Hôm nay,  

Bất ổn kinh tế còn kéo dài

08/01/201610:01:00(Xem: 5655)
Bất ổn kinh tế còn kéo dài
 
Joseph E. Stiglitz
 
Đỗ Kim Thêm dịch

Năm 2015 là một năm quá khó khăn cho khắp mọi nơi. Brazil rơi vào suy thoái. Kinh tế Trung Quốc trải nghiệm một cuộc va chạm nghiêm trọng đầu tiên sau gần bốn thập kỷ tăng trưởng nhanh chóng và gian nan. Khu vực sử dụng tiền euro quản lý để tránh cho Hy Lạp khỏi sụp đổ, nhưng tình trạng gần như trì trệ vẫn còn tiếp tục, nó góp phần làm cho những gì mà người ta chắc chắn sẽ xem đây như là một thập kỷ bị mất. Đối với Hoa Kỳ, năm 2015 được dự đoán là năm cuối cùng xếp lại cuốn sách về cuộc Đại suy thoái, mà nó đã bắt đầu mở ra từ năm 2008; thay vào đó, sự phục hồi của Mỹ đang là khá vào mức trung bình.


Thật vậy, Christine Lagarde, Giám đốc điều hành của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, đã tuyên bố là tình trạng hiện nay của nền kinh tế toàn cầu là bình thường mới. Những người khác, khi hồi tưởng tình trạng cực kỳ bi quan sau khi kết thúc Thế chiến thII, họ e sợ rằng nền kinh tế toàn cầu có thể rơi vào suy trầm, hoặc ít nhất là tình trạng trì trệ còn kéo dài.


Đầu năm 2010, tôi đã cảnh báo trong cuốn sách của tôi là Freefall, trong đó tôi mô tả các biến cố dẫn đến cuộc Đại suy thoái, mà nếu không có các phản ứng thích hợp, thì thế giới chịu liều rơi vào những gì tôi gọi là một cuộc Đại Hoạ. Thật không may, tôi đã có lý: Chúng ta đã không làm điều cần thiết, và rõ ràng là chúng ta đã lọt đúng vào tình trạng mà tôi lo sợ.


Nền kinh tế thiếu sinh động này là dễ hiểu, và các biện pháp khắc phục vốn đã có sẵn. Thế giới phải đối mặt với sự thiếu hụt của tổng scầu, gây ra bởi một sự kết hợp của sự bất bình đẳng ngày càng tăng và một loạt các biện pháp thiếu suy xét về cách tiết kiệm ngân sách. Những người nhà giàu ở đầu bảng lợi tức chi tiền ít hơn so với những người nghèo ở cuối bảng, vì vậy mà luồng tiền di chuyển đi lên, khi lượng nhu cầu đi xuống. Và các nước như Đức mà tình trạng số thặng dư ngoại tệ cao còn kéo dài, nên họ tạo ra một vấn đề quan trọng cho lượng nhu cầu chung khiếm hụt.


Cùng lúc ấy, Mỹ bị một dạng nhẹ hơn của các biện pháp tiết kiệm ngân sách hiện đang áp dụng ở châu Âu. Thật vậy, ở Mỹ có ít hơn 500.000 người là được sử dụng trong các khu vực công so với trước thời khủng hoảng. Nếu có sự mở rộng bình thường trong vấn đề nhân dụng của chính phủ kể từ năm 2008, chắc sẽ có được hơn hai triệu người là có việc.


Hơn nữa, phần lớn thế giới đang phải đối mặt - với tình trạng khó khăn – là nhu cầu chuyển hoá về mặt cấu trúc: từ sản xuất chế biến cho đến dịch vụ ở châu Âu và Mỹ, và từ sự tăng trưởng dựa vào xuất khẩu là chính sang đến nền kinh tế do nhu cầu nội địa làm chủ đạo ở Trung Quốc. Cũng tương tự như vậy, hầu hết các nền kinh tế dựa trên tài nguyên thiên nhiên ở châu Phi và châu Mỹ La tinh, họ đã không tận dụng lợi thế của sự bùng nổ giá thương phẩm được cũng cố bởi sự trỗi dậy của Trung Quốc để tạo cho mình thành một nền kinh tế đa dạng. Bây giờ họ phải đối mặt với những hậu quả của sự ép giá cho các mặt hàng chính để xuất khẩu. Thị trường không bao giờ có thể tự làm biến đổi về cấu trúc như vậy dễ dàng cho họ.


