Hôm nay,  

Thời Chuyển Biến

03/09/201400:00:00(Xem: 5700)

...động lực thật của phát triển,... là khả năng sáng tạo.

Không phải là chính sách kích cầu bằng tín dụng, hay kích cung bằng biện pháp giảm thuế, một động lực chủ yếu của công cuộc phát triển kinh tế quốc gia chính là sức sáng tạo của thị trường. Với nhiều phát minh mới trong kinh doanh tại các nước tiên tiến, sức sáng tạo ấy có đà gia tốc ngày một cao hơn vì thế giới đã bước qua "thời chuyển biến". Diễn đàn Kinh tế phân tích sự thể này qua phần trao đổi do Vũ Hoàng thực hiện cùng chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa....

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, kỳ trước, khi nói về những trái bom nổ chậm tại Việt Nam, ông nêu vấn đề là việc kích thích kinh tế bằng tín dụng có hậu quả là gia tăng vay nợ và dẫn tới núi nợ xấu khiến kinh tế có thể bị khủng hoảng tài chính. Kỳ này, chúng tôi xin tiếp tục hỏi thêm là người ta còn có những cách gì để giải phóng tiềm lực sản xuất của một quốc gia?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ là để hiểu vấn đề ta cần nhìn vào bối cảnh hơi có vẻ lý thuyết về kinh tế chính trị học rồi mình mới tìm ra một giải đáp thỏa đáng.

- Thật ra còn quá trẻ vì mới chỉ có hơn 200 năm trong cả vạn năm hiện hữu của xã hội con người, môn kinh tế học không là khoa học có khả năng mô tả thực tế một cách chính xác để từ đó tìm ra các đòn bẩy có thể kích thích sản xuất hay đà tăng trưởng để đưa tới phát triển. Trong sự dọ dẫm đó, loài người có cải tiến cách đo đếm và đề nghị một số giải pháp với kết quả thật ra giới hạn và những người đề nghị các giải pháp ấy chỉ có lý được năm bảy năm mà thôi. Vì vậy, một bài học của khoa kinh tế chính là sự khiêm nhường về khả năng tác động, là điều mà người làm chính sách lại ít khi công nhận. Đấy là ta chưa nói đến loại hậu quả bất lường và tai hại của khả năng tác động này, mà mình sẽ tìm hiểu sau.

- Trên đại thể, người ta nghiệm thấy là sinh hoạt kinh tế có những giai đoạn thăng giáng trong ngắn hạn giữa những chu kỳ thịnh suy dài hạn hơn. Khi kinh tế tăng trưởng chậm hơn, hoặc bị suy trầm hay thậm chí suy thoái và khủng hoảng, thì người ta tìm cách điều chỉnh và kích thích.

- Vì thiếu am hiểu, ban đầu người ta nghĩ đến giải pháp kích thích số cầu như kinh tế gia John Maynard Keynes đã chủ trương từ 80 năm trước, và ngày nay nhiều nơi còn áp dụng với hậu quả thường xảy ra là nạn bội chi ngân sách và lạm phát, trong khi nhà nước bành trướng sự can thiệp của mình mà không muốn thu lại nữa. Sau đó từ nửa thế kỷ nay, một trường phái khác lại cho yếu tố ổn định tiền tệ mới quan trọng và nên kích thích số cung, như nên giảm thuế cho giới sản xuất và nhà nước giữ gìn quân bình ngân sách để bảo vệ trị giá của đồng bạc. Cuộc tranh luận giữa hai loại giải pháp ấy dẫn tới sự khác biệt giữa xu hướng can thiệp bên cánh tả và tự do bên cánh hữu, trong khi thực tế kinh tế lại không hẳn là gọn gàng đơn giản như vậy.

Vũ Hoàng: Thực tế kinh tế ấy là gì thưa ông?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thực tế kinh tế là xã hội con người là điều gì đó quá phức tạp, và ngày càng phức tạp hơn. Cho nên chẳng ai có thể mô tả thực tế đó với một mô hình xuất phát từ khoa vật lý để dựa trên các thông số rất trừu tượng như một phương trình toán học mà đòi tác động vào yếu tố này hay yếu tố kia với kết quả rất máy móc.

