Hôm nay,  

Hồi Ký Cam Ranh

14/12/201300:00:00(Xem: 6631)
Giao Chỉ, San Jose
(Trích trong tuyển tập hồi ký Giao Chỉ. Cuộc đời chiến binh VNCH ai cũng có một ngày 30 tháng tư. Riêng kỳ niệm của tôi lại bắt đầu vào tháng ba, tại Cam Ranh)

CHUYỆN HẢI QUÂN

Đầu tháng 12-2013 hải quân VNCH họp mặt tại San Jose. Ngoại trừ đô đốc Chơn, người địa phương, chẳng có ông tướng hải quân nào về tham dự. Lý? do duy nhất là tuổi già, sức yếu. Ông phó đề đốc Diệp Quang Thủy ở San Mateo, ngay bên cạnh cũng không về được. Ông nói chuyện hải quân ra khơi qua điện thoại.

Đó là kỳ phỏng vấn cuối cùng. Một tuần sau ngày đại hội ông qua đời. Vị tướng tham mưu trưởng hải quân mất ngày 6 tháng 12-2013, hưởng thọ 82 tuổi. Ngày 11tháng 12-2013 tôi đi dự tang lễ ở San Mateo. Anh em hải quân phủ cờ, nhưng chỉ có gia đình và thân hữu hiện diện. Ông tướng hiền lành nhất của hải quân Việt Nam Cộng Hòa ra đi cũng đơn giản như thời kỳ ông còn lái xe lunch để bà nhà bán cơm trưa cho anh em làm hãng xưởng tại San Jose. Ông tướng cao lớn, đẹp trai, hào hoa nhưng hiền lành và lương thiện. Sống giản dị, chết cũng chẳng ồn ào. Cái chết của ông Thủy làm tôi nhớ lại chuyện của mình. Lần này tôi không viết nhiều về chuyện ra đi của ông tướng hải quân. Tôi viết về chuyện của tôi. Tựa đề Hồi k?ý Cam Ranh. Gần 40 năm trước, trên chuyến bay định mệnh từ Saigon ra Cam Ranh, chúng tôi ngồi chung 1 tàu. Sứ mạng vĩ đại được trung ương giao phó là tái trang bị cho binh sĩ của quân khu I và II về tập trung tại Cam Ranh. Ông xếp đại diện tổng tham mưu là thiếu tướng pháo binh Nguyễn xuân Trang. Tôi, đại tá Vũ văn Lộc phụ tá và lo về tiếp vận. Đại tá Trường lo về quân số. Đại tá Huy, tham mưu phó tiếp vận sư đoàn Dù lo cho lính mũ đỏ ở mặt trận Khánh Dương. Phó đề đốc Thủy là tham mưu trưởng lo việc hải quân. Trên tàu bay còn có 1 trung đội quân cảnh của tổng tham mưu để giữ trật tự. Mỗi vị đều có các sĩ quan tham mưu và cận vệ tháp tùng. Phần tôi có đại úy Nguyễn thế Đỉnh, gốc biệt động quân. Anh là quận trưởng, bị thương ở chi khu, mới đổi về tổng tham mưu. Tôi mang đi theo để có tay súng tác chiến yểm trợ ông thầy.

Chúng tôi xuống Cam Ranh rồi mỗi người đi 1 ngả. Những tưởng sẽ hẹn nhau trở về Saigon. Nhưng rồi chỉ vài ngày sau tan hàng tại chỗ, chúng tôi chẳng còn gặp lại nhau. Bây giờ đại tá Trường chết ở quận Cam, đại tá Huy dù đã chết bên Texas, thiếu tướng Trang ở lại đi tù. Khi HO qua Mỹ tôi có đón ông chuyển tiếp tại phi trường San Francisco. Ngày nay chẳng biết tin tức ra sao. Còn ông đề đốc Thủy, dù cũng chẳng xa xôi gì mà cũng không gặp mặt. Ai ngờ tôi gặp lại lúc đưa ông về chốn vô cùng.
resized-cam-ranh-opy

