Hôm nay,  

Có Những Người Chị Người Em Dễ Thương

25/02/201600:00:00(Xem: 9970)

Tôi còn đang ở lại thành phố Denver Colorado, sau chuyến hành trình bằng xe lửa dài trên 2,000 dặm kéo dài đúng 48 giờ liên tục, xuất phát từ thành phố Lancaster Pennsylvania vào ngày 30 tháng Sáu, xuyên qua nhiều tiểu bang qua các thành phố lớn như Philadelphia, Washington DC, Chicago để tới Denver vào sáng thứ Sáu

mồng 2 tháng Bảy. Đây có thể là chuyến xe lửa dài nhất mà tôi thực hiện trong mấy năm gần đây. Tôi phải tranh thủ làm như vậy, thì mới kịp có mặt tại Denver để tham dự đám cưới của hai người cháu gái tên là Việt Trâm và Việt Tiên gọi tôi là “ ông chú”, mà cùng được tổ chức trong cùng một ngày Thứ Bảy mồng 3 tháng Bảy. Cha mẹ của các cháu, chính là anh chị Tống Đình Thỉnh là chủ nhân của hãng Hương Duyên chuyên chế biến giò chả có tiếng ở Denver. Anh Thỉnh là trưởng nam của người anh bà con của tôi. Đây cũng là một dịp Họp Mặt Đại Gia Đình của dòng họ chúng tôi, gốc gác từ một thôn xã trong vùng đồng bằng sông Hồng, thuộc tỉnh Nam Định Bắc phần.

Sau chuyến đi mệt nhọc này, tôi phải ở lại Denver một thời gian, vừa để gặp gỡ hàn huyên tâm sự với bà con trong dòng họ từ nhiều nơi xa quy tụ về đây, vừa để nghỉ ngơi tĩnh dưỡng để phục hồi sức lực hầu đi tiếp thêm vài đọan đường nữa, trước khi về lại California với gia đình. Bài viết này, tôi đã manh nha từ lâu, chủ ý ghi lại cái sự chăm sóc rất ư là chân tình chu đáo, mà tôi nhận được từ nơi những người chị, người em rất mực thân thương quý mến của mình, trong chuyến đi dài ngày của tôi vào mùa xuân và mùa hè năm 2010 này. Để quý bạn đọc tiện bề theo dõi, tôi xin viết về các chị em người Mỹ trước, rồi sau đó sẽ viết về các chị em người Việt của mình.

I – Các Chị Em người Mỹ.

Tôi đã có dịp viết về gia đình của Sandy và Jim Foster tại thành phố Knoxville Tennessee, là nơi tôi thường xuyên lui tới để tham dự các khóa hội thảo quốc tế về Xây dựng Hòa bình vào các mùa hè mỗi năm. Liên tiếp trong 3 năm gần đây, mỗi lần đến Knoxville, thì tôi thường ở với gia đình Foster. Chị Sandy lúc nào cũng lo lắng chăm sóc chu đáo cho tôi. Đặc biệt năm nay tôi ở lại nhà anh chị đến 10 ngày, mà lại đúng vào lúc tôi bị bệnh gout hòanh hành nơi đầu gối, khiến cho việc đi đứng rất khó khăn, thì Sandy tìm ngay lọai thuốc giảm đau cho tôi (pain relief). Chị lại làm món ăn có nhiều rau dành riêng cho tôi. Thấy tôi không đem theo đủ áo ấm, chị bèn kiếm ngay cho tôi một áo len để tăng cường bảo vệ sức khỏe cho tôi. Chị còn luôn nhắc chừng tôi là: “ Anh không được say mê công việc quá đáng, khiến làm hại đến sức khỏe đấy !” Khi tiễn tôi ra xe để đi Indiana, chị còn gửi theo cả một túi đày đồ ăn và trái cây, thật là tươm tất.

