Hôm nay,  

Benghazi Và Tương Lai Bà Hillary

01/01/201300:00:00(Xem: 10768)
...Hillary quyết định ra tranh cử 4 năm nữa thì coi như đã nắm chắc ít ra là 70% hy vọng thắng...

Cuối cùng thì Ủy Ban Đặc Nhiệm Điều Tra về vụ Benghazi đã ra được phúc trình. Như thiên hạ đều đã biết, ngay sau khi khủng bố tấn công tòa lãnh sự Mỹ tại Benghazi bên xứ Libya, chính quyền Obama đã lúng túng thay đổi như chong chóng các thông báo về vụ tấn công này. Tệ hơn nữa, những thay đổi liên tục đó cũng cho thấy các báo cáo của Nhà Nước không thuận chiều xuôi gió với những tin báo chí thu thập được.

Đưa đến tình trạng người ta nghi ngờ chính quyền Obama đang cố tình dấu sự thật, có phần bất lợi cho cuộc bầu cử tổng thống. Chính quyền Obama đành thành lập một ủy ban đặc nhiệm để điều tra, với mục đích trấn an dư luận, nhưng dĩ nhiên kết quả điều tra không thể nào công bố kịp trước ngày bầu cử.

Bây giờ, gần hai tháng sau ngày bầu cử, kết quả cuộc điều tra mới được công bố trọn vẹn.

Cuộc điều tra được tiến hành bởi cựu đại sứ Thomas Pickering và cựu đô đốc Mike Mullen, nguyên Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân Hoa Kỳ.

Báo cáo cuối cùng là một bản án nặng nề kết tội những sai lầm và thiếu sót của Bộ Ngoại Giao Mỹ, đồng thời cũng là một chỉ trích đối với chính quyền Libya đã không chu toàn bổn phận quốc tế bảo vệ an ninh các cơ sở ngoại giao đoàn. Cả hai phiá đã không có những biện pháp an ninh thích ứng cho tình hình rối loạn của Libya khi đó, nhất là tại Libya, là nơi mà rất nhiều tổ chức võ trang vẫn còn giữ vũ khí và xưng hùng xưng bá tại những lãnh địa của mình. Tổng thống Libya cũng chẳng có nhiều quyền hơn thị trưởng Tripoli, chưa với tay tới Benghazi chứ đừng nói tới các nơi xa xôi khác. Nguy hiểm hơn nữa, trong các nhóm đó, có cả những nhóm có liên hệ “anh em” với tổ chức Al Qaeda.

Đây là những sai lầm và thiếu sót không phải có tính chi tiết cục bộ, mà là những sai lầm và thiếu sót về cả hệ thống bảo vệ an ninh các cơ sở ngoại giao Mỹ trên thế giới. Từ việc phòng ngừa tấn công, cho đến cách phản ứng sau khi bị tấn công. Tất cả đều có những lỗ hổng to lớn như thiếu nhân sự, thiếu phương tiện truyền tin, thiếu tin tức tình báo, thiếu phối hợp chỉ huy, và nhất là thiếu tiền. Bộ Ngoại Giao cũng bị chỉ trích đã lơ là không để ý đến những đe dọa mà tòa đại sứ và tòa lãnh sự Mỹ tại Libya đã nhận được liên tục từ cả năm qua, kể cả việc tòa lãnh sự tại Benghazi đã bị khủng bố tấn công hai lần, hồi tháng Tư và tháng Sáu trước đó, cũng như đã không đáp ứng yêu cầu củng cố an ninh của đại sứ Mỹ tại đây.

Ủy ban đã đưa ra 29 đề nghị cải tổ và bà ngoại trưởng Hillary Clinton đã tuyên bố chấp nhận tất cả các đề nghị đó. Một thứ trưởng đặc trách vấn đề an ninh của bộ Ngoại Giao từ chức, và ba viên chức trung cấp bị cho về vườn. Những người có trách nhiệm lớn nhất, bắt đầu từ TT Obama đến Ngoại Trưởng Hillary, Giám Đốc An Ninh Quốc Gia, Giám Đốc CIA, tất cả đều bình yên vô sự, chỉ tay xuống phiá dưới. Khác xa cái xứ Nhật chẳng hạn, khi xe lửa đụng nhau thì bộ trưởng Giao Thông từ chức ngay, dù chẳng liên hệ xa gần gì đến chuyện lái xe lửa.