DUYÊN NỢ CAM RANH

Tuy rằng chuyến bay ra Cam Ranh với tướng Trang và tướng Thủy là chuyến bay cuối cùng tháng 4-1975 nhưng không phải là chuyến bay đầu tiên của tôi. Trong cái giai đoạn đau thương của đất nước tôi đã lãnh công tác bay ra Nha trang ngày 15 tháng 3/1975. Công tác yểm trợ cho việc tái chiếm Ban Mê Thuột. Chắc anh em còn nhớ ông Thiệu họp hội đồng an ninh quốc gia tại Cam Ranh ngày 14 tháng 3/1975 cho lệnh rút quân đoàn II. Lúc đó đại tướng Viên đi họp về đã cho chuẩn tướng Thọ trưởng phòng 3 biết tin. Nhưng các xếp hoàn toàn giữ bí mật. Sáng 15 tháng 3/1975 bộ tư lệnh quân đoàn II đã bỏ cao nguyên mà phái đoàn tổng tham mưu của chúng tôi cứ phoong phoong lên máy bay ra Nha Trang như chuyến đi bình thường. Khi vào bản doanh bộ tư lệnh của quân đoàn II ở Nha Trang đã thấy ông Phú đang cầm máy hò hét các cánh quân. Ông mới từ Pleiku về hôm trước. Bỏ lại anh bạn Cương Quyết Thủ Đức của tôi là đại tá Lê khắc Lý, tham mưu trưởng quân đoàn với cả miền cao nguyên đang hoảng loạn. Xem cung cách của vị tư lệnh Phú lúc đó đã thấy quân đoàn II đang vất vả lắm rồi. Chẳng kỳ vọng gì chuyện tái chiếm Ban mê Thuột. Anh bạn Cương Quyết Đà Lạt, đại tá Vũ Thế Quang, tư lệnh phó sư đoàn 23 đã bị giặc bắt đang trên đường Việt Cộng giải ra Bắc.Tôi lấy xe chạy qua ngã ba đường đèo lối vào quận Ninh Hòa. Đón được những chuyến xe đi sớm nhất từ Pleiku lọt được về duyên hải. Một xe jeep đậu bên đường. Anh tài xế bị thương bế 2 đứa nhỏ phía sau. Một tay trung úy lái xe mắt đỏ với bộ mặt đau thương giận dữ. Người đàn bà ngồi bên cạnh băng bó toàn thân. Tôi lại gần mới biết, người vợ đã chết được buộc ngồi vào ghế trưởng xa. Đầu ngả 1 bên. Anh trung úy thấy tôi đeo lon đại tá mang huy hiệu bộ tổng tham mưu, chợt buông tiếng chửi thề rồi lên xe chạy tiếp. Tôi nghĩ rằng mình sẽ đem tiếng chửi về lại bộ tổng tham mưu. Có thể gọi cả điện thoại cho đại tá Đỗ đức Tâm đang làm việc tại võ phòng, để trình lên tổng thống! Tôi quay về Nha Trang, nhưng không ghé vào quận Ninh Hòa. 38 năm sau mới biết nếu ghé Ninh Hòa, sẽ gặp trung tá Đỗ Hữu Nhơn đang ngồi tại quận này. Ông Nhơn, một đời đi lính lực lượng đặc biệt, 3 lần quận trưởng, bây giờ là thân hữu già cùng khóa Cương Quyết, cư ngụ tại San Jose.

Trở về tổng tham mưu tôi báo cáo tình hình cho các xếp. Nhưng xem ra tin tức về chuyện rút quân cao nguyên đã rung động cả Saigon. Ai cũng biết tin tức đau thương qua bản tin của Nguyễn Tú đăng trên báo Chính Luận.

Hai tuần sau đại tướng Viên ra lệnh cho tiền doanh tổng tham mưu lên đường. Tướng Trang cao niên và hiền lành được cử làm trưởng phái đoàn, đại tá Lộc mới đi về, coi bộ thuộc đường đi nước bước, được chỉ định trở lại Cam Ranh. Đi lần này có tướng tham mưu trưởng hải quân, ông Thủy. Có đại tá Dù, ông Huy. Có ông Trường, một tay ngon lành của TTM, chuyên viên về quân số. Có hơn 20 anh quân cảnh. Xem ra chẳng có hy vọng gì tái tổ chức được 2 quân đoàn và lập phòng tuyến thép. Ngồi trên phi cơ, anh em chúng tôi không ai nghĩ là sẽ làm được chuyện phi thường.

