Hôm nay,  

Kích Thích Kinh Tế

24/04/201400:00:00(Xem: 6184)

Cách hay nhất để kích thích kinh tế là nhà nước nên thu bàn tay của mình về...

Kinh tế Việt Nam đang có một số dấu hiệu đình đọng có thể giảm đà tăng trưởng và gây ra tình trạng suy trầm. Trước sự thể đó, một số kinh tế gia trong nước nói đến việc Chính phủ nên có một gói hỗ trợ kinh tế qua biện pháp kích cầu trong khi nhiều người lại nêu ra những yếu tố khiến người ta nên thận trọng về kích cầu. Diễn đàn Kinh tế nêu câu hỏi với chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa về việc kích cầu này. Xin quý thính giả theo dõi phần trao đổi do Vũ Hoàng thực hiện sau đây.

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, khi Ngân hàng Thế giới vừa đưa ra một báo cáo có nội dung lạc quan về tình hình kinh tế Đông Á Thái Bình Dương trong năm nay và năm tới thì tại Việt Nam, người ta lại thấy một vài chỉ dấu đình đọng, gọi là giảm phát hay thiểu phát về kinh tế Việt Nam. Vì thế, có người đã nói đến việc Chính phủ phải hỗ trợ kinh tế bằng một gói kích cầu, nhưng nhiều nhà nghiên cứu kinh tế lại cho là nên cẩn trọng với việc kích cầu và tránh chuyện lợi bất cập hại. Trên diễn đàn này, ông cũng thường nói tới một hiện tượng là "liều thuốc đổ bệnh" khi nhà nước chẩn đoán sai và tung ra biện pháp kinh tế với hậu quả bất lường và có hại. Vì vậy, xin đề nghị ông nêu ý kiến về chuyện kích cầu này.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi rất thận trọng khi đề cập đến việc này và sẽ đi từng bước để thính giả của chúng ta hiểu ra sự hợp lý trong tiến trình quyết định về chính sách can thiệp kinh tế.

- Tôi cho rằng ta nên ý thức được hoàn cảnh bất thường của việc quản lý kinh tế ở cấp quốc gia khi kinh tế toàn cầu đang ở vào tình trạng phục hồi vẫn còn bấp bênh trong nhiều năm biến động và trước những nguy cơ khủng hoảng khác, về cả an ninh lẫn kinh tế. Chẳng hạn như từ chuyện Ukraine đến việc Trung Quốc phải chuyển hướng và Hoa Kỳ điều chỉnh lại chính sách kích thích kinh tế bằng biện pháp tiền tệ. Đó là về bối cảnh cho Việt Nam.

Vũ Hoàng: Nói về bối cảnh cho Việt Nam, ông nghĩ là người ta nên thận trọng như thế nào?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trước hết là tình trạng "mơ hồ" hay ambiguity của hệ thống thu thập thống kê thiếu rõ ràng. Một thí dụ ai cũng nói tới là sự mơ hồ của khối nợ xấu, không sinh lời và sẽ mất của các ngân hàng. Thí dụ khác là dấu hiệu đình trệ kinh tế của Quý một mà có người gọi là "giảm phát" hay "thiểu phát". Người ta thật ra chưa thống nhất ý kiến về các dấu hiệu này.

- Thứ hai là tình trạng bấp bênh hay bất định của môi trường kinh tế khiến cho không ai biết chắc là việc gì sẽ xảy ra. Đây là sự thể khách quan của lãnh đạo nhiều nước chứ không riêng gì của Việt Nam. Thứ ba là hiện tượng tôi xin gọi là "trồi sụt bất ngờ" hay "volatile", là khi mà kinh tế toàn cầu đang khúc quanh với giá nguyên nhiên vật liệu, thương phẩm, nông sản và lương thực lẫn tỷ giá đồng bạc có thể thăng giáng khá bất ngờ và gây hậu quả cho kinh doanh và kinh tế. Thứ tư và sau cùng, khi tổng hợp lại thì ta phải thấy rằng sinh hoạt kinh tế có yếu tố phức tạp từ bên trong ra lẫn từ bên ngoài tác động vào, chứ không là một bài toán đơn giản.