Chị Marylou Matteson cũng vậy. Từ 2 năm nay, anh chị rời khỏi Knoxville để tới làm việc cho tổ chức xã hội Mennonite Central Committee (MCC) tại nơi trụ sở chính đặt tại thành phố Akron, gần với Lancaster thuộc tiểu bang Pennsylvania. Và vào ngày 29 tháng 6 vừa đây, tôi đã từ Philadelphia ghé tới thăm anh chị trong một ngày. Ngay buổi chiều hôm tôi đến, Marylou đã rủ tôi cùng với anh chị và một số gia đình bạn để đi coi trận đấu base ball (bóng chày) tại Lancaster giữa đội chủ nhà là Lancaster Barnstormers với đội khách là Southern Maryland Blue Crabs. Đây là lần đầu tiên tôi đi coi một trận baseball như thế này, thật là hào hứng với rất đông khán giả tòan là dân Mỹ ở địa phương. Marylou hỏi tôi: “Anh có dự định viết bài báo nào về trận đấu này không?” Tôi lắc đầu, nói: người Việt Nam thì hiện đang mê say theo dõi World Cup ở Nam Phi, chứ họ không có quen với lọai baseball này đâu. Marylou là con người đôn hậu dịu dàng và có đời sống đao đức tâm linh thật là sâu sắc. Niềm vui lớn nhất của chị hiện đặt nơi đứa cháu nội tên là Mila mới được chừng 3 tuổi. Marylou luôn gửi email cho các bạn bè cùng khắp để trao đổi các suy nghĩ về sinh họat thường ngày của gia đình, cũng như của đại gia đình MCC mà hai anh chị đã dấn thân nhập cuộc với mọi công tác từ thiện nhân đạo, từ khi đã bắt đầu bước vào tuổi cao niên. Chị luôn khích lệ, cổ võ cho công việc nghiên cứu tìm kiếm của tôi để hòan thành cuốn sách về sự phục hồi Xã hội Dân sự tại Đông Âu, mà tôi đã theo đuổi từ 10 năm nay. Cũng giống như Sandy, chị gói cho tôi ít đồ ăn khô và trái cây để cho tôi ăn trên xe lửa. Chị còn cho tôi cả một cuốn sách về suy ngẫm tâm linh để tôi mang theo đọc trên xe. Anh Matt thì nói đùa: Marylou sợ anh Liêm không có gì để đọc, nên đã gửi thêm cho cuốn sách đó đấy. Và chúng tôi đều cười ngất lúc chia tay.

Chị bạn khác nữa là Sherry Hall, người bạn đời của Dick Hughes ở New York. Hai anh chị có người con gái là Tara Hughes-Hall, nay đã trưởng thành và đi ở riêng để làm việc tại Buffalo. Lần nào đến New York, thì tôi cũng đều được Dick và Sherry rủ đi dùng bữa và đi thăm viếng nơi này, chỗ nọ. Lần này hai người rủ tôi đi xem triển lãm tranh ảnh của nhà báo ảnh nổi danh quốc tế là Henri-Cartier Bresson (photo-journalist) tại Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại (MoMA = Museum of Modern Art), do sự hướng dẫn của một người bạn, đó là Adrian Kitzinger là một trong các tác giả của cuộc triển lãm vĩ đại này.

Khi nghe tôi nói là tôi được cho ở free tại một khách sạn tại khu thị tứ nhất của New York là Times Square, thì Sherry cười ngất, chị bảo chỉ có Mister Liêm mới có được một sự đãi ngộ đặc biệt như vậy (such a special treatment!). Sherry có lần còn kể là: Trong một dịp chở cháu Trực con trai tôi ra phi trường để về lại California, thì luýnh quýnh thế nào mà chị lại chở đến một phi trường khác. Thế nhưng may là nhờ đi sớm, nên vẫn còn kịp thì giờ để chị có thể trở lại cho đúng với phi trường ghi trong vé máy bay. Sherry cười ngất: Thằng cháu Trực nó chắc không thể nào quên được cái vụ tôi chở đi lộn phi trường này đấy nhỉ. Hồi trước, lúc cháu học về Pharmacy ở Boston, thì Trực thường về New York và ở nhà với cô chú Dick và Sherry. Là một cô giáo, Sherry thật là dịu hiền dễ thương đối với mọi người.


Còn riêng với tổ chức Human Rights Watch (HRW), thì ngòai chị luật sư Dinah Pokempner ra, tôi còn thân thiết với chị Sara Colm vẫn làm việc ở Phnom Penh. Có lần tôi đến thăm Sara ở New Orleans vào dịp chị về nghỉ tại nhà, thì Sara cũng dẫn tôi đi ăn trưa, xong còn dẫn tôi về nhà và gặp ông xã cũng chuyên họat động về bảo vệ môi sinh và lọai động vật hiếm quý trên thế giới. Sara làm việc âm thầm, mà rất hiệu quả, đặc biệt trong việc bênh vực người thiểu số ở vùng cao nguyên Việt nam sát với ranh giới Cambodia. Ngòai ra, thì mỗi khi ở thủ đô Washington, tôi đều gặp lại chị Sophie Richardson tại văn phòng HRW ở gần khu vực Dupont Circle. Sophie mới ngòai 30 tuổi là một chuyên gia đặc trách về khu vực Á châu của HRW. Chị được nhiều bà con trong cộng đồng người Việt tại Washington biết đến và mến chuộng vì sự tích cực bảo vệ nhân quyền cho Việt nam. Chị thường hẹn tôi đến gặp bàn chuyện và đi ăn trưa luôn thể, theo lối mà người Mỹ gọi là “working lunch”. Nói chung, thì cả ba vị nữ lưu trí thức Dinah, Sara và Sophie này của HRW đều rất mực duyên dáng dễ thương và đều hăng say với lý tưởng tranh đấu cho phẩm giá và quyền con người tại khắp nơi trên thế giới ngày nay vậy.