Lúc đó xếp xòng thị xã Cam Ranh là đại tá Liễu, chỉ huy trưởng bộ chỉ huy 5 tiếp vận và quân trấn Cam Ranh là đại tá Mai duy Thưởng. Qua đêm đầu yên tĩnh. Buổi sáng tướng Trang nói với anh em là "moi" ngủ không yên. Cứ hắt hơi suốt đêm. Ông tâm sự, ngày xưa lúc còn trong quân đội liên hiệp Pháp, trước khi bị Nhật bắt "moi" cũng bị như thế này. Điềm rất xấu. Ông thở dài. Chúng tôi cũng lại nghe thêm toàn tin xấu. Tin Đà nẵng thất thủ, rồi đến Quy Nhơn tan vỡ. Tôi vui mừng được biết tại Quy Nhơn hải quân vớt được anh em ở bộ chỉ huy 2 tiếp vận. Các hạm đội hải quân tập trung về Cam Ranh. Máy bay C47 của đại tướng Viên bay ra dự trù đón tướng Trưởng và phái đoàn tổng tham mưu trở về. Nhưng ông Trưởng không lên bờ và máy bay cũng không đáp xuống được. Phi trường khá đông người và mất trật tự. Tôi gặp tướng Nhựt sư đoàn 2 từ chiến hạm lên thăm dò tình hình Cam Ranh. Hỏi ông có cần trang bị gì cho sư đoàn. Ông quay ra bến tầu, vừa đi vừa lắc đầu. Không tìm thấy đại tá Huy Dù, tôi bèn qua trung tâm bảo toàn để tìm cách liên lạc với đơn vị yểm trợ tiền tuyến bên cạnh mặt trận Khánh Dương. Chợt có tin một phi cơ C130 của không quân đã đáp xuống đang chờ lệnh. Vội chạy ra phi trường. Ở đây đúng là hỗn quân hỗn quan. Tin tức về phi trường nổi loạn ở Đà Nẵng và việc bắn giết nhau trên bãi biển và ngay cả trên sà lan, trên tàu di tản đã tạo không khí kinh hoàng cho Cam Ranh. Binh sĩ tan hàng từ chiến hạm lên bờ tìm thực phẩm. Súng ống lựu đạn đầy người. Chẳng thấy sĩ quan chỉ huy. Chỉ cần 1 hành động bất cẩn là tiêu tùng. Đặc biệt là không khí căng thẳng giữa quân cảnh TTM với lính tổng trừ bị từ chiến trường hỗn loạn chạy về. Một anh quân cảnh của chúng tôi đã bị chém ở bến tàu.

Các anh phi công không tắt máy, vẫn ngồi trên ghế lái, dục dịch muốn bay lên. Tôi cố trấn tĩnh đứng dưới sân bay dùng quân cảnh ngăn chận không cho dân chúng tràn lên phi cơ. Cho lính tổng trừ bị ưu tiên lên tàu trước. Đem tất cả các thương binh lên.Trật tự được giữ yên, với các quân cảnh súng đeo vai, bình tĩnh làm việc. Lại cho lệnh thủy quân lục chiến, nhẩy dù, biệt động quân, lính sư đoàn qua kho quân tiếp vụ lấy lương thực rồi trở lại bến tàu. Kho quân tiếp vụ được lệnh bỏ ngỏ cho lính lãnh hàng và tự do mặc sức khuân đi. Sau cùng tàu bay vẫn còn đủ chỗ cho tất cả phái đoàn tổng tham mưu trở về cùng với cả gia đình binh sĩ. Nhân dịp này tôi đưa được anh bạn cùng khóa là trung tá Nguyễn đức Chung từ Đà Nẵng chạy về. Anh lên máy bay cùng với cùng với tùy viên của tôi là đại úy Nguyễn thế Đỉnh.


Tôi ở lại dẫn lính tổng trừ bị ra bến tàu. Cũng chẳng phải can đảm gì. Cái thế phải như vậy. Nếu leo lên máy bay sớm là bị lính ba gai bắn chết tại chỗ cùng với mấy anh quân cảnh.

Khi trở về bộ chỉ huy 5 tiếp vận được biết ông trưởng đoàn đã cùng đại tá Liễu tỉnh trưởng Cam Ranh bay trực thăng vào Phan Rang. Đại tá Mai duy Thưởng cũng đã di tàn đường biển, cả bộ chỉ huy còn lại mình tôi với đại tá Trường.