- Tôi xin lấy một ví dụ cụ thể là phạm trù sản lượng hay khái niệm GDP đang được thảo luận tại Việt Nam. Mọi quốc gia trên thế giới đều gặp bài toán biểu trưng ấy và thường xuyên cải sửa để tìm một cách diễn tả trung thực hơn. Điều nguy hiểm là khi con người ta mắc bệnh duy ý chí mà tin vào cách mô tả quá hời hợt và thiếu chính xác này để đề cao giải pháp thần diệu của mình.

- Karl Marx là người tiêu biểu cho tinh thần trừu tượng ấy khi giải thích sự vận hành của kinh tế và xã hội, lại mắc bệnh duy ý chí khi cho là mình có kế hoạch thần diệu để giải quyết bài toán khan hiếm của nhân loại. Tiếp theo, Lenin còn tệ hơn và có tội với nhân loại khai triển tư tưởng của Marx với lý luận khiên cưỡng và tổ chức chuyên chính. Ngày nay, một số quốc gia lạc hậu vẫn còn lấy chủ nghĩa Mác-Lenin này làm cơ sở hành động, với hậu quả là làm quốc gia không phát triển mà chỉ để bảo vệ chế độ độc tài và duy trì quyền lợi cho tay chân.

- Nếu dưới địa ngục cũng có các giải thưởng của quỷ dữ thì Marx và Lenin đáng được Giải Nobel về Kinh tế và Stalin, Mao Trạch Đông hay Hồ Chí Minh được Giải Nobel Hòa bình về thành tích tàn sát và phá hoại trong khi các nước áp dụng lý luận này đều lụn bại. Ta sẽ thấy ra điều ấy khi nói tới động lực thật của phát triển, nó không phải là kích cầu hay kích cung, tập trung quản lý hay tự do thị trường mà nó là khả năng sáng tạo.

Vũ Hoàng: Ông bắt đầu ra khỏi bối cảnh mà đi vào cốt lõi của vấn đề là sự sáng tạo. Đấy là gì vậy, thưa ông?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa là vào thời phôi thai của kinh tế học, người ta thấy yếu tố góp phần tăng gia sản xuất gồm có tư bản và lao động, tức là đất đai, máy móc và sức làm việc của con người. Nếu gia tăng lượng tư bản và lao động thì người ta có tăng trưởng kinh tế. Nhưng sự gia tăng ấy không diễn biến theo đường thẳng, giả dụ như nếu đầu tư bằng cách nâng mức tư bản và lao động gấp đôi thì sản lượng chẳng vì vậy mà tăng gấp hai. Ngược lại, nhìn về dài thì hiệu suất đầu tư đó lại giảm và Marx giải thích sai cái hiện tượng tiệm giảm này bằng lý luận hàm hồ.


- Cách nay 90 năm, một kinh tế gia người Nga là Nikolai Kondratieff nghiệm thấy là xã hội con người tiến hóa theo chu kỳ và trải qua nhiều giai đoạn thăng giáng lên xuống khá đều đặn kéo dài khoảng năm sáu chục năm. Sau đó người ta mới giải thích được hiện tượng ấy ở những phát minh lớn từ cuối thế kỷ 18, qua thế kỷ 19 và 20. Các phát minh đó, như nhà máy chạy bằng hơi nước, đường xe lửa, thiết bị kim loại rồi điện năng hay điện thoại, v.v.. đã đảo lộn quy trình sản xuất của xã hội, tạo ra phương thức mới với hiệu suất cao hơn mà đào thải nhiều lề lối cũ. Người ta coi đó là sự tiến bộ, mà cũng thấy tiến trình đảo thải ấy có gây ra vấn đề và làm nhiều người cưỡng chống. Đây không là bài toán kinh tế mà là hiện tượng xã hội đã có từ ngàn xưa, đó là sự đối nghịch giữa cái cũ và cái mới, với sự tiến bộ chuyển dịch rất chậm trong lịch sử.

Vũ Hoàng: Phải chăng vì đã có từ ngàn xưa nên nhiều người mới tìm ra lý luận để cưỡng chống sự thay đổi ấy vì muốn bảo vệ nguyên trạng và quyền lợi của họ trong hình thái sinh hoạt cũ?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa rằng đúng như thế và yếu tố đáng chú ý ở đây là sự tiến bộ có mặt trái tất yếu là sự đào thải. Một kinh tế gia người Mỹ gốc Áo nói đến "sự hủy diệt của sáng tạo" và xã hội nào muốn tránh sự hủy diệt ấy thì cũng cản trở sự sáng tạo, tức là từ chối tiến hóa.