Có những nhu cầu lớn lao trong toàn cầu chưa được đáp ứng mà nó có thể thúc đẩy tăng trưởng. Chỉ với cơ sở hạ tầng là có thể thu hút hàng nghìn tỷ đô la đầu tư, biện pháp này không chỉ đúng trong các nước đang phát triển, mà còn đúng cho Mỹ, nơi mà cơ sở hạ tầng chủ yếu đã không đầu tư đúng mức trong nhiều thập kỷ. Hơn nữa, toàn thế giới cần phải trang bị thêm để đối mặt với thực tế của tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu.


Trong khi các ngân hàng của chúng ta đang hồi phục được tình trạng lành mạnh, họ đã chứng tỏ là họ không đủ sức để đạt mục tiêu. Họ tỏ ra nổi trội trong việc khai thác và làm biến động thị trường; nhưng họ đã thất bại trong chức năng thiết yếu trong các vai trò trung gian. Giữa những người tiết kiệm dài hạn (ví dụ, quỹ tài sản của nhà nước và những quỹ tiết kiệm cho hưu bổng) và chương trình đầu tư dài hạn trong cơ sở hạ tầng nằm trong khu vực tài chính có nhiều thiển cận và bị rối loạn chức năng.


Cựu Chủ tịch Hội đồng quản trị cuả Ngân hàng Dự trữ Liên bang Mỹ là Ben Bernanke đã từng nói rằng thế giới đang bị một tình trạng "thừa tiết kiệm". Tình trạng này có thể là trường hợp sử dụng tốt nhất v tiền tiết kiệm cuả thế giới đđầu tư vào các nhà tệ hại ở vùng sa mạc Nevada. Nhưng trong thế giới thực, có tình trạng thiếu hụt của các ngân quỹ; thậm chí các dự án có doanh thu về mặt xã hội cao, nhưng thường là không thể được tài trợ.


Việc chữa trị duy nhất cho tình trạng bất ổn của thế giới là làm gia tăng tổng số cầu. Tình trạng tái phân phối sâu rộng mức thu nhập sẽ hữu ích, như cải cách triệt để hệ thống tài chính của chúng ta - không chỉ để ngăn chặn việc áp đặt các nguy cơ cho các tầng lớp khác của chúng ta, mà còn để giúp cho các ngân hàng và tổ chức tài chính khác làm những gì mà họ được suy đoán là phải làm: đó là tạo kết hợp cho các tiết kiệm dài hạn cho các nhu cầu đầu tư dài hạn.


Nhưng một số vấn đề quan trọng nhất của thế giới sẽ cần có đầu tư của chính phủ. Chi tiêu như vậy là cần thiết trong cơ sở hạ tầng, giáo dục, công nghệ, môi trường, và tạo điều kiện cho các thay đổi về mặt cơ cấu cần thiết trong khắp mọi nơi trên trái đất.


Những trở ngại về mặt kinh tế toàn cầu không chỉ bắt nguồn từ kinh tế, nhưng từ trong chính trị và ý thức hệ. Khu vực tư nhân tạo ra sự bất bình đẳng và suy thoái môi trường mà hiện nay chúng ta phải tính đến. Các thị trường sẽ không thể giải quyết những vấn đề này và các vấn đề quan trọng khác mà thị trường đã tạo ra, hoặc khôi phục lại sự thịnh vượng cho mình. Các chính sách của chính phủ tích cực là cần thiết.