Anh tài xế biệt phái lái xe cho tướngTrang hỏi thăm tôi bao giờ ông tướng trở lại. Anh còn đi tìm ông đại tá chỉ huy trưởng để nhận lệnh. Mặc dù lòng đang bấn loạn nhưng vẫn tỉnh táo nói rằng bây giờ tôi là người chỉ huy ở đây. Anh tài xế vui vẻ chờ lệnh. Báo cáo về Saigon cho trung tướng Khuyên,tham mưu trưởng liên quân. Trung tá chánh văn phòng Nguyễn đình Bá nửa đùa nửa thật nói là xếp chỉ thị anh Lộc có điều động được thì bây giờ làm chúa đảo kiêm Chỉ huy bộ chỉ huy tiếp vận, luôn cả thị xã Cam Ranh. Tôi ngao ngán nói rằng lệnh bổ nhiệm chậm trễ 3 năm. Bây giờ "moi" phải tìm đường chạy qua hải quân gặp ông đề đốc Hoàng cơ Minh. Tôi nói chuyện về tổng tham mưu hoàn toàn bạch văn chẳng có kiểu cách gì. Lúc đó đã khuya rồi. Chưa tắt máy, chợt có tiếng anh thượng sĩ truyền tin xen vào. Anh nói rằng, mấy hôm nay chúng em trên núi nghe tiếng đại tá nói chuyện với bộ tổng tham mưu. Bây giờ không còn ai liên lạc về Saigon, chúng em là siêu tần số truyền tin diện địa. Đại tá qua bên kia dùng hệ thống hải quân, xin cho lệnh tụi em về. Tôi hỏi là có xe từ trên núi xuống không. Anh ta nói là chúng em có phương tiện, 6 người truyền tin và 1 tiểu đội địa phương quân. Xin cho chúng em rút. Tôi đồng ý cho lệnh cả toán lấy tiêu lệnh triệt thoái ra mà thi hành. Phá hủy máy, giấy tờ và đặc lệnh truyền tin. Ra lệnh rồi mà tôi cũng cứ băn khoăn, nghĩ rằng mình hơi ẩu. Sau đó anh em chúng tôi còn lại đi 2 xe jeep chạy qua trung tâm huấn luyện hải quân ở phía bên kia bán đảo. Cho lệnh các anh tài xế và hộ tống tan hàng, không phải chờ đợi ai nữa. Từ bên ngoài hàng rào, các anh lính biệt phái mới quen biết hai ngày cùng giơ tay chào. Ngậm ngùi trông theo, thôi thì như vậy cũng đành. Đại tá chạy, nhưng ông nói rằng ông chạy. Anh em không phải thắc mắc đợi chờ. Quê em ở Ninh Hòa, mai này ông thầy có dịp trở lại ra quán vợ em mua nem. Chúng nó nói đùa mà như có nước mắt.

CĂN CỨ HẢI QUÂN

Phía bên bộ binh tại Cam Ranh rối loạn bao nhiêu thì trong căn cứ hải quân lại bình yên trật tự lạ lùng. Xem ra các chiến hạm khá nhiều mà không thấy dân chúng ồn ào chen lấn.

Chúng tôi ngồi uống nước buổi tối dưới hàng cây. Phía sân trước có 2 trực thăng đậu sẵn. Tôi ngồi bàn tán chuyện thời sự với chuẩn tướng Thân và trung tướng Thi bay từ Đà Nẵng về. Sẵn cơn tức giận pha lẫn đau thương lo sợ, tôi phê phán tổng thống Thiệu thẳng thừng. Ông Thi đồng ý nhưng ngồi yên lặng. Tướng Thân nguyên là tư lệnh sư đoàn 1 thời kỳ anh bạn tôi là trung đoàn trưởng Nguyễn thế Nhã tử trận, chúng tôi cùng đưa đám ở Mạc đỉnh Chi. Ông Thân rất cảm khái nói rằng các "toa" là đại tá còn dám nói thực lòng, tổng thống đánh đấm thế này thì chết cả anh em.

