữu quốc doanh.
Bước vào thời kỳ hậu CS ở VN, do chưa hẳn là hậu CS đúng nghĩa, do đảng CS vẫn lãnh đạo với độc quyền chính trị - kinh tế - tài chính, nên đảng CS cho phép chủ nghĩa tư bản hồi sinh, nhưng kinh tế tư nhân bị chèn ép nặng nề, các nhà kinh doanh nhỏ và vừa chưa kịp sinh sôi nảy nở, cạnh tranh đua tài thì đã bị các tập đoàn nhà nước lấn át bóp mũi không thương tiếc.
Điều trớ trêu này giải thích vì sao chỉ trong 9 tháng đầu năm nay đã có 50 ngàn cơ sở kinh doanh cá thể, nhỏ và vừa bị phá sản. Nó đã bị đàn cá mập DNNN ăn tươi nuốt sống rồi.
Chính chế độ hậu CS kiểu ma giáo sanh ra DNNN một cách duy ý chí, không theo quy luật tự nhiên của quá trình tích tụ, tập trung tư bản cho nên các DNNN đều là những quái thai, những quái vật của nền kinh tế quốc gia. DNNN chứa đầy bệnh hoạn, toàn là bệnh nan y kiểu ung thư, đang là tai họa cho chính chế độ độc đoán là người khai sinh ra nó.
Cái hư hỏng, xấu xa của DNNN nằm ngay ở bản chất của nó, do được xác định là «nòng cốt», đóng vai trò «chủ đạo» của nền kinh tế, được nuông chiều quá mức, được nhà nước tha hồ cấp vốn, được Ngân hàng Nhà nước «ưu đãi cho vay với lãi xuất thấp», được «ưu tiên cấp vốn» lớn từ nguồn viện trợ ODA cũng như đầu tư từ nước ngoài FDI.

Tệ hại hơn nữa là các quan chức quản lý DNNN như tổng giám đốc tập đoàn, tổng công ty, công ty, hội đồng quản trị… không phải sàng lọc tuyển mộ từ những nhà kinh doanh tài ba, am hiểu luật pháp, thị trường, có năng khiếu làm ăn bén nhạy đúng luật, mà lại do bộ máy tổ chức của đảng CS chỉ định theo quan hệ phe nhóm, cánh hẩu, kém tài, cậy thế được nuông chiều, lại là những kẻ thành đạt do phe cánh nên tha hồ kiêu ngạo, tham nhũng. Họ mặc sức dở trò ma giáo, mánh mung, gian lận, lập hóa đơn giả, biên bản giả, đàm phán giả, 2 hệ thống hóa đơn, kế toán và thanh toàn, lãi thật thành lỗ giả, đã có nhà nước bù lỗ từ ngân sách, tước đoạt 2 lần tài sản của nhân dân.
Vinashin là như thế; tập đoàn dầu khí Petro VN là như thế ; tập đoàn than khoáng sản TKV là như thế; tập đoàn điện EVN cũng là như thế. Chỉ riêng 4 con cá mập CS này nắm trọn ngành đóng tàu thủy, khai thác dầu và khí, khai thác mỏ các loại, quản lý ngành điện ở nước ta; chúng có công đến đâu và có tội lớn đến mức nào, là một vấn đề cần làm rõ. Ban Kiểm tra Trung uơng Đảng, Tổng thanh tra chính phủ, Ban Kiểm toán nhà nước đều bất lực, vô dụng trong đánh giá vì đều là do đảng nắm, chẳng lẽ đảng lại tự đánh mình, tự phạt mình, tự bôi nhọ mình. Huống gì hàng tỷ, hàng chục tỷ đôla đen tối móc túi của ngân sách và vốn đầu tư ấy đã được phân chia lại theo kiểu phong bì, lại quả, trợ cấp đời sống, tiền thưởng khá là rộng rãi cho các vị chức quyền nói trên rất chu đáo rồi.
Vẫn chưa hết chuyện. Thời Thủ tướng Võ Văn Kiệt, đã có quyết định các bộ của chính phủ sẽ không trực tiếp điều hành các tổng công ty và công ty quốc doanh. Các bộ chỉ quản lý hành chính, quản lý theo các văn bản luật pháp, không trực tiếp dính đến kinh doanh, như là ở mọi nước dân chủ khác. Thế nhưng không ai chấp hành. Các bộ vẫn kinh doanh để kiếm lợi, vừa thổi còi vừa dá bóng, còn lập ra thêm nhiều công ty để kinh doanh. Các bộ trưởng và thứ trưởng còn kiêm nhiệm làm tổng giám đốc, phó tổng giám đốc, tham gia hội đồng quản trị, ăn luôn 2, 3, 4 mức lương, chưa kể hoa hồng, lại quả, tiền thưởng, chia lãi… Có nhà báo ví von, tiền của nước của dân ào ào đổ vào túi các quan chức chính phủ như nước sông Đà mùa nước lũ. Tất cả giàu sụ, béo tròn, ba đời ăn không hết.
