Hôm nay,  

Mở Mắt Vãng Sinh

16/01/201200:00:00(Xem: 9769)
Mở Mắt Vãng Sinh

Nguyễn thị Mắt Nâu
Trong một sát na, trên quả địa cầu có biết bao em bé lọt lòng, mở mắt vào đời, tức là nhập thế.
Và cũng trong một sát na tương tự, lại biết bao người nhắm mắt giã từ dương thế, tức lìa khỏi trần gian.
Khi một kẻ ra đi, người ta khấn nguyện và đưa tiễn nhau bằng câu “Vãng sanh cực lạc”, tức là cầu chúc người vừa nhắm mắt (quá vãng) đuợc đến một khung trời hoan lạc, bình an, hạnh phúc. Tóm lại là sẽ về nơi không còn khổ đau, không còn nước mắt.
Theo lời Phật trong kinh Bát nhã “Sinh tử là chân lý bất biến”, nghĩa là có ngày sinh ra, là có ngày chết đi, chẳng một nhân vật nào có thể thoát ra khỏi chân lý bất di bất dịch này. Cái chết vừa xảy ra là tiếp nối của cái sống vừa chấm dứt, chỉ là thay đổi hình dạng. Cho nên sống chết là MỘT, một tuơng giao liên hoàn tuyệt đối không thể phân hai.
Kinh Phật dạy thế , con người đọc kinh cũng biết là như thế. Nhưng biết là để biết, chứ con người vẫn chỉ loanh quanh trong mớ lý thuyết, để không vượt được chính mình. Mặc cho bản ngã đầy tham lam dục vọng lôi cuốn và thao túng luơng tri trong thói quen tham ái, sân si, bi hận, quên mất tu tập thực hành lời kinh vàng của Phật, trong nỗi u si tăm tối não nề… Từ những đó, kéo theo muôn vàn đau thuơng nước mắt.
Người ta khóc cho tình yêu vuột mất… tiền bạc ra đi… xa lìa con cháu… sự nghiệp tan tành… công danh trắc trở… tranh đua lợi lộc… giành giựt bon chen… hơn thua quyền lực, v.v… Và người ta quên hẳn rằng tất tất cả chỉ là sự trả vay nhau trong vòng sinh-tử. Mà đã là trả vay nhau, thì thương tiếc, than khóc, vật vã đau khổ chính là hành động đem thân đi than vay khóc muớn trong cảnh đời phù phiếm nhân tình, phù du nhân thế !
Một cuộc tử sinh xoay quanh mớ hành trang nghiệp dĩ lôi thôi bề bộn, lộn xộn lung tung. Nếu chúng ta xem nặng, thì sẽ cực kỳ đau khổ. Còn nếu biết xem nhẹ, biết gạt ra khỏi đầu mọi lẽ thường hằng - Tất cả sẽ là không. Không chấp trụ vào bất cứ điều gì, không cho mọi điều là thật, tức khắc mọi thứ xung quanh sẽ biến thành đồ giả tạm, chúng ta sẽ không phí công tiếc nuối và chẳng phí thì giờ để than vay khóc muớn cho những giả trá, mông lung viễn ảo.
Tâm mở rộng, mọi chuyện sẽ trở thành bé nhỏ. Ngược lại tâm ta nhỏ hẹp, sẽ thấy chuyện gì cũng lớn, quan trọng và ghê gớm kinh hoàng… Chính cái vọng tâm kinh hoàng đen tối này, dẫn đưa tâm hồn đến ngõ cụt đầy bi thương khốn khổ.
Trong một cái duyên hạnh ngộ bất ngờ, tại một lớp học thể dục dưõng sinh , tôi may mắn đứng sau lưng một phụ nữ, chị mặc chiếc aó thung màu xanh thẫm da trời, sau lưng áo có hai dòng chữ màu trắng, nét chữ thanh, bay bướm, hai dòng vỏn vẹn bốn chữ ngắn ngủi như sau:
“Tâm lớn/chuyện nhỏ”. 
“Tâm nhỏ/chuyện lớn”.
Bốn chữ này đã đập vào mắt tôi trong một buổi sáng trời trong, nắng đẹp.