Giấc khuya cả 2 ông lên trực thăng bay vào Nam. Ông Minh gặp tôi nói: Sao không theo mấy ổng lên trực thăng. Thôi bây giờ tàu dưới bến, anh muốn đi chiếc nào thì đi. Tôi bắt tay ông Minh nghĩ rằng không biết bao giờ sẽ gặp lại. Sáng hôm sau, xuống tàu, được biết ông Diệp quang Thủy đã về trước rồi. Ông Minh di chuyển bằng tàu nhỏ. Trên mặt trận duyên hải, xem ra chỉ còn mình ông Minh bình tĩnh giải quyết công việc.

Tôi cùng sĩ quan bộ binh khác thuộc các đơn vị miền Trung di tản trên một chiến hạm mà ngày nay chẳng còn nhớ con tầu nào. Sĩ quan chúng tôi lẫn vào binh sĩ và dân chúng ngồi dưới sàn tầu. Buổi tối, tôi thảo điện văn nhờ tàu gửi cho tư lệnh hải quân chuyển qua trung tướng tham mưu trưởng liên quân. Ông hạm trưởng biết chuyện nể tình và cũng muốn giữ an ninh nên đưa 2 ông đại tá tổng tham mưu lên boong tàu nằm cho đỡ vất vả. Canh khuya, tôi chợt nghe thấy tiếng cười của cô nữ quân nhân hải quân.Nằm phía ngoài hiên phòng lái chịu cơn gió đại dương thân thể lạnh ngắt và đầu óc hết sức hoảng loạn cho một tương lai bất định. Mới hơn 5 năm trước bay đêm trên trời Cam Ranh, nhìn xuống quân cảng đèn sáng rực rỡ như thiên đường. Thương thuyền và chiến hạm đầy bến. Các cầu tàu nhộn nhịp lên hàng. Không thể tưởng tượng có ngày Mỹ bỏ Cam Ranh. Rồi đến VNCH cũng bỏ Cam Ranh.

Đoàn tàu từ giã bến cảng 1 thời nổi danh Đông Nam Á. Rồi tất cả rúc còi xuôi Nam. Tàu của tôi chở đầy dân tỵ nạn nên không được vào Vũng Tàu. Phải chạy ra Phú Quốc.

Ngay sau khi cặp bến lên tầu thì ngày hôm sau có tin cô thiếu úy xã hội của hải quân bị rớt xuống biển. Đó lại là con gái của vị tư lệnh hải quân đầu tiên. Đại tá Lê Quang Mỹ. Tôi vẫn nhớ tiếng cười của người nữ quân nhân hải quân giữa trùng dương mấy hôm trước. Trên đưởng chạy giặc mà sao vẫn nghe thấy tiếng cười của cô gái trong trẻo như pha lê.

Tôi nhớ đến các cháu gái nhà tôi. Ba đứa nhỏ tuổi hoa niên đang học Gia Long ở Sài Gòn. Rồi đây tương lai sẽ ra sao? Sau khi đến Phú Quốc vào đêm khuya, sáng hôm sau tôi lên máy bay về Saigon. Việc đầu tiên là hỏi thăm nhà của ông hạm trưởng để nhà tôi đem biếu hộp bánh với lời cảm ơn. Tôi cũng có ý tìm hiểu xem vụ tai nạn có trở ngại gì không. Rồi đến cuối tháng tư tôi thu xếp đem cả đơn vị xuống tầu quân vận ở bến Khánh Hội mà chạy theo hải quân. Từ ngày đó không gặp lại đại tá Trường tổng tham mưu. Không gặp lại đại tá Huy dù. Không gặp lại tướng Thủy. Các ông bạn một thời chinh chiến lặng lẽ ra đi. Cùng ở nước Mỹ mà ra đi lúc nào, ai có hay.

Nhưng sau cùng tôi có dịp tiễn đưa ông Diệp Quang Thủy lần cuối. Dù bên ngoài trông ông Thủy bình thản hiền lành nhưng thực ra những năm qua, trong phạm vi kín đáo ông vẫn sinh hoạt nhiệt thành với các chính đảng hướng về đại nghĩa quang phục quê hương. Chuyện này ngay anh em hải quân cũng ít người biết đến.

Ông Hoàng Cơ Minh một đời sôi nổi. Từ mặt trận duyên hải cho đến kỳ hạm đội ra khơi lần cuối. Tiếp theo là thời kháng chiến hay là chết. Sau cùng ông đã hy sinh tại Hạ Lào. Đề đốc Thủy kín đáo hơn, nhưng vẫn 1 lòng nghĩ về quê hương cho đến giây phút cuối cùng. Hai ông hải quân mỗi người đeo một sao. Một ông người Bắc, một ông Nam Kỳ. Cả 2 ông đều làm tôi nhớ lại Cam Ranh.