Dân đen đói nghèo, các nhà kinh doanh nhỏ và vừa bị kềm hãm, hiếp đáp, phá sản, hố ngăn cách giàu nghèo toang hoác một cách kinh hoàng. Các nhà từng tự hào là vô sản trở thành đại gia, đại tư bản, đại điền chủ, đại chứng khoán, đại doanh gia tuốt luốt. Các tập đoàn kinh tế còn tha hồ sổ lồng, kinh doanh trái khoáy, dưới danh hiệu kinh doanh tổng hợp tư do, các tập đoàn đóng tàu, dầu khí, điện lực kinh doanh luôn đất cát, chứng khoán, ngân hàng, xuất nhập khẩu, xây dựng, du lịch, nhà nghỉ…cũng vì nhà nước là ta, đảng là ta, DNNN là ta, độc quyền chính trị, độc quyền kinh tế là ta, luật là ta.
Xét cho cùng, thủ phạm của bất công tràn lan, của tham nhũng bất trị, thủ phạm của lạc hậu triền miên thê thảm, nguồn cơn của tâm lý chán ngán, thất vọng của đông đảo nhân dân chính là DNNN mang tính đặc thù Việt Nam, theo mô hình của Trung Quốc, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế nhà nước có quyền lực vô hạn, mang bản chất lũng đoạn của đàn cá mập tỷ phú lộng quyền, nuốt chửng vô vàn công ty nhỏ và vừa của tư nhân không quyền thế.
Các chế độ hậu Cộng sản ở Đông Âu như Đông Đức, Ba Lan, Hungary, Bulgaria, Czech…đã vĩnh biệt chủ nghĩa Mác - Lênin, thực hiện dân chủ đa đảng, đa thành phần kinh tế, thực hiện tự do chính trị, tự do kinh tế và kinh doanh thật sự theo luật pháp, nên phát triển có cạnh tranh công bằng, có kiểm tra, thanh tra, kiểm soát công khai nghiêm ngặt, có tự do ngôn luận, báo chí, tính công khai minh bạch được biểu hiện rõ ràng. Họ cũng có những DNNN nhưng tách khỏi hệ thống hành pháp, khu vực tư bản tư nhân nhỏ và vừa của họ phát triển mạnh mẽ làm nền tảng cho sự phát triển hài hòa, phồn vinh chia cho toàn xã hội. Tuy có nhiều khó khăn, nhưng sự phát triển hợp quy luật, mang tính vững bền, ổn định.
Một xã hội bất công tràn lan và chồng chất không thể ổn định về tinh thần và chính trị.
DNNN là đích danh thủ phạm của mọi điều ngang trái cơ bản ở nước ta. Bất mãn xã hội và bùng nổ giận dữ của dân chúng lương thiện bắt nguồn từ đó. Căn bệnh ung thư về kinh tế từ đó mà ra. Thủ phạm gốc gác chính là chế độ độc đảng đã hoàn toàn lỗi thời của đảng CS Việt Nam. Sự loại bỏ mọi hình thức độc quyền đảng trị là cấp bách. Mùa Xuân Bắc Phi và Trung Đông khẳng định thêm yêu cầu cấp bách ấy.
Cám ơn các nhà trí thức Đức, Ba Lan và Czech đã gợi ý để cho mọi người nhìn rõ cái chế độ kinh tế bệnh hoạn, tiêu biểu là các DNNN độc quyền lũng đoạn tham nhũng do đảng CS vội vã thai nghén ra trong thời kỳ hậu Cộng sản nửa dơi nửa chuột, kiểu kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Bùi Tín

Đã từ lâu, những gì Donald Trump nói, làm, hoặc tung ra trên Truth Social Media, đã không còn là một tuyên bố mang tính chuẩn mực cao nhất của quốc gia. Nó cũng không còn bao hàm những quyết định quan trọng mà người dân mong chờ sẽ mang đến một xã hội tốt đẹp hơn, an toàn hơn. Không phải những cận thần chung quanh Trump không nhận ra điều đó. Rõ nhất là “Thằng Ất” và “Thằng Giáp” – hai kẻ đã từng đưa ra lời chỉ trích mạnh mẽ thời chưa bước vào cửa quan. “Thằng Ất” JD Vance hồi năm 2016 đã nhắn tin cho một người bạn học cũ, gọi Trump là "Hitler của nước Mỹ.” Trong một bài viết đăng trên tờ The Atlantic vào năm 2016, Vance mô tả Trump như một thứ "’heroin’ văn hóa.”
Trong kho tàng ngụ ngôn Aesop có hai câu chuyện. Một chuyện kể về cậu bé chăn cừu thích lấy nỗi sợ của cả làng ra làm trò đùa. Cậu nhiều lần hét to “Sói! Sói!” để lừa người lớn chạy hộc tốc lên đồi, rồi bỏ về, bực bội vì bị lừa. Đến một ngày nọ, sói thật xuất hiện, cậu kêu cứu đến khản cổ mà không còn ai buồn chạy lên đồi cứu giúp, khiến đàn cừu của cậu bị sói vồ sạch. Chuyện thứ hai kể về một con sói thật kiên nhẫn. Ngày này qua ngày khác, nó lảng vảng đến gần đàn cừu. Lúc đầu, người chăn cừu cảnh giác, luôn tay xua đuổi nó. Nhưng sói chỉ đứng xa, trông hiền hòa, không vồ con nào. Lâu dần, chàng chăn cừu quen thuộc với sự hiện diện của Sói, cho đến khi bóng dáng con vật trở nên một phần của phong cảnh xung quanh đàn cừu. Tới một hôm bận việc, anh cả tin đến mức gửi luôn đàn cừu cho sói “trông hộ”. Tối về, chuồng chỉ còn vài con sót lại.
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.