Hôm nay,  

Về Thăm Kinh-Đô Huế

02/03/201300:00:00(Xem: 12957)
Mẹ tôi gốc Hà-Nội còn Bố là người Nam-Định; di-cư 1954 vào Nam. Gần chục năm sau tôi được sinh ra ở nhà thương “Hà-Đông-Hà” vùng Tân-Định, thành-phố Saigon. Là một trong những thuyền nhân tỵ-nạn sau biến cố 1975; lấy quốc-tịch Úc rồi sang Hoa-Kỳ định-cư từ 1991 đến nay; cả trăm lần về Việt-Nam làm phim tài-liệu và đi giúp người nghèo khắp ba miền đất nước: Bắc, Trung & Nam.

Hình ảnh quyến-rũ và ghi đậm nhất trong tôi lại chính là xứ sở miền Trung trầm mặc u-hoài có kinh-đô Huế với giòng sông Hương và núi Ngự-Bình cùng rất nhiều đền đài lăng tẩm.

Thành phố Huế nằm về phía Bắc đèo Hải-Vân, cách Đà-Nẵng 112 km, xa biển Thuận-An 14 km, từ phi-trường Phú-Bài đến Huế độ 14 km và cách Cảng nước sâu Chân-Mây 50 km. Phía Bắc và Tây giáp thị-xã Hương-Trà, Nam giáp Hương-Thủy, Đông cùng giáp Hương-Thủy và huyện Phú-Vang.

Qua nhiều tài-liệu sưu-tầm, tôi được biết rằng: Vùng đất xây-dựng nên kinh-thành Huế nguyên là một địa-hình được sắp đặt lại bởi công sức lao-động của hàng vạn dân binh. Dưới thời vua Gia-Long, người ta điều-chỉnh lại "vương đảo” Phú-Xuân, lấp giòng Kim-Long cũ, đào mới một loạt các sông Ngự-Hà, Đông-Ba, An-Hòa, Bạch-Yến để tạo ra một thế đất cân đối bên Hương giang ngày nay. Đối diện với tiền-án núi Ngự, hai bên có Cồn Hến Tả Thanh-Long (con Rồng xanh bên trái) và cồn Giã-Viên Hữu Bạch-Hổ (con Cọp trắng bên phải) trong thế hài-hòa rất tự-nhiên; đến nỗi ít người nhận ra xưa kia là cả một quá trình gian-khổ xẻ đất, lấp sông của con người.
diamond_bich_ngoc_hue_duong_trinh_cong_son
Diamond Bích Ngọc ở Thành Nội Huế; đường mang tên Trịnh Công Sơn.
“Đất Thần kinh trai hiền gái lịch
Non xanh nước biếc, điện ngọc đền rồng
Tháp bảy tầng, miếu Thánh, chùa Ông
Chuông khua Diệu-Đế, trống rung Tam-Toà
Cầu Tràng-Tiền mười hai nhịp bắc qua
Tả Thanh-long, hữu Bạch-Hổ đợi khách âu ca thái-bình.” (Ca Dao)

Trung-tâm Huế có Thành nội và Đại nội:

Đại nội: với Hoàng-Thành, Tử-Cấm-Thành và hàng trăm công-trình kiến-trúc tinh-xảo, sơn son thiếp vàng, bố-trí cân-xứng thể-hiện nghiêm-ngặt trật-tự và uy-thế chốn cung-đình.

Thành nội: có Kỳ-Đài vững-chãi, uy-nghi, gồm 10 cổng đối xứng, hệ-thống các dinh-thự như Lục-Bộ, Cơ-Mật-Viện, Quốc-Tử-Giám, Tàng-Thư-Lâu...Phản ánh được bộ mặt sinh-hoạt chính-trị, văn-hóa chốn kinh-kỳ của một thời oai-phong lẫm-liệt. Nơi đây cũng là chứng-tích ghi dấu sự có mặt của nhiều thế-hệ danh-nhân đất nước ta như: Nguyễn-Du, Nguyễn-Công-Trứ, Cao-Bá-Quát, Bà Huyện Thanh-Quan, Phan-Thanh-Giản, Nguyễn-Tri-Phương, Hoàng-Diệu, Tôn-Thất-Thuyết, Phan-Bội-Châu, Phan-Chu-Trinh…

Phong cách kiến-trúc tinh-tế của cung-đình Huế còn thể-hiện ở một số lăng tẩm nằm ẩn mình trong vùng đồi núi ven hai bờ sông Hương thuộc phía Tây-Nam kinh-thành. Các lăng vua triều Nguyễn khá bề-thế theo hệ-thống sân chầu; tẩm điện, bi-đình, bảo-thành; đồng thời lại vận-dụng hình-thái xây-dựng như cung điện, có cả hồ sen, lối dạo, tùng-viện, thủy-tạ, đình-quán; đôi khi còn thêm nhà đọc sách, nhà hát, trường bắn của vua như lăng Tự-Đức.

