Hôm nay,  

Một Sự Dè Dặt Rất Cần Thiết

26/07/201500:01:00(Xem: 6007)

Một sự dè dặt rất cần thiết

Bùi Tín

 

Chỉ còn hơn 6 tháng nữa là Đảng Cộng sản Việt Nam họp Đại hội toàn quốc lần thứ XII (trong quý 1/2016). Chuyến đi thăm chính thức Hoa Kỳ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã diễn ra và sau đó được bình luận khá sôi nổi ở trong nước cũng như ngoài nước.
Ý kiến khen ngợi, vui mừng, đánh giá cao «chuyến đi lịch sử» này không hiếm.
Ở trong nước, ông Hoàng Bình Quân, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương đảng đánh giá «cuộc đi thăm chính thức đã thành công», «lòng tin được xác lập», «với thịnh tình và chân tình». ông Hoàng Anh Tuấn, Viện trưởng Viện nghiên cứu Bộ Ngoại giao còn «hãnh diện về chuyến thăm lịch sử», «vượt qua mọi hy vọng, với 14 văn kiện được ký kết, mở ra triển vọng trong quan hệ giữa 2 nước trên các mặt thương mại, đầu tư, ngân hàng, giáo dục, hàng hải, an ninh».
(trên báo Đời sống và Pháp luật ngày16/7)

Bộ máy tuyên huấn của đảng tất nhiên cố tình thổi phồng kết quả của chuyến đi thăm này, theo tập quán «tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lại», dùng ngoa ngôn, xảo ngôn quen thuộc để thổi phồng kết quả, trong khi cuộc khủng hoảng niềm tin của quần chúng vẫn có xu hướng gia tăng, cuộc sống dân thường đầy khó khăn, nợ quốc gia tăng cao, giáo dục trì trệ, nền y tế xã hội tụt hậu, xã hội mất an ninh, giao thông không an toàn, bất công xã hội mở rộng, nạn tham nhũng, tệ hối lộ dai dẳng, mua quan bán tước công khai, trắng trợn. Bức tranh xã hội khi Đảng CS chuẩn bị Đại hội XII vẫn một màu xám đậm, khi Báo cáo chính trị và các văn kiện sẽ trình Đại hội vẫn một mực cưỡng bách toàn đảng và toàn dân «kiên trì chủ nghĩa Mác- Lênin, kiên trì chủ nghĩa Xã hội và chủ nghĩa Cộng sản, kiên trì chế độ độc đảng, kiên thì lấy kinh tế quốc doanh làm chủ đạo» - 4 cái gông tệ hại đã tròng vào cổ dân ta suốt 70 năm nay và là nguồn gốc chính của muôn vàn đau khổ, tụt hậu, tàn phá và bất công.

Lúc này, toàn dân ta, nhất là các chiến sỹ đang đấu tranh cho nhân quyền, dân chủ và tự do trong và ngoài nước cần hết sức tỉnh táo, đánh giá đúng tình hình các sự kiện, không tô hồng, cũng không bôi đen, đánh giá đúng tình hình thật sự, rút ra những kết luận thiết thực cho hành động trước mắt để giành cho nhân dân ta những bước tiến mới của phong trào.

Quả thật mối quan hệ giữa «Hoa Kỳ - Dân chủ» với «Việt Nam - Độc đoán» đã có một bước cải thiện đáng kể so với trước. Nhưng đó là những bước tiến bộ khó khăn, còn rất hạn chế, chậm chạp, đầy trắc trở, rất xa dưới tiềm năng, càng còn rất xa so với nguyện vọng của đông đảo người dân bình thường, của giới trí thức dân tộc, của tuổi trẻ tinh hoa của đất nước, nhất là của lực lượng dấn thân cho dân chủ.

Cần nhận rõ Tổng thống Barack Obama đã có một số nhân nhượng chiến thuật đối với nhà lãnh đạo độc đảng toàn trị ở nước ta. Cần nhận rõ quan hệ giữa một thể chế dân chủ và một thể chế độc đoán là mối quan hệ đối lập, đối kháng về bản chất, không bao giờ thay đổi. Bạn bè có trăm loại bạn bè - từ bạn bè thân thiết, chí cốt, liên minh chiến lược toàn diện gắn bó lâu bền cho đến bạn bè chiến thuật tùy lúc, tùy vấn đề, cò kè mặc cả, cân nhắc lợi hại, nhân nhượng qua lại với nhiều trắc trở khó khăn.