II - Các Chị Em người Việt.

Trong các bài bút ký trước đây, tôi đã viết nhiều về những gia đình tại các thành phố tôi đã đi qua, mà đã cho tôi chỗ trú ngụ cũng như cho tôi mọi thứ cần thiết cho sự sinh họat đi lại của tôi. Vì thế ở đây, tôi chỉ xin viết thật vắn tắt về những người chị người em, tất cả đều dễ mến dễ thương đó thôi.

Tại thành phố Houston năm nay, thì tôi ngụ tại nhà của hai anh bạn, mà đều có tên là Bằng cả. Đó là, anh Nguyễn Công Bằng với bà xã là chị Anh Trinh, rồi đến anh Chu Bá Bằng với bà xã là chị Ánh. Chị Anh Trinh cũng như chị Ánh đều rất sung mến Đạo Phật, mà cả hai chị đều lo lắng chăm sóc cho tôi rất chu đáo tận tình. Chị Ánh gợi lại cho tôi những kỷ niệm rất đẹp về anh Nguyễn Xuân Nghiên là bạn ở cùng lều vải trên khu Khám Lớn Saigon hồi xưa với anh Bác sĩ Bằng và tôi, khi chúng tôi mới di cư vào miền Nam năm 1954. Anh Nghiên trước 1975 là một giáo sư dậy môn Lý Hóa có tiếng ở Saigon, nhưng sau đó anh bị tai nạn xe trên xa lộ Biên Hòa và mất vào khỏang năm 1977. Còn chị Anh Trinh thì hay dẫn tôi đi tham dự các buổi sinh họat cộng đồng ở Houston, mà chị thường được mời ra làm công việc giới thiệu chương trình ( MC = emcee).

Tại vùng thủ đô Washington, thì tôi được nhiều chị lo lắng chăm sóc cho việc ăn ở rất chu đáo, gọn gàng. Cụ thể như trường hợp của chị Lệ bà xã của nhà báo Phạm Bá Vinh, với chị Ngọc Lan bà xã của ký giả Nguyễn Văn Khanh của Đài Á châu Tự Do RFA, của chị Như Lan bà xã của Thẩm phán Nguyễn Văn Thành (Thành Em, để phân biệt với vị Thẩm phán Quân sự lớn tuổi hơn, mà cũng có tên là Nguyễn Văn Thành hiện cũng định cư tại Virginia), và của chị Trương Anh Thụy bà xã của anh Nguyễn Huy Long.

Đặc biệt là lần nào ở Washington, thì tôi cũng đều được chị Jackie Bông giúp đỡ cho bất kỳ việc gì tôi cần đến, điển hình như vào chiều ngày 30 tháng Sáu, tôi phải ở lại nhà ga Union Station đến 3 giờ trong khi chờ đổi tàu khác để đi Chicago, thì chị Jackie đã đến nhà ga gặp gỡ chuyện trò và dẫn tôi đi ăn ở Mc Donald. Chúng tôi cùng hợp tác với nhau trong Mạng Lưới Nhân Quyền Việt nam. Và các con tôi vẫn gọi chị là Cô Út Jackie, vì tụi chúng đọc cuốn Hồi Ký “Autumn Cloud” (Thu Vân = Mây Mùa Thu), thì biết được cô Jackie là con út trong gia đình nhà họ Lê với tên đày đủ là Lê Thị Thu Vân.