- Trong cái khung bốn góc là mơ hồ, bất định, trồi sụt và phức tạp của tình hình, người lãnh đạo kinh tế hoặc lãnh đạo bất cứ một lĩnh vực nào cũng phải nhìn thấy trước những gì mà người khác chưa thấy ra. Rồi từ đó xác định được thực tại và đề ra mục tiêu sẽ phải thi hành. Thông thường thì ta dễ rơi vào hoàn cảnh bất động nên chẳng dám làm gì và càng ở trên cùng thì càng dễ bị tê liệt. Trong khi ở dưới thì nhìn sự thể một cách đơn giản hơn nên tưởng là cứ làm việc này việc kia là xong. Lãnh đạo giỏi là người phải dám làm trên cơ sở của các dữ kiện thật ra chưa hoàn hảo. Đó là về bối cảnh chung, sau đó là mới nói đến kích cầu hay không.

Vũ Hoàng: Nhưng trước hết thưa ông, thính giả của chúng ta muốn biết "kích cầu" là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Câu hỏi đơn giản này thật ra rất hay vì giúp mình hiểu được là đang nói về chuyện gì.

- Trong một giai đoạn khá lâu, người ta cứ cho là kinh tế vận hành theo quy luật tự nhiên và tự động tìm ra một quân bình tối hảo nào đó. Thật ra, kinh tế là kết quả tổng hợp của nhiều quyết định kinh doanh của cả triệu cả tỷ tác nhân, là doanh nghiệp, nhà sản xuất hay giới tiêu thụ và có những chu kỳ lên hay xuống, tăng hay giảm. Khi một nền kinh tế còn phương tiện sản xuất dư dôi mà chưa đạt hết công xuất hoặc chưa giải phóng hết tiềm lực và vì vậy bị đình trệ hay suy trầm thì nhà nước có thể can thiệp. Biện pháp can thiệp thông dụng cứ được nói tới là kích thích số cầu trên thị trường, hay nói cho dễ hiểu là tạo ra sức hút. Nếu số cầu gia tăng thì doanh nghiệp hay con người sẽ tận dụng những phương tiện có sẵn, mà dư dôi vì chưa dùng tới, để nâng cao sản lượng và tạo thêm việc làm tức là gia tăng lợi tức cho người khác.

- Do đó, kích cầu chỉ là kích thích số cầu trên thị trường, để từ đó nâng mức cung và đem lại điều kiện lý tưởng mà ta gọi là "toàn dụng" hoặc tận dụng các phương tiện sản xuất có sẵn.

Vũ Hoàng: Thưa ông, thế tại sao nhiều người lại nói đến nguy cơ lạm phát của biện pháp kích cầu?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Vì người ta chưa hiểu hai chuyện quan trọng. Thứ nhất là phương tiện sản xuất dư dôi chưa được tận dụng. Nhà máy của tôi có thể sản xuất ra 1000 sản phẩm một ngày nhưng vì thị trường chỉ mua có 800 thì tôi không tận dụng công xuất để làm thêm 200 món hàng sẽ nằm chất đống trong kho. Nếu nhà nước có biện pháp kích cầu là nâng số cầu từ 800 lên 1000 thì nhà máy của tôi sẽ chạy hết công xuất, nhân viên có thêm việc làm và lợi tức.


- Thứ hai là chênh lệch cung cầu. Khi phương tiện sản xuất dư dôi ấy không có, như đất đai, thiết bị hay nhân công mà chưa có sẵn hoặc chưa sẵn sàng cho sản xuất mà người ta vẫn kích cầu, tức là vẫn bơm tiền vào kinh tế thì lượng tiền đó không tạo ra sức hút mà người ta trông đợi. Lượng tiền được bơm ra như vậy không khởi động cái nhà máy đã chạy hết công xuất mà chỉ làm nóng máy và gây ra một thất quân bình khác là quá nhiều tiền chạy theo những hàng hóa có giới hạn và đấy là nguyên do lạm phát. Nói chung, biện pháp can thiệp theo lối kích cầu như vậy phải đáp ứng tình hình thực tế để nhất thời khai thông một ách tắc giai đoạn. Khốn nỗi, bơm tiền ra thì dễ, chứ hút vào mới khó và yêu cầu nhất thời thường gây ra tai họa lâu dài.