Kết luận của bản báo cáo đã là một ngạc nhiên cho người dân các thủ đô và thành phố lớn trên khắp thế giới, nơi có những tòa đại sứ và tòa lãnh sự Mỹ. Ai cũng biết những nơi này là những pháo đài cực kỳ đồ sộ, kiên cố, không thua gì các dinh tổng thống địa phương, có khi còn hơn nữa. Chung quanh các cơ sở là những khối bê-tông khổng lồ chắn ngang qua lại, hàng hàng lớp lớp tường cao, giây kẽm gai, đèn sáng rực và ống kính thu hình thường trực suốt ngày đêm. Cửa vào thì hai ba lớp cản sắt cao cả thước, chỉ hạ xuống dưới mặt đất để xe đi qua sau khi đã bị khám xét kỹ và dò bom dưới gầm xe. Vào trong là phải qua đủ kiểu máy rà, và những thủ tục xét hỏi hết sức khó khăn, rườm rà.

Vậy mà bây giờ lại bị chê là thiếu sót trầm trọng.

Báo cáo này một phần nói lên sự thật là có thiếu sót, nhưng thực ra cũng được viết đúng theo mô thức làm việc của hành chánh Mỹ, sau khi một chuyện không may đã xẩy ra thì thế nào cũng tìm ra được cả ngàn lý lẽ, lời giải thích và đề nghị mới, khiến thủ tục lại càng rườm rà hơn, trong khi vẫn chẳng có gì bảo đảm là hoàn hảo hơn.

Đi xa hơn vấn đề phương thức bảo vệ an ninh là vấn đề chính trị. Báo cáo xác nhận một điểm mà ai cũng biết ngay từ đầu trong khi chính quyền Obama chối lên chối xuống: không có một cuộc biểu tình nào của quần chúng chống Mỹ vì bị kích động bởi một khúc phim xúc phạm đến Tiên Tri Mohamed, mà chỉ là một cuộc tấn công võ trang có kế hoạch quy mô, tính toán trước của một nhóm có liên hệ với Al Qaeda. Toàn bộ câu chuyện quần chúng biểu tình tự phát đã được dựng đứng lên để bao che cho cuộc tấn công của khủng bố. Và điều quan trọng hơn là chính quyền Obama, từ tổng thống đến bà Ngoại trưởng đã biết ngay từ đầu là đây là cuộc tấn công của khủng bố, chứ không có biểu tình tự phát của quần chúng gì hết. Điều này, chính tướng Petraeus, cựu Giám Đốc CIA cũng đã công khai xác nhận.

Chính quyền Obama trong hai tuần đầu cố gắng nhắm mắt –hay nói cho đúng hơn, tìm cách bịt mắt dân chúng- phủ nhận chuyện khủng bố tấn công. Chỉ vì lý do giản dị là trước đó không lâu, một trong những chủ đề chính của Đại Hội Đảng Dân Chủ tái cử TT Obama là việc ông đã thành công giết được Bin Laden đưa đến tình trạng gần như xóa xổ Al Qaeda và các nhóm khủng bố liên hệ, khiến cho nước Mỹ an toàn hơn nhiều. Bây giờ mà nhìn nhận vụ Benghazi là một cuộc tấn công của khủng bố Al Qaeda thì sẽ hoá giải hết thành quả chống khủng bố của TT Obama. Nó cũng nêu lên vấn đề việc can dự võ trang vào Libya để lật đổ Khaddafi có chính đáng hay không và có phải đã thất bại hay không. Do đó, bằng mọi giá phải khỏa lấp, đợi đến sau bầu cử rồi công bố sự thật cũng không sao.

Phúc trình nêu ra nhiều thiếu sót và sai lầm, nhưng thực ra cũng vẫn chưa đầy đủ.

Có vấn đề khá lạ lùng mà phúc trình không đề cập trong khi báo chí “phe ta” cũng tránh đặt câu hỏi. Cuộc tấn công đã xẩy ra đúng lúc đại sứ Mỹ đang ở trong tòa lãnh sự tại Benghazi, thay vì ở trong tòa đại sứ tại thủ đô Tripoli. Kết quả của may mắn trùng hợp ngẫu nhiên cho quân khủng bố? Hay chúng đã có thông tin nội bộ, biết được ông đại sứ sẽ có mặt đúng lúc đó tại tòa lãnh sự?