Điều đó có nghĩa là phải khắc phục thâm hụt quá mức. Nó tạo ra ý nghĩa đối với các nước như Mỹ và Đức, mà cả hai có thể cho vay với lãi suất âm và thực trong dài hạn để cho vay đối với các khoản đầu tư khi cần thiết. Cũng tương tự như vậy, ở hầu hết các nước khác, tỷ lệ doanh thu qua đầu tư công vượt xa phí tổn của các quỹ. Đối với những nước này, đi vay bị hạn chế, nhưng còn có một giải pháp, đó là dựa trên nguyên tắc lâu đời của tác dụng cuả số nhân trong việc cân đối ngân sách. Sự gia tăng công chi được tài tr với cách tăng thuế sẽ kích hoạt cho nền kinh tế. Thật không may, có nhiều quốc gia, trong đó có Pháp, đang tham gia vào các biện pháp thu hẹp để đem lại quân bình ngân sách.


Những người lạc quan nói rằng năm 2016 sẽ là năm tốt hơn so với năm 2015. Điều đó có thể thành sự thật, nhưng quá mơ hồ nên không ai có thể nhận ra như vậy. Khi mà chúng ta không giải quyết vấn đề thiếu hụt trong tổng số cầu trên toàn cầu, thì các bất ổn sẽ còn keó dải.



***


Joseph E. Stiglitz đoạt giải Nobel về Kinh tế và là Giáo sư Đại học Columbia. Ông là Chủ tịch Hội Đồng Tư Vấn Kinh tế cho Tổng Thống Bill Clinton và đã làm việc cho Ngân Hàng Thế Giói trong chức vụ Phó Chủ Tịch. Tác phẩm mới nhất của ông viết chung với Bruce Greenwald là Creating Learning Society: A New Approach to Growth, Development, and Social Progress.


Nguyên tác: The Great Malaise Continues

http://www.project-syndicate.org/commentary/great-malaise-global-economic-stagnation-by-joseph-e--stiglitz-2016-01


.
.

Đã từ lâu, những gì Donald Trump nói, làm, hoặc tung ra trên Truth Social Media, đã không còn là một tuyên bố mang tính chuẩn mực cao nhất của quốc gia. Nó cũng không còn bao hàm những quyết định quan trọng mà người dân mong chờ sẽ mang đến một xã hội tốt đẹp hơn, an toàn hơn. Không phải những cận thần chung quanh Trump không nhận ra điều đó. Rõ nhất là “Thằng Ất” và “Thằng Giáp” – hai kẻ đã từng đưa ra lời chỉ trích mạnh mẽ thời chưa bước vào cửa quan. “Thằng Ất” JD Vance hồi năm 2016 đã nhắn tin cho một người bạn học cũ, gọi Trump là "Hitler của nước Mỹ.” Trong một bài viết đăng trên tờ The Atlantic vào năm 2016, Vance mô tả Trump như một thứ "’heroin’ văn hóa.”
Trong kho tàng ngụ ngôn Aesop có hai câu chuyện. Một chuyện kể về cậu bé chăn cừu thích lấy nỗi sợ của cả làng ra làm trò đùa. Cậu nhiều lần hét to “Sói! Sói!” để lừa người lớn chạy hộc tốc lên đồi, rồi bỏ về, bực bội vì bị lừa. Đến một ngày nọ, sói thật xuất hiện, cậu kêu cứu đến khản cổ mà không còn ai buồn chạy lên đồi cứu giúp, khiến đàn cừu của cậu bị sói vồ sạch. Chuyện thứ hai kể về một con sói thật kiên nhẫn. Ngày này qua ngày khác, nó lảng vảng đến gần đàn cừu. Lúc đầu, người chăn cừu cảnh giác, luôn tay xua đuổi nó. Nhưng sói chỉ đứng xa, trông hiền hòa, không vồ con nào. Lâu dần, chàng chăn cừu quen thuộc với sự hiện diện của Sói, cho đến khi bóng dáng con vật trở nên một phần của phong cảnh xung quanh đàn cừu. Tới một hôm bận việc, anh cả tin đến mức gửi luôn đàn cừu cho sói “trông hộ”. Tối về, chuồng chỉ còn vài con sót lại.
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.