Trên sân khấu của đại hội hải quân ngày 1 tháng 12-2013 tôi có dịp kể chuyện Cam Ranh và ngỏ lời cảm ơn ông hạm trưởng con tầu tháng tư đã chở tôi về Phú Quốc mà thực sự tôi đã quên tên. Chỉ còn nhớ chuyện cô gái chết rất đau thương. Tối qua, tìm được điện thoại, ngay tại San Jose từ hơn 30 năm qua, anh em mới có dịp hàn huyên. Tôi mới được biết con tầu đầy kỷ niệm là HQ.500 của ông hạm trưởng trung tá Lê Quang Lập, quê Phan Rang, xứ sở của ông Thiệu. Danh hiệu hết sức tình cảm của HQ 500 lại là Dương vận hạm Cam Ranh. Sự tình cờ làm đậm đà cho bài hồi ký 38 năm sau.

Nhớ mãi ông Trường TTM, ông Huy Dù, ông Thủy hải quân và tôi trong chuyến bay buổi sáng đầu tháng tư, năm 75. Ông Trang ngồi trong phòng lái. Anh em mình ngồi một dãy bên nhau, tin tan hàng mất đất dồn dập, chẳng ai nhìn thấy tương lai. Tuy nhiên không ai biết rằng đến lượt Cam Ranh, chỉ còn đứng vững ba ngày rồi tan ra như lửa thiêu nước đá. Chẳng thấy bóng quân thù. Không một tiếng súng. Các binh đoàn cứ mờ dần như đang mộng du. Lúc đó chúng tôi 20 tuổi học trò, 20 tuổi lính, 40 tuổi đời. Gần 40 năm sau, chỉ còn mình tôi ngồi nhớ khung trời Cam Ranh mà chẳng biết bây giờ các ông ở đâu.

Giao Chỉ, San Jose

Đã từ lâu, những gì Donald Trump nói, làm, hoặc tung ra trên Truth Social Media, đã không còn là một tuyên bố mang tính chuẩn mực cao nhất của quốc gia. Nó cũng không còn bao hàm những quyết định quan trọng mà người dân mong chờ sẽ mang đến một xã hội tốt đẹp hơn, an toàn hơn. Không phải những cận thần chung quanh Trump không nhận ra điều đó. Rõ nhất là “Thằng Ất” và “Thằng Giáp” – hai kẻ đã từng đưa ra lời chỉ trích mạnh mẽ thời chưa bước vào cửa quan. “Thằng Ất” JD Vance hồi năm 2016 đã nhắn tin cho một người bạn học cũ, gọi Trump là "Hitler của nước Mỹ.” Trong một bài viết đăng trên tờ The Atlantic vào năm 2016, Vance mô tả Trump như một thứ "’heroin’ văn hóa.”
Trong kho tàng ngụ ngôn Aesop có hai câu chuyện. Một chuyện kể về cậu bé chăn cừu thích lấy nỗi sợ của cả làng ra làm trò đùa. Cậu nhiều lần hét to “Sói! Sói!” để lừa người lớn chạy hộc tốc lên đồi, rồi bỏ về, bực bội vì bị lừa. Đến một ngày nọ, sói thật xuất hiện, cậu kêu cứu đến khản cổ mà không còn ai buồn chạy lên đồi cứu giúp, khiến đàn cừu của cậu bị sói vồ sạch. Chuyện thứ hai kể về một con sói thật kiên nhẫn. Ngày này qua ngày khác, nó lảng vảng đến gần đàn cừu. Lúc đầu, người chăn cừu cảnh giác, luôn tay xua đuổi nó. Nhưng sói chỉ đứng xa, trông hiền hòa, không vồ con nào. Lâu dần, chàng chăn cừu quen thuộc với sự hiện diện của Sói, cho đến khi bóng dáng con vật trở nên một phần của phong cảnh xung quanh đàn cừu. Tới một hôm bận việc, anh cả tin đến mức gửi luôn đàn cừu cho sói “trông hộ”. Tối về, chuồng chỉ còn vài con sót lại.
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.