- Chuyện rắc rối là đến gần đây hơn, người ta lại nghiệm thấy một điều mới hơn nữa. Đó là các phát minh xuất hiện dồn dập hơn, khiến một chu kỳ thịnh suy không kéo dài năm sáu chục năm như trước đó mà chỉ vài chục năm là lại có thay đổi hay hủy diệt. Ngày nay, qua thế kỷ 21, người ta cho là cứ mươi, 15 năm là lại có một làn sóng phát minh mới làm đảo lộn quy trình sản xuất hay lời lãi và đòi hỏi sự thích ứng hay ứng phó của xã hội. Người ta gọi đó là "Thời Chuyển Biến". Chuyển là có thay đổi, nhưng thay đổi nhanh hơn nên mới gọi là "biến". Vì sợ cái biến, nhiều doanh nghiệp không chuyển được nên mới bị đào thải, nhiều xã hội thì bị tụt hậu.

Vũ Hoàng: Thính giả của chúng ta có thể mường tượng ra điều ấy khi thấy là các nước tiên tiến đang sử dụng những phương tiện sinh hoạt hay sản xuất rẻ hơn và chưa hề có trước đó 15 năm, trong khi các xã hội lạc hậu thì vẫn nghèo và không áp dụng được cái mới trong đời sống.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa là đúng vậy và người Việt có thể nghĩ đến kinh nghiệm Nam Hàn để so sánh. Nửa thế kỷ trước, Nam Hàn chỉ là một nước đang phát triển, với xe hơi hay đồ gia dụng kém phẩm chất nếu so với sản phẩm của Nhật Bản hay Âu-Mỹ. Ngày nay, họ trực tiếp cạnh tranh với khối công nghiệp hoá và trở thành một nước tiên tiến với nhiều sản phẩm của sáng tạo làm thay đổi quy trình sản xuất, thay đổi luôn cách đo đếm tư bản và lao động.

- Trong một thế giới mà sự sáng tạo đang có đà gia tốc rất cao, cứ dăm ba năm lại có sản phẩm mới, từ dược phẩm đến máy tính, cách thông tin liên lạc hay thiết bị sản xuất thì bài toán kinh tế quả thật đã bị đảo lộn. Hậu quả là khoảng cách lợi tức giữa các quốc gia có sáng tạo và các nước khác lại càng mở rộng mà người ta không thể giải thích sự khác biệt bằng lý luận bóc lột được. Có chăng thì đấy là sự bóc lột của một thiểu số có quyền trong các nước lạc hậu vì nhân danh những điều hàm hồ mà đòi kiểm soát sinh hoạt của người dân và cản trở sự sáng tạo.

Vũ Hoàng: Chúng ta đi tới phần kết luận. Thưa ông, thế nào là cản trở sự sáng tạo?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Từ bối cảnh đến yếu tố chủ yếu của phát triển là sự sáng tạo thì ta thấy ra vài quy luật sau đây.

- Thứ nhất là trong một chu kỳ sinh hoạt kinh tế, việc kích thích kinh tế ở vế cung hay vế cầu đều cần thiết, nhưng với hậu quả có khi bất lợi mà người làm chính sách tức là nhà nước phải cẩn trọng và thấy trước để tránh những liều thuốc đổ bệnh hay quả bom nổ chậm. Thứ hai là trong sinh hoạt của xã hội, nhà nước cũng phải can thiệp để giữ gìn trật tự và nhất là bảo đảm cho mọi người dân đều có quyền bình đẳng như nhau, chứ không một thiểu số nào lại có ưu thế lấn áp người khác để trục lợi riêng, là điều xảy ra tại các nước độc tài.

- Quan trọng nhất, trước đà gia tốc của sự sáng tạo trong cái mà ta gọi là "Thời Chuyển Biến", khi nhà nước và tay chân cố tình bảo vệ trật tự cũ bằng sự cấm đoán thì mặc nhiên cản trở sự sáng tạo và làm cho quốc gia khó phát triển được. Người ta có nhiều cách cản trở sự sáng tạo khi kiểm soát sinh hoạt kinh tế, khi quyết định là thành phần kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và khi bắt cả nước phải theo chân lý nhảm bằng kiểm soát tư tưởng và giáo dục ngu dân về chủ nghĩa Mác-Lênin.