Tuy giữ một số nguyên tắc như không treo cờ 2 nước, không bắn 21 phát đại bác, không duyệt đội quân danh dự, không thết quốc yến, không ôm hôn thân thiết, cũng không mời nói chuyện trước Quốc hội Hoa Kỳ, Tổng thống Mỹ đã nhân nhượng tiếp ông Trọng trong Tòa Bạch Ốc tuy ông Trọng không cầm quyền từ lá phiếu cử tri. Lý do nhân nhượng là vì Hoa Kỳ đang có mối lo chiến lược rất lớn là ngăn chặn sự nổi lên của đế quốc mới Cộng sản, bành trướng Trung Hoa, thực hiện «chiến lược xoay trục sang châu Á - Thái Bình Dương», nhằm bảo vệ hòa bình, an ninh, tư do của nhân dân Hoa Kỳ và toàn thế giới. Hoa Kỳ lại đang phải gánh vác trách nhiệm chống Nhà nước Hồi giáo IS ở Trung Đông, chống bọn khủng bố quốc tế, đồng thời bảo vệ ổn định, hòa bình, an ninh hàng hải ở khu vực Đông Nam Á.

Lẽ ra lãnh đạo đảng CSVN có thể tỏ ra thức thời, nắm vững thời cơ, tận dụng chiến lược xoay trục của Hoa Kỳ, thoả mãn những yêu cầu hợp lý của Hoa Kỳ, như mạnh dạn từ bỏ lập trường phụ thuộc Trung Quốc từ sau sự kiện Thành Đô năm 1990, trả tự do cho các nhà dân chủ đang bị cầm tù, tôn trọng quyền lập công đoàn tự do của người lao động, sửa chữa những điều khoản trong bộ Luật hình sự rất phi lý về cái gọi là «lợi dụng quyền tự do dân chủ», từ bỏ việc coi kinh tế quốc doanh là chủ đạo để khuyến khích tư do cạnh tranh của các nhà kinh doanh nhỏ, vừa và các nhà đầu tư quốc tế. Về cơ bản lãnh đạo VN chỉ khôn ngoan dùng từ ngữ mềm dẻo dễ nghe để che dấu đường lối kiên trì thân Trung Quốc, Bắc thuộc và chế độ đảng trị chống tự do dân chủ cố hữu.

Chính do sự nhu nhược ươn hèn, không dám thoát sự khống chế dai dẳng của Bắc Kinh mà ông Trọng đã phải sang bái yết thiên triều trước cuộc Mỹ du, và sau khi đi Mỹ về lại phải tiếp Phó Thủ tướng Trung Quốc Trương Cao Lê để tường trình.

Cũng do đó mà nhà báo Shawn W. Crispin (trên báo The New York Times ngày 17/7) cho rằng thành tựu chuyến đi của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là “chưa đáng kể, mới chỉ mang tính biểu tượng mà thiếu thực chất”, việc bán vũ khí sát thương cho VN còn rất hạn chế, khả năng cung cấp thiết bị công nghiệp quốc phòng chưa được rõ ràng, việc chung sức hoạt động quân sự chưa được đặt ra. Tổng thống Obama vẫn nhắc đến vấn đề tôn trọng nhân quyền, thực thi quyền dân chủ và pháp quyền là những vấn đề còn tồn tại để có thể đi xa hơn nữa trong mối quan hệ giữa 2 nước. Vấn đề then chốt về kinh tế là công nhận VN đã có “nền kinh tế thị trường” vẫn còn treo lơ lửng.