Một vấn đề quan trọng hơn nữa là tại sao Bộ Tư lệnh quân sự Trung Đông của Mỹ đặt tại Ý Đại Lợi, cách đó hai tiếng đồng hồ máy bay, đã được tòa lãnh sự cầu cứu khi mới bị tấn công, nhưng được lệnh án binh bất động. Ai ra lệnh đó, và tại sao lại không cứu? Người ta nghĩ rằng quyết định án binh bất động chỉ có thể đến từ cấp lãnh đạo cao nhất tại Hoa Thịnh Đốn, như Tổng Tham Mưu Trưởng hay Cố Vấn An Ninh, hay Tổng Thống. Phúc trình chỉ nói ngắn gọn “không đủ thời giờ để huy động một lực lượng quân sự đến cứu nguy”. Cuộc tấn công, đốt phá tòa lãnh sự kéo dài gần bẩy tiếng đồng hồ mà vẫn chưa đủ thời giờ để phản lực Mỹ cất cánh?

Báo cáo cũng không nêu rõ ai là người đã “sáng chế” ra câu chuyện “quần chúng biểu tình tự phát” trong khi chẳng có một bóng người nào biểu tình hết.

Cuối cùng thì báo cáo cũng không đả động gì đến vai trò của cấp lãnh đạo khi biến cố xẩy ra, người ta không rõ tổng thống, ngoại trưởng, cố vấn an ninh, tổng giám đốc an ninh, giám đốc CIA, tư lệnh chiến trường Trung Đông, … họ đã làm gì khi xẩy ra chuyện, ai đã được thông báo và ai đã lấy quyết định gì. Chính quyền Obama đã có thái độ và biện pháp gì đối với sự hiện diện của lực lượng võ trang Al Qaeda tại Libya?

Dù sao thì ta cũng thấy vụ Benghazi đã biến bà Susan Rice thành nạn nhân đầu tiên. Bà là Đại Sứ tại Liên Hiệp Quốc, là ứng viên số một của TT Obama để thay thế bà Hillary làm Ngoại trưởng đầu năm tới khi bà Hillary nghỉ làm. Việc bà Rice ra trước truyền hình khẳng định đây chỉ là chuyện rối loạn trật tự từ biểu tình tự phát của quần chúng chống lại một cuốn phim đã khiến bà hoàn toàn mất uy tín và mất sự tín nhiệm của một số lớn thượng nghị sĩ, là những người sẽ phê duyệt việc bổ nhiệm bà là Ngoại Trưởng, và hứa hẹn sẽ biến việc chất vấn bà trước Thượng Viện thành một diễn đàn để phe Cộng Hòa tố khổ TT Obama. Bà Rice trở thành vật tế thần đầu tiên, phải rút lui, không nhận ra làm ngoại trưởng nữa.

Báo chí phe ta đã làm rầm rộ chuyện bà Rice, mô tả bà như là nạn nhân của mấy ông da trắng kỳ thị da màu và kỳ thị phụ nữ. Dĩ nhiên là khối truyền thông này “quên” không nhắc lại là trước đây không lâu đã có một bà cũng tên là Rice, đa đen, đã được TT Bush và khối Cộng Hòa bổ nhiệm làm Ngoại Trưởng. Đó là cựu ngoại trưởng Condoleezza Rice. Trong chính trị, sự thật không bao giờ quan trọng lắm.

Nhiều người cũng đã nhận xét bà Susan Rice đáng thương hơn đáng ghét, vì bà đã hy sinh làm con thiêu thân cho TT Obama mấy ngày trước bầu cử, ra trước truyền hình lập lại những ngụy biện của chính quyền Obama trong khi không rõ thực hư vấn đề. Làm người ta nhớ đến cựu Ngoại Trưởng Colin Powell ra trước Liên Hiệp Quốc trưng bày bằng chứng Saddam Hussein có vũ khí giết người tập thể hồi năm 2003.