- Hồi nãy, sở dĩ tôi nhắc đến Lenin với giải Nobel của quỷ dữ vì ông ta đặt nền móng cho chế độ toàn trị khi đưa ra nguyên tắc "dân chủ tập trung" đầy gian trá, khi giải thích sự tiến hóa bằng chủ nghĩa đế quốc, khi quy định một cách tiên thiên rằng lý luận này mới đúng, lý luận kia là sai và đàn áp những ai đòi xét lại chân lý của nhà nước. Ngày nay, nhiều quốc gia kể cả Việt Nam, vẫn chưa giải được cái ách đó mà tiếp tục chà đạp tự do và cản trở sự sáng tạo nên sẽ không thể phát triển được.

Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa về lối phân tích này.

Cô tự nhủ, cũng chưa đến nỗi nào. Anh la hét, chửi mắng, nhưng chưa hẳn đánh cô. Anh sỉ nhục người khác, nhưng vì cô hiểu và yêu anh, cô tin mình sẽ không bị đối xử như thế. Hồi mới quen anh, cô có việc làm, đủ ăn đủ xài. Bây giờ, móc túi không đủ tiền đổ xăng, cô cũng không một lần oán anh. Bị anh dụ ngọt, gạt hết lần này tới lần khác, cô ôm khư khư vào lòng cái lần đầu hiếm hoi anh cho cô cảm giác mình được bảo vệ, bênh vực. Chỉ một cái ôm, một câu nói “mình em hiểu anh thôi” là đủ vốn liếng để cô tự nuôi sống mối “tình anh với em” dài tập trong đầu.
Diversity, Equity, Inclusion — viết tắt DEI — dịch nôm là “Đa dạng, Công bằng, Hòa nhập”, là một khái niệm đã trải qua nhiều chặng lịch sử ở Hoa Kỳ. Sau phong trào dân quyền thập niên 1960, trọng tâm là “cơ hội bình đẳng”: chấm dứt phân biệt chủng tộc, mở cánh cửa trường học và công sở cho người da màu. Về sau, với chính sách “affirmative action”, chính quyền, đại học và doanh nghiệp chủ động nâng đỡ các nhóm thiểu số, không chỉ để bù đắp bất công lịch sử, mà còn để điều chỉnh cơ cấu nhân sự cho tương xứng với diện mạo dân số mới: một lực lượng lao động đa sắc tộc, đa văn hóa cần có mặt trong vị trí chuyên môn, quản trị và phục vụ công cộng. Những chương trình ấy vì thế vừa đáp ứng yêu cầu công bằng, vừa phục vụ nhu cầu thực tế của một xã hội ngày càng đa dạng.
Bản tin có tựa đề "Trump Eyes 250 Pardons to Celebrate America's 250th Birthday" trên tờ Wall Street Journal hôm nay, thứ Tư, 13/5, là một dòng chữ không thể bỏ qua. Nó không phải là một niềm vui để san sẻ với người được ân xá. Nó là câu chuyện về công lý hay công bằng. Nó là một câu chuyện về quyền lực, về tiền bạc, và về ai được gì trong thế giới của chúng ta. Nó là một câu chuyện mà chúng ta, những người đã đang bị chính quyền lừa dối, những người đã mất tiền của mình vào các tượng đài, phòng khiêu vũ, các chuyến đi đánh golf hàng tuần, cần phải chú ý đến.
Vào ngày 28/4/2026, một sự kiện hiếm hoi đã diễn ra bên trong Quốc Hội Hoa Kỳ. Vua Charles III của Vương quốc Anh đã có bài diễn văn trước phiên họp lưỡng viện Quốc Hội, trở thành vị quân vương Anh thứ hai trong lịch sử làm điều này. Vua Charles III mở đầu bài diễn văn bằng sự hài hước và khiêm tốn, sự kết hợp mà những người quyền lực hiếm khi làm được. Ông thừa nhận mối căng thẳng lịch sử giữa Anh và Mỹ, rồi cười nhẹ khi nhắc rằng ông là hậu duệ đời thứ sáu của Vua George III, vị quân vương mà các nhà sáng lập Hoa Kỳ đã nổi dậy chống lại.