Tuy đã có 14 văn kiện được ký kết về các mặt giáo dục, thương mại, ngân hàng, dầu khí, điện lực, thuế quan nhưng xem ra các công ty kinh doanh Hoa Kỳ không mấy hứng khởi, vồ vập. Vẫn theo The New York Times (số nói trên), khi tự do kinh doanh còn bị kinh tế chỉ huy khống chế, vấn đề thuế khóa chưa minh bạch, luật pháp chưa nghiêm minh, tham nhũng, hối lộ còn nặng nề, thì các nhà kinh doanh Hoa Kỳ khó có thể coi VN là mảnh đất thuận lợi, còn lâu Hoa Kỳ mới có thể từ bỏ vị trí thấp, đứng thứ 7 trong các đối tác làm ăn với Việt Nam, trong khi Trung Quốc vẫn nắm rất chặt nền chính trị, kinh tế, thương mại và các khoản đầu tư lớn nhất về xây dưng cơ khí, hoá chất, thủy điện và nhiệt điện, giao thông, trồng rừng, khai thác khoáng sản như bauxite trên khắp cả nước.

Vì những lẽ trên, kết luận rút ra qua chuyến đi của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là nhân dân ta cần rất tỉnh táo, không bị mê hoặc bởi tuyên truyền ngoa ngôn của bộ máy tuyên huấn của Đảng CS, cần tạo nên sức ép mạnh mẽ về nhu cầu cấp cấp bách Thoát Trung. Các nhà báo độc lập, các blogger tự do, các tổ chức xã hội dân sự ngày càng lớn mạnh hãy tự tin kết hợp chung sức đấu tranh kiên trì đòi tự do báo chí, tự do tôn giáo, trả tự do cho các anh chị em còn trong tù, kiên trì đòi thay đổi hẳn hệ thống chính trị từ độc đoán sang dân chủ, thay đổi hẳn đường lối đối ngoại từ phụ thuộc bành trướng sang xoay kết bạn thân thiết toàn diện với Hoa Kỳ và các nước dân chủ toàn thế giới. Đó là con đường sống, con đường phát triển trong độc lập, tự do, bình đẳng, hạnh phúc và văn minh.

Không có một con đường nào khác. Hơn lúc nào hết, đất nước ta cần một sức ép xã hội mạnh mẽ của công luận. Đây mới là yếu tố quyết định.

Bùi Tín, VOA’s Blog

 



.
.

Đã từ lâu, những gì Donald Trump nói, làm, hoặc tung ra trên Truth Social Media, đã không còn là một tuyên bố mang tính chuẩn mực cao nhất của quốc gia. Nó cũng không còn bao hàm những quyết định quan trọng mà người dân mong chờ sẽ mang đến một xã hội tốt đẹp hơn, an toàn hơn. Không phải những cận thần chung quanh Trump không nhận ra điều đó. Rõ nhất là “Thằng Ất” và “Thằng Giáp” – hai kẻ đã từng đưa ra lời chỉ trích mạnh mẽ thời chưa bước vào cửa quan. “Thằng Ất” JD Vance hồi năm 2016 đã nhắn tin cho một người bạn học cũ, gọi Trump là "Hitler của nước Mỹ.” Trong một bài viết đăng trên tờ The Atlantic vào năm 2016, Vance mô tả Trump như một thứ "’heroin’ văn hóa.”
Trong kho tàng ngụ ngôn Aesop có hai câu chuyện. Một chuyện kể về cậu bé chăn cừu thích lấy nỗi sợ của cả làng ra làm trò đùa. Cậu nhiều lần hét to “Sói! Sói!” để lừa người lớn chạy hộc tốc lên đồi, rồi bỏ về, bực bội vì bị lừa. Đến một ngày nọ, sói thật xuất hiện, cậu kêu cứu đến khản cổ mà không còn ai buồn chạy lên đồi cứu giúp, khiến đàn cừu của cậu bị sói vồ sạch. Chuyện thứ hai kể về một con sói thật kiên nhẫn. Ngày này qua ngày khác, nó lảng vảng đến gần đàn cừu. Lúc đầu, người chăn cừu cảnh giác, luôn tay xua đuổi nó. Nhưng sói chỉ đứng xa, trông hiền hòa, không vồ con nào. Lâu dần, chàng chăn cừu quen thuộc với sự hiện diện của Sói, cho đến khi bóng dáng con vật trở nên một phần của phong cảnh xung quanh đàn cừu. Tới một hôm bận việc, anh cả tin đến mức gửi luôn đàn cừu cho sói “trông hộ”. Tối về, chuồng chỉ còn vài con sót lại.
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.