Vũ Hoàng: Từ sự mô tả đó, ông có thể minh diễn vào hoàn cảnh của Việt Nam như thế nào?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta để ý thấy là đã có các chuyên gia kinh tế trong nước nêu ra hai vấn đề về kích cầu. Thứ nhất kích thế nào, vào đâu? Thứ hai là không nên kích dàn trải hoặc lại chạy theo nhu cầu của một số nhóm lợi ích thì lợi bất cập hại.

- Trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay, ta chứng kiến hai chuyện. Đầu tiên là khu vực kinh tế nhà nước thì có năng suất kém mà vẫn cứ được nhà nước nâng đỡ và kích thích vì thế lực của các nhóm lợi ích. Họ cần phương tiện của nhà nước qua ngân sách, công chi và các dự án của khu vực công, để đi làm những chuyện không có lợi cho kinh tế quốc dân mà có lời cho họ. Tiêu biểu mà ai cũng thấy là chuyện Vinashin hay Vinalines. Khi ấy, kích cầu chỉ là biện pháp nuôi béo thành phần này và phí tổn của biện pháp đó thì người khác phải gánh qua nạn bội chi ngân sách chẳng hạn. Vì vậy người ta mới hoài nghi chuyện kích cầu. Thật ra, nhà nước càng kích cầu thì dân càng khổ, chỉ có tay chân của nhà nước là sướng.

- Chuyện thứ hai là bên dưới hệ thống kinh tế nhà nước, cả triệu xí nghiệp tư nhân thì khốn đốn vì thiếu phương tiện cho sản xuất, thí dụ như vay tiền không được, hoặc phải vay với cái giá rất đắt từ tay chân của nhà nước. Ai cũng biết và nói rằng tư doanh mới tạo ra nhiều việc làm hơn và có hiệu năng đầu tư cao hơn là quốc doanh, tức là tốn ít mà lời nhiều về kinh tế. Nhưng tư doanh lại chết lâm sàng vì bị quốc doanh ớm bóng. Tôi nghĩ rằng vấn đề không phải là "kích cầu" mà "kích cung".

Vũ Hoàng: Chúng tôi hiểu rằng ông bắt đầu đi vào giải pháp. Thưa ông, thế nào là kích cung?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta biết rằng nhà nước cần và nên can thiệp vào kinh tế để tạo điều kiện phát triển hài hòa qua tăng trưởng có phẩm chất - chứ không nên chú mục vào mức tăng trưởng và sùng bái tốc độ tăng trưởng.

- Khi can thiệp thì nhà nước có thể nhắm vào về cầu để nhất thời tạo sức hút cho doanh nghiệp có sẵn phương tiện sản xuất dư dôi mà chưa dùng hết. Nhưng nhìn trong trường kỳ thì nhà nước còn phải nhắm vào vế cung, là khai thông những ách tắc để đẩy mạnh khả năng cung ứng. Tại Việt Nam, người ta cứ máy móc nói đến chữ "kích cầu" thay cho chữ "kích thích kinh tế" ở cả hai vế cung cầu. Ách tắc của Việt Nam là ở số cung khiến tiềm lực kinh tế mới bị nghẽn.

Vũ Hoàng: Phải chăng ông muốn nhắc tới lý luận hay học thuyết kinh tế gọi là "trọng cung" với biện pháp cắt thuế khá nổi tiếng tại Hoa Kỳ?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ hoàn cảnh kinh tế, xã hội, văn hóa và chính trị của mỗi nước lại mỗi khác nên mình không thể máy móc áp dụng một cách đồng dạng hay đồng hạng được.

- Thông thường, khi kinh tế bị đình trệ hay suy trầm, hoặc tệ hơn vậy là bị suy thoái nghĩa là có mức tăng trưởng thuộc số âm, thì ai cũng có thể nghĩ đến các biện pháp tín dụng là hạ lãi suất và bơm tiền cho vay, hoặc ngân sách là tăng chi hay giảm thuế. Những biện pháp ấy đều có thể công hiệu nhưng luôn luôn di hại với hậu quả bất lường nếu kéo dài quá lâu hoặc bơm không đúng chỗ và thổi lên bong bóng, lại còn tạo ra thói quen vay mượn mà khỏi nghĩ đến lúc trả nợ. Trường hợp của Việt Nam cũng có nhiều lúc như vậy khi ta nhớ đến lượng tín dụng ào ạt bơm ra và gây thất quân bình trong mấy năm trước.