Chủ Nhật đối với tôi là một thứ giao kèo âm thầm với chính mình. Đó là ngày ráng thu mình trong bốn bức tường nhà, không hội hè, không sự vụ, không để thiên hạ lôi đi đâu. Buổi sáng cà-phê với chính mình, rồi ra vườn lom khom nhổ cỏ, tưới rau, ngó xem có thêm cái chồi non lá mới nào. Rồi trở vào bàn mở computer gõ bài cho mục “Trước Thời Cuộc” mỗi tuần. Sáng nay cũng vậy, chỉ khác ở chỗ khi màn hình sáng lên, tôi thấy cái đầu mình… đuối. Không phải vì hết chuyện để nói. Thời buổi này đề tài dư thừa. Chỉ là cái đầu dường như do dự, ngần ngại. Nó muốn quay trở ra vườn hơn là bước vào cái thế giới bất an đang chờ trên màn hình.
Ngày 29–4–2026, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ ban hành một phán quyết được coi là bước ngoặt, cho phép thu hẹp quyền lực lá phiếu của các nhóm thiểu số tại Hoa Kỳ, khi tuyên bố một đơn vị bầu cử đa số da đen ở Louisiana là “gerrymander vi hiến” và đồng thời thay đổi cách hiểu Đạo Luật Quyền Bầu Cử (Voting Rights Act – VRA). Với tỷ số 6–3, đa số bảo thủ trong tòa cho rằng bang Louisiana đã vi phạm luật khi vẽ thêm đơn vị quốc hội thứ nhì có đa số cử tri da đen. Thẩm phán Samuel Alito, viết thay cho đa số, khẳng định tòa vẫn duy trì một trụ cột của Đạo Luật Quyền Bầu Cử là điều khoản 2, vốn cấm mọi “thực hành hay thủ tục bầu cử mang tính kỳ thị dựa vào chủng tộc, màu da hoặc các nhóm thiểu số ngôn ngữ” được liệt kê trong đạo luật.
Trong thời gian gần đây, khi có dịp đi tham quan ở vùng quê của Maryland, Virginia, và Pennsylvania, tôi nhận ra một điều mà một số sách báo đã mô tả. Đó là cảnh nông dân Mỹ bỏ hoang ruộng đồng mà không trồng trọt hoa mầu trong năm 2026.
Từ năm 1946 trở đi, tình hình chính trị Việt Nam bước vào một giai đoạn vô cùng khó khăn và phức tạp. Chính quyền Cách mạng vừa mới thành lập phải đối mặt với nhiệm vụ bảo vệ nền độc lập dân tộc và đồng thời xây dựng đất nước. Miền Bắc đang chịu nạn đói hoành hành, ngân khố quốc gia kiệt quệ, trình độ dân trí thấp với hơn 90% dân số mù chữ. Tất cả những vấn đề này đòi hỏi phải được giải quyết khẩn cấp...
Nàng nhắm mắt. Thở thật sâu, thật chậm. Hai bàn tay nắm chặt. Nàng cảm giác hai thái dương đang giựt run bần bật. Những sợi gân xanh đang đổ dồn hết ra ngoài da thịt. Nàng cố tự trấn an. Ôi, lạy Chúa tôi. Người đã dạy những lúc như thế nào phải làm sao? Nàng không nhớ. Lâu lắm rồi, nàng có cầm đến cuốn Kinh Thánh đâu mà nhớ. Nàng tự nhủ, “lâu đến nỗi chắc Chúa cũng bỏ mình đi rồi.” Nàng không thể giữ bình tĩnh được nữa. Những năm tháng im lặng, nhẫn nhịn, chịu đựng. Tất cả phải chấm dứt. Chấm dứt ngay hôm nay. Nàng đã làm theo tất cả những gì họ muốn. Họ muốn nàng nói, nàng không im lặng. Họ muốn nàng im lặng, nàng không bao giờ nói. Họ muốn nàng nói gì, nàng đọc đúng kịch bản. Bây giờ, họ muốn nàng giận? Được, thì nàng sẽ giận. Cơn giận của nàng lúc này sẽ thêm phần rùng rợn
Trong một thế giới nhiều bất trắc, những điều quen thuộc thường đem lại cảm giác yên ổn. Tại một quán cháo bình dân ở Hồng Kông, thực khách có thể trả tiền bằng đô-la Hồng Kông, bằng đồng nhân dân tệ, hoặc bằng đồng e-CNY, tức đồng nhân dân tệ kỹ thuật số do Ngân hàng Trung ương Trung Quốc phát hành. Dù người quản lý quán cho biết chưa từng thấy ai thật sự dùng đồng e-CNY để trả tiền, hiện đã có hơn 5,000 cơ sở tại Hồng Kông chấp nhận loại tiền mới này.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.