Nạn nhân thứ hai, quan trọng hơn nhiều, chính là bà Ngoại Trưởng Hillary. Ngay sau khi phúc trình được công bố, thượng viện đã quyết định mời bà ra điều trần. Nhưng cho đến nay bà vẫn chưa ra được, vì lý do “sức khỏe”. Bà bị bất ngờ té xỉu vì đau bụng gì đó và đang tịnh dưỡng, chưa biết khi nào mới bình phục và cũng chưa biết sau khi bình phục, bà sẽ ra điều trần hay không nữa. Có tin bà đã cố tình kiếm cớ “cáo ốm chính trị” tránh điều trần ngay bây giờ khi “củ khoai tây còn đang nóng hổi”, và muốn chờ cho câu chuyện nguội bớt rồi mới ra điều trần.

Dù cho điều trần hay không thì uy tín bà Hillary đã lãnh một đòn khá nặng. Truyền thông phe ta từ mấy năm nay đã không ngừng bơm bà Hillary lên như là một Ngoại Trưởng thành công nhất, giỏi nhất từ xưa đến nay, đã đi từ thành công này đến thành tựu khác. Một phần vì bà cũng là cấp tiến, “phe ta”, phần khác là vì mặc cảm tội lỗi của truyền thông dòng chính đã hậu thuẫn Obama khiến bà bị rớt đài năm 2008. Chuyện đánh bóng tối đa này có mục đích rõ rệt là tạ lỗi, chuẩn bị giúp bà ra tranh cử tổng thống năm 2016.

Chuyện bà Hillary có thực sự là ngoại trưởng giỏi nhất hay không là chuyện có thể tranh luận dài dài. Không ai chối cãi bà đã là một hình ảnh rất được cảm tình của thế giới, đi đâu cũng được đón tiếp nồng nhiệt, tuy thỉnh thoảng cũng bị ăn dép, ăn trứng như tại Pakistan gần đây. Tuy nhiên, đi xa hơn những thành tựu về cảm tình cá nhân thì thực ra cũng không ai thấy những thay đổi gì ghê gớm trong tư thế chính trị của Mỹ trên thế giới.

Quan hệ với các đồng minh truyền thống như Âu Châu, Canada, Úc Châu, Do Thái, và Nhật Bản, cũng như với các nước gọi là “ đối tác chiến lược” như Nga và Trung Cộng thì rõ ràng là không có gì tốt đẹp, xấu hơn thời Bush hay thời Clinton nhiều. TT Putin của Nga vẫn bù đầu lo cũng cố quyền hành cá nhân và tái lập liên minh Đông Âu thời Sô Viết trước đây, trong khi Trung Cộng vẫn dùng đồng Nhân Dân Tệ chi phối kinh tế thế giới và vẫn thè lưỡi bò xuống phía Biển Đông mà bao nhiêu chiến hạm, tầu ngầm và hàng không mẫu hạm của Mỹ gửi đến để phô trương thanh thế cũng chỉ được coi như tàu giấy. Quan hệ với các nước “ít thân hữu” hơn như Iran, Bắc Hàn, Cuba, và Venezuela không có một tiến bộ nào cả. Chính sách nhũn hơn con chi chi với các nước Hồi Giáo chỉ đưa đến tình trạng quần chúng tại hơn hai tá các nước Hồi Giáo xuống đường biểu tình chống Mỹ, một chuyện mà ngay cả dưới thời ông cao bồi Bush cũng chưa từng xẩy ra. Đồng minh Trung Đông quan trọng nhất, Ai Cập, đã biến thành một thứ thành đồng của Hồi Giáo quá khích, đồng minh với các Giáo Chủ cực đoan Iran.

Như vậy thì thành quả cụ thể của bốn năm làm Ngoại Trưởng của bà Hillary là gì? Một Miến Điện cởi mở hơn? Không sai. Nhưng có đủ để gọi là “Ngoại Trưởng giỏi nhất lịch sử Mỹ” không? Còn thành quả nào khác đáng kể? Tiểu quốc Vanuatu nhận một chục anh tù khủng bố từ Guantanamo?

Bây giờ, phúc trình của Ủy Ban Đặc Nhiệm cho thấy những sai lầm và thiếu sót trong cả hệ thống –systemic- thì trách nhiệm phải ở cấp cao nhất, không thể chỉ là trách nhiệm của vài nhân viên trung cấp bị lôi ra làm vật tế thần.

Việc bà Hillary dính dáng vào cái chuyện khỏa lấp Benghazi chưa rõ đến mức nào, chỉ biết đó là món quà thật bất ngờ tặng cho phe Cộng Hoà, và sẽ được khai thác tối đa nếu bà Hillary quyết định ra tranh cử năm 2016.