Mỗi lăng vua là một phong-cách kiến-trúc riêng, thể-hiện một phần những yếu-tố triết-lý, tâm- linh và giá-trị thẩm-mỹ cá-biệt; không gợi lên cảm xúc đau buồn thương tâm về cái chết, ngược lại nơi đây là một chốn thanh-nhã để du khách tham-quan, ngắm nhìn và suy-tuởng.

Gắn với kinh-thành, cung-điện, lăng-tẩm còn có các đền miếu, Đàn Nam-Giao, Đàn Xã-Tắc, điện Hòn Chén, chùa Thiên-Mụ, chùa Túy-Vân và rất nhiều danh-lam cảnh tự ở kinh kỳ…

diamond_bich_ngoc_hoang_cung_hue
Chàng và nàng trong bộ triều phục Hoàng đế và Hoàng hậu.
Nằm giữa những vùng dân cư có nhiều phủ đệ, đình miếu, nhà vườn nên người xứ Huế nhiều đời gắn bó với mảnh đất cố-đô được thấm nhuần giá-trị truyền-thống lễ-nghi, vì vậy họ còn lưu-giữ khá đậm nét những tính-cách, phong-tục, tín-ngưỡng một thời của vùng đô-thị cổ Việt-Nam cách đây nhiều thế kỷ:

“Người xứ Huế trang nghiêm và thầm lặng
Thường hay sầu giữa lúc thế nhân vui
Tâm sự nhiều mà ít hé trên môi
Thanh lịch thay bạn văn nhân xứ Huế!”
(trích thơ của Thi-Sĩ Bạch-Lan)

Lần này về thăm Huế, phòng trọ chúng tôi ở ngay bên giòng Hương giang, nhìn sang bên trái thấy cầu Trường-Tiền, đối diện là cồn Hến, thỉnh-thoảng những bóng dáng con thuyền thơ mộng lướt nhè nhẹ, êm-ái, lặng-lẽ trên sông:

“Giòng nước Hương-Giang chảy lặng-lờ
Ngàn thông núi Ngự đứng như mơ
Gió cầu nghiêng áo nàng Tôn-Nữ
Quai lỏng nghiêng vành chiếc nón thơ” (Ca-Dao).

Một buổi sáng loanh-quanh phố-phường, tình cờ nhìn thấy con đường mang tên Trịnh-Công-Sơn. À! Thì ra Huế mộng, Huế mơ là quê-hương của cố nhạc-sĩ này; nơi mà bản nhạc “Diễm-Xưa” ra đời; theo như Hoàng-Tá-Thích (em rể TCS) đã kể rằng:

“...Ngày ngày người con gái mang tên Diễm trong chiếc áo lụa trắng của trường Đồng-Khánh, vẫn thường đi ngang, băng qua cầu, rẽ tay mặt về nhà. Hình ảnh nàng thùy mị mang nét kín cổng cao tường rất cổ điển đó đã làm cho anh không ngày nào là không nhìn xuống đường chờ đợi: Lụa áo em qua phủ mặt đường

Gót nhỏ xanh xao tựa khói sương.

Diễm mang đến cho anh một mối tình nhẹ nhàng và lãng mạn như hai chữ Diễm xưa. Có hôm thức dậy muộn, nhìn thấy bên cửa sổ cài một nhành dạ lý hương, anh biết người đẹp đã đi qua nhà mình. Và mỗi lần thức dậy anh đều mong nhìn thấy cành hoa cài trên cửa: "Chiều nay còn mưa, sao em không lại, nhớ mãi trong cơn đau vùi, làm sao có nhau, hằn lên nỗi đau, bước chân em xin về mau…"