- Tuy nhiên, vẫn nằm trong tinh thần phải nhắm vào vế cung hơn vế cầu, Việt Nam cần khai thông nhiều ách tắc để tư doanh góp phần nâng cao khả năng cung ứng, tức là làm ăn được dễ dàng và có lời. Muốn như vậy thì không chỉ có biện pháp nhất thời và vô dụng là giảm thuế theo một kỳ hạn nhất định mà phải giản lược hoá thủ tục hành chính và gia tăng mức độ minh bạch trong sáng của luật lệ kinh doanh để giải trừ được nạn tham nhũng và bắt bí tư nhân.

- Song song, Việt Nam cần cải cách để giảm thiểu vai trò và sức tác hại của khu vực kinh tế nhà nước và chấn chỉnh lại hệ thống ngân hàng lẫn thủ tục ngân sách để dẹp bớt các dự án được nhà nước tài trợ với lý cớ là kích cầu. Tôi cho rằng lãnh đạo kinh tế xứ này đều biết là cần làm như vậy và từ nhiều năm nay có nói tới cải tổ cơ chế mà chẳng đi tới đâu vì không vượt khỏi rào cản của các trung tâm quyền lợi nằm ngay trong hệ thống kinh tế chính trị của xứ này. Cách hay nhất để kích thích kinh tế là nhà nước nên thu bàn tay của mình về và đừng nói chuyện kích cầu nữa!

Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc trao đổi này.

Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tuyên bố mục tiêu của Washington là chấm dứt chế độ thần quyền tại Iran và buộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Islamic Revolutionary Guard Corps, IRGC) đầu hàng; nếu không, Hoa Kỳ sẽ sử dụng vũ lực, đồng thời chấm dứt mọi nỗ lực đàm phán liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran.
Có lẽ không bao giờ Melania Trump, người từng là Melanija Knavs, rồi Melania Knauss, trước khi trở thành Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump, tưởng tượng được là sẽ có ngày đó. Ngày bà điều hợp một hội nghị thượng đỉnh giáo dục toàn cầu, và nói về… giáo dục. Vì sao thì, chẳng cần phải nói rõ. Có những chuyện khi người ta đã muốn che giấu, thì nếu có đưa ra bằng chứng, họ cũng có trăm ngàn cách phản biện. Huống chi, đó là Melania Trump. Nhưng có một điều, không nói không được. Nghĩ là nói giùm bà đệ nhất phu nhân, cũng được. Hay trừu tượng hơn, nói giùm nhân loại vậy. Đó là, bà đã mạnh dạn, dũng cảm, đứng trước toàn thế giới, và nói về…Plato.
Giữa một thế giới đã quá quen với những lời ngụy biện, câu nói của Đức Giáo hoàng Leo XIV trong Thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá tại Quảng trường Thánh Phêrô vang lên như một sự thật không thể né tránh: “Chúa Giêsu là Vua Hòa Bình, không ai có thể nhân danh Ngài để biện minh cho chiến tranh.” Đó không chỉ là một câu trong bài giảng lễ. Đó là tiếng nói của lương tri, cất lên đúng lúc chiến tranh lan rộng, khi thế giới bị kéo vào những xung đột dữ dội, ngôn ngữ quyền lực trở nên thô bạo, và nhân tính bị thử thách đến tận cùng.
Từ thương trường bước vào chính trường, Donald Trump mang theo cùng một thứ nhãn hiệu: tên ông. Trong thời làm ăn, đó là thương hiệu. Nó in lên cao ốc, chai rượu, thịt bít-tết. Đó là lối tiếp thị của một nhà buôn, ồn ào nhưng vẫn còn nằm trong khuôn khổ tư doanh. Nhưng khi người mang thương hiệu ấy đã thành nguyên thủ quốc gia, câu chuyện đổi tính chất. Nó không còn là quảng cáo nữa. Nó là dấu hiệu về quyền lực và về cách người cầm quyền nhìn quốc gia. Trong nhiệm kỳ thứ hai, tên Trump không chỉ là chữ trên tài sản riêng. Nó bước vào cơ quan công quyền: tòa nhà liên bang mang tên ông, băng-rôn treo mặt ông, chương trình của chính phủ in chữ ký ông, phi trường đổi sang tên ông. Tên một người đang dần đi vào các biểu tượng của quốc gia. Đó là điều mà một nền cộng hòa phải cảnh giác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.