Một món quà hiếm có và thật đáng giá vì đó là “vết đen” đáng kể nhất. Theo tất cả các quan sát viên chính trường Mỹ, nếu bà Hillary quyết định ra tranh cử bốn năm nữa thì coi như đã nắm chắc ít ra là 70% hy vọng thắng. Bên Dân Chủ, gần như chắc chắn là sẽ không có ai dám ra đương đầu tranh ghế với bà, vì thế nào bà cũng được hậu thuẫn mạnh của TT Obama và guồng máy Dân Chủ. Bên Cộng Hòa thì trừ trường hợp bất ngờ, nhìn vào các khuôn mặt lãnh tụ bảo thủ hiện nay, chưa ai thấy có khuôn mặt nào đủ nặng ký để hạ được bà Hillary.

Bà Hillary cho đến nay, vẫn không ngừng khẳng định bà không còn tham vọng chính trị gì nữa, và sẽ nghỉ hưu thật. Rất có thể ở tuồi gần cổ lai hy, bà mệt mỏi và thành thật có ý nghĩ này. Nhưng cũng không ai không biết bà sẽ bị áp lực rất nặng của đảng Dân Chủ, cũng như áp lực của chính ông chồng, cựu TT Clinton, để ra tranh cử và giúp đảng Dân Chủ giữ Toà Bạch Ốc thêm bốn hay tám năm nữa. Như vậy thì đảng Cộng Hoà, sau tám năm thất bại dưới thời Bush, và 16 năm lạc vào rừng dưới thời Obama-Hillary, sẽ có nhiều hy vọng được đưa vào... bảo tàng di tích lịch sử.

Có thể vụ Benghazi này sẽ là một vết đen lớn cho bà Hillary, nhưng vấn đề là bốn năm trong chính trị Mỹ là bốn thế kỷ. Từ đây đến năm 2016, còn bao nhiêu người nhớ được Benghazi là thành phố nào, ở đâu? (30-12-12)

Vũ Linh
Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: [email protected]. Bài của tác giả được đăng trên Việt Báo mỗi thứ Ba.

Đã từ lâu, những gì Donald Trump nói, làm, hoặc tung ra trên Truth Social Media, đã không còn là một tuyên bố mang tính chuẩn mực cao nhất của quốc gia. Nó cũng không còn bao hàm những quyết định quan trọng mà người dân mong chờ sẽ mang đến một xã hội tốt đẹp hơn, an toàn hơn. Không phải những cận thần chung quanh Trump không nhận ra điều đó. Rõ nhất là “Thằng Ất” và “Thằng Giáp” – hai kẻ đã từng đưa ra lời chỉ trích mạnh mẽ thời chưa bước vào cửa quan. “Thằng Ất” JD Vance hồi năm 2016 đã nhắn tin cho một người bạn học cũ, gọi Trump là "Hitler của nước Mỹ.” Trong một bài viết đăng trên tờ The Atlantic vào năm 2016, Vance mô tả Trump như một thứ "’heroin’ văn hóa.”
Trong kho tàng ngụ ngôn Aesop có hai câu chuyện. Một chuyện kể về cậu bé chăn cừu thích lấy nỗi sợ của cả làng ra làm trò đùa. Cậu nhiều lần hét to “Sói! Sói!” để lừa người lớn chạy hộc tốc lên đồi, rồi bỏ về, bực bội vì bị lừa. Đến một ngày nọ, sói thật xuất hiện, cậu kêu cứu đến khản cổ mà không còn ai buồn chạy lên đồi cứu giúp, khiến đàn cừu của cậu bị sói vồ sạch. Chuyện thứ hai kể về một con sói thật kiên nhẫn. Ngày này qua ngày khác, nó lảng vảng đến gần đàn cừu. Lúc đầu, người chăn cừu cảnh giác, luôn tay xua đuổi nó. Nhưng sói chỉ đứng xa, trông hiền hòa, không vồ con nào. Lâu dần, chàng chăn cừu quen thuộc với sự hiện diện của Sói, cho đến khi bóng dáng con vật trở nên một phần của phong cảnh xung quanh đàn cừu. Tới một hôm bận việc, anh cả tin đến mức gửi luôn đàn cừu cho sói “trông hộ”. Tối về, chuồng chỉ còn vài con sót lại.
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.