Tại thành phố Rochester NY, thì chị Dung bà xã của anh Nguyễn Xuân Sơn - bào đệ của họa sĩ Thái Tuấn - cũng lo lắng chăm sóc cái ăn cái uống cho tôi rất chu đáo. Cái món xôi chị gói cho tôi mang lên xe lửa để ăn dọc đường, thì thật là tuyệt vời, đến nỗi tôi chia bớt cho cô bạn người Đức cùng ngồi chung trong một băng ghế, thì cô bạn này hết sức khen ngợi tài nấu nướng của các bà nội trợ Việt nam. Rồi tại thành phố Worcester MA, anh chị suôi gia Võ Hồng Phước, cũng như anh chị Nguyễn Hữu Sơn cũng đều ân cần chăm sóc cho tôi về mọi phương diện. Và sau cùng, tại thành phố Philadelphia PA, cô Mỹ Linh con dâu của bác Nguyễn Ngọc Chương lại còn cung cấp thêm cho tôi cả món quà đặc sản cô mới đem từ Việt nam về Mỹ - để tôi đem tặng cho gia đình anh chị Marylou và Matt Matteson ở Lancaster gần đó - như tôi đã ghi ở đọan trên đây nữa.

Thật là mọi bề chu đáo gọn gàng, nhờ bàn tay khéo léo và tấm lòng quý mến yêu thương của các người chị, người em thật là tuyệt vời - dù là người Mỹ cũng như người Việt của tôi vậy.

Bài viết đến đây đã khá dài rồi, tôi chỉ xin tóm lược lại trong một vài dòng thật ngắn gọn như sau. Trên bước đường rong ruổi khắp nơi trên đất Mỹ suốt trên 3 tháng trong mùa hè năm 2010 vừa qua, nhiều lúc tôi cũng thấy mệt mỏi lắm đấy chứ, vì một phần đường xa, xe cộ lắm khi bị trục trặc và trễ giờ, và nhất là vì phải ngồi suốt cả nhiều đêm trên xe khiến làm mất ngủ.

Nhưng đi tới nhà nào, thì tôi cũng đều gặp được sự tiếp đón ân cần chu đáo, với tất cả tình yêu thương đầm ấm chan hòa. Nhờ vậy mà mọi sự mệt nhọc thể xác đều tan biến đi hết, và tinh thần tôi được vỗ về an ủi, trong trạng thái lâng lâng thanh thóat vô cùng tuyệt diệu. Đó là lý do chính yếu đã giúp cho tôi luôn giữ được sự lạc quan thanh thản – để mà có thể tiếp tục công việc hoạt động xã hội - với tấm lòng yêu mến thiết tha đối với cuộc đời và với niềm yêu thương nồng thắm đối với mọi con người trong xã hội vậy./

Sơ thảo tại Denver Colorado vào Tháng Bảy 2010

Bổ túc tại Costa Mesa California vào Tháng 12 - 2011

Đoàn Thanh Liêm

Đã từ lâu, những gì Donald Trump nói, làm, hoặc tung ra trên Truth Social Media, đã không còn là một tuyên bố mang tính chuẩn mực cao nhất của quốc gia. Nó cũng không còn bao hàm những quyết định quan trọng mà người dân mong chờ sẽ mang đến một xã hội tốt đẹp hơn, an toàn hơn. Không phải những cận thần chung quanh Trump không nhận ra điều đó. Rõ nhất là “Thằng Ất” và “Thằng Giáp” – hai kẻ đã từng đưa ra lời chỉ trích mạnh mẽ thời chưa bước vào cửa quan. “Thằng Ất” JD Vance hồi năm 2016 đã nhắn tin cho một người bạn học cũ, gọi Trump là "Hitler của nước Mỹ.” Trong một bài viết đăng trên tờ The Atlantic vào năm 2016, Vance mô tả Trump như một thứ "’heroin’ văn hóa.”
Trong kho tàng ngụ ngôn Aesop có hai câu chuyện. Một chuyện kể về cậu bé chăn cừu thích lấy nỗi sợ của cả làng ra làm trò đùa. Cậu nhiều lần hét to “Sói! Sói!” để lừa người lớn chạy hộc tốc lên đồi, rồi bỏ về, bực bội vì bị lừa. Đến một ngày nọ, sói thật xuất hiện, cậu kêu cứu đến khản cổ mà không còn ai buồn chạy lên đồi cứu giúp, khiến đàn cừu của cậu bị sói vồ sạch. Chuyện thứ hai kể về một con sói thật kiên nhẫn. Ngày này qua ngày khác, nó lảng vảng đến gần đàn cừu. Lúc đầu, người chăn cừu cảnh giác, luôn tay xua đuổi nó. Nhưng sói chỉ đứng xa, trông hiền hòa, không vồ con nào. Lâu dần, chàng chăn cừu quen thuộc với sự hiện diện của Sói, cho đến khi bóng dáng con vật trở nên một phần của phong cảnh xung quanh đàn cừu. Tới một hôm bận việc, anh cả tin đến mức gửi luôn đàn cừu cho sói “trông hộ”. Tối về, chuồng chỉ còn vài con sót lại.
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.