Chúng tôi được dịp ghé đến “Royal Park Restaurant”; một nhà hàng tọa-lạc trên thôn Vỹ-Dạ với lối kiến-trúc cổ-điển, có cung lầu và vườn thượng-uyển cùng những bức tượng quan-quân u hoài trầm mặc; tôi và phu-quân được khoác Long Bào của Vua và Hoàng-Hậu như một thời Phong-Kiến xưa, thưởng-thức các món Phượng-Hoàng, Long-Quân khai-vị, Nem-Công-Chả-Phụng tuyệt-hảo và thích nhất khi xem trình diễn “nhã nhạc cung-đình” trong một không-gian rất Huế, rất hoàng-triều. Đúng như ý bài thơ của Đinh-Thu đã giới-thiệu về nơi chốn này:

“Đến đây trông bóng người xưa
Cung ngà điện ngọc nắng mưa một thời
Tìm riêng mình phút thảnh thơi
Quên đi hiện tại nghiệp đời mênh mang
Dìu hồn vào cõi mơ màng
Lắng trong quá khứ son vàng từ tâm”

(Link: http://www.royalpark.com.vn/Home )

Cảm-ơn Huế cho một lần trở lại rất trữ tình. đáng ghi nhớ, đáng mến, đáng yêu. Xin viết lại bài ca-dao dưới đây để gửi tặng phu-quân tôi và cho tất-cả những đôi uyên-ương của Huế chan hòa yêu thương & ngàn đời thơ mộng:

“Khi nào cạn nước Đồng-Nai
Nát chùa Thiên-Mụ mới sai lời nguyền!
Tay bưng dĩa muối chấm gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau!
Núi Ngự-Bình trước tròn sau méo
Sông An-Cựu nắng đục mưa trong,
Đôi ta nguyện kết chữ đồng
Đá mòn sông cạn mà lòng thủy-chung!
Dãy dọc tòa ngang, giàu sang có số
Kim-Long, Nam-Phổ, nước đổ về Sình
Hai đứa mình gá nghĩa ba sinh,
Dẫu có mần răng đi nữa, hai đứa mình không thể bỏ nhau
Đôi ta kết nghĩa vợ chồng
Đá mòn, sông cạn mà lòng thủy-chung!” (Ca Dao)

www.diamondbichngoc.com

Đã từ lâu, những gì Donald Trump nói, làm, hoặc tung ra trên Truth Social Media, đã không còn là một tuyên bố mang tính chuẩn mực cao nhất của quốc gia. Nó cũng không còn bao hàm những quyết định quan trọng mà người dân mong chờ sẽ mang đến một xã hội tốt đẹp hơn, an toàn hơn. Không phải những cận thần chung quanh Trump không nhận ra điều đó. Rõ nhất là “Thằng Ất” và “Thằng Giáp” – hai kẻ đã từng đưa ra lời chỉ trích mạnh mẽ thời chưa bước vào cửa quan. “Thằng Ất” JD Vance hồi năm 2016 đã nhắn tin cho một người bạn học cũ, gọi Trump là "Hitler của nước Mỹ.” Trong một bài viết đăng trên tờ The Atlantic vào năm 2016, Vance mô tả Trump như một thứ "’heroin’ văn hóa.”
Trong kho tàng ngụ ngôn Aesop có hai câu chuyện. Một chuyện kể về cậu bé chăn cừu thích lấy nỗi sợ của cả làng ra làm trò đùa. Cậu nhiều lần hét to “Sói! Sói!” để lừa người lớn chạy hộc tốc lên đồi, rồi bỏ về, bực bội vì bị lừa. Đến một ngày nọ, sói thật xuất hiện, cậu kêu cứu đến khản cổ mà không còn ai buồn chạy lên đồi cứu giúp, khiến đàn cừu của cậu bị sói vồ sạch. Chuyện thứ hai kể về một con sói thật kiên nhẫn. Ngày này qua ngày khác, nó lảng vảng đến gần đàn cừu. Lúc đầu, người chăn cừu cảnh giác, luôn tay xua đuổi nó. Nhưng sói chỉ đứng xa, trông hiền hòa, không vồ con nào. Lâu dần, chàng chăn cừu quen thuộc với sự hiện diện của Sói, cho đến khi bóng dáng con vật trở nên một phần của phong cảnh xung quanh đàn cừu. Tới một hôm bận việc, anh cả tin đến mức gửi luôn đàn cừu cho sói “trông hộ”. Tối về, chuồng chỉ còn vài con sót lại.
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.