Tâm hồn tôi khoảnh khắc bâng khuâng và sau đó lâng lâng như tỉnh một cơn mê lãng đãng vô thường.
Cảnh sắc chung quanh hôm đó bỗng trở nên dịu dàng hơn, mọi học viên đồng lớp hình như mở lòng khoan dung từ ái với nhau hơn.
Tôi mang mang cảm giác như vừa được khai mở tâm linh nhanh chóng bất ngờ. Kết hợp với thuyết “Tự tại Tâm”, và giáo lý “Phật cũng Tại Tâm”, tôi bỗng chốc nắm bắt một chân lý vô cùng vi diệu và cực kỳ đơn giản – Cái gì cũng ở tại tâm mình. Tạo nghiệp lành hay nghiệp dữ cũng ở tại cái tâm. Chuyện lớn hay nhỏ cũng ở tại nơi tâm….
Mà căn cơ nghiệp quả là quyền lưc hướng dẫn đời của một con người, như trong cuốn sách của sư cô Thanh Tịnh Liên, thiền viện Sùng Nghiêm đã viết, cô chứng minh bằng lời kinh rằng: “Quyền lưc của con người thật là mãnh liệt và ghê gớm, nó quyết định vận mệnh con người: sướng hay khổ, giàu hay nghèo, đau buồn hay hạnh phúc…” Sự thể đích thực là như thế -
“Có sinh là có tử” - “Sống chết là một, chẳng là hai” – “ Sống là thể hiện cái đang chết” - “Cáí đang chết là thể hiện cái đang sống” …
Vậy thì, những người con của Phật, đâu cần chờ khi nhắm mắt lìa đời mới vãng sinh!? Nếu chúng ta sáng suốt, gạt bỏ lòng tham, không chấp ngã, không chấp mọi thứ ở đời là thật, mọi thứ không phải của mình, tất cả chỉ là phương tiện, là mớ hành trang tạm sử dụng trong cõi đời vốn dĩ là giả tạm… Đừng chấp giữ khư khư của gỉả, thì chẳng sinh lòng khổ đau điên đảo khi mất nó. Không tham đắm, chắc chắn chúng ta sẽ nhẹ nhàng an lạc ngay trong cõi sa bà, khi đang còn mở mắt ở thế gian.
Được như thế, đó là chúng ta lập tức vãng sinh ngay khi đang hiện sống, chứ đâu cần chờ sau khi chết mới vãng sinh!! 
Cuốn sách “Tại sao không mở mắt vãng sinh khi đang hiện sống”? của sư Thanh Tịnh Liên Thích nữ Chân Thiền, thiền viện Sùng Nghiêm phát hành đầu xuân Nhâm Thìn 2012 – Tựa đề sách đặt dưới dạng thức như là một câu hỏi, nội dung cuốn sách chính là lời giải đáp, qua sự dẫn dắt theo từng chương, từng đề mục.
Đọc sách này, để thấu triệt hình tuớng là bát nhã tâm. Vô tướng là tâm trí bát nhã. Sau đó dùng trí tuệ bát nhã và chân tâm bát nhã là phương tiện, làm mỏng đi sự vô minh tăm tối, thông suốt vũ trụ vạn vật huyễn hóa qua Giới - Định - Tuệ, vượt ra ngoài : hình tướng và vô tướng, không và có, có và không. Sắc sắc không không. Tính không rời tướng, tướng không rời tính. Thân tâm là một. Âm thế duơng thế chẳng là hai…. Thì ra chân lý là: Đau khổ hay địa ngục là ở đây. Mà thiên đàng, cực lạc cũng ở ngay nơi đây.
Một tác phẩm đọc để tự rèn luyện thân tâm, ngõ hầu: Thân tâm thường lạc - Và nhất là có ý thức để được Mở Mắt Vãng Sinh khi đang hiện sống, ngay tại thế giới này.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật 
Mắt Nâu 
December 2011

Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.