Hôm nay,  

Tình Mẫu Tử

02/07/201600:00:00(Xem: 5847)
Lilika Naros (Hy Lạp) - Nguyễn Văn Sâm dịch

Lilika Nakos sanh năm 1903 tại Athens, có truyện ngắn đầu tay đăng trên tờ tạp chí Europa của Pháp. Bà được coi là tác giả Hy Lạp cận đại khai thác vấn đề nhân bản. Một trong những truyện nỗi tiếng của bà là Lost Soul (1943). Truyện ngắn Maternity (Tình Mẫu Tử) được coi là cổ điển và được dạy ở nhiều trường Đại học trên thế giới vì nói lên được hai mặt đối cực của con ngưởi: dửng dưng / giúp đở trước sự hoạn nạn của người khác cũng như nói lên được bản năng làm mẹ của người phụ nữ. Bối cảnh dùng trại tỵ nạn người thiểu số Armenian nhắc cho ta về tình trạng tỵ nạn của người Việt mình trước kia cũng như xa gần nhắc đến sự bị tàn sát của dân tộc nầy với cả triệu người chết do đế quốc Ottoman (nay là Thổ Nhĩ Kỳ) vào thế kỷ trước. (NVS)

.

Họ đến Marseilles đã hơn tháng nay rồi, trại tỵ nạn của họ, người Armenian, ở ngoại ô trông giống như một ngôi làng nhỏ. Họ sử dụng bất cứ thứ gì có được để che nắng đở mưa: người kha khá thì dùng tăng, dùng lều, phần lớn còn lại không thể tìm thấy gì khả dĩ tốt hơn, bèn tạm trú dưới những tấm thảm treo bốn góc trên bốn cọc cây. Ai may mắn hơn thì tìm được tấm vải treo phủ bốn bên để che ánh mặt trời chói chang. Rồi thì họ coi đây là nhà. Đàn ông đổ xô đi tìm việc-- bất cứ thượng vàng hạ cám việc gì cũng được-- để khỏi bị cơn đói hành hạ, với lại để lũ trẻ còn có chút gì đó bỏ vô miệng. Trong đám này, thằng Mikali không thể làm gì được hết. Nó ăn bánh mì dư của những người ở lều kế bên thương hại liệng ra cho. Nặng trĩu lòng nó khi nhận. Nó là thằng bé bự xộn, mười bốn tuổi rồi chứ bộ, lại mạnh khỏe nữa. Nhưng làm sao tìm được công ăn chuyện làm khi nó phải mang trên lưng gánh nặng là một đứa bé sơ sanh? Thằng bé ra đời gây nên cái chết của mẹ nó, từ đó tới giờ nó khóc i-ỉ suốt ngày vì đói khát. Làm sao có thể chấp nhận cho Mikali làm khi mà chính người đồng hương với nó cũng đuổi nó ra khỏi láng vì không chịu nỗi tiếng khóc rĩ rã liên tục của thằng bé, tiếng khóc khiến họ cả đêm mất ngủ. Chính thằng Mikali cũng chán nãn về tiếng khóc nầy. Đầu óc nó trống rỗng, nó lang thang như một kẻ vô hồn. Chết mệt vì thiếu ngủ và rã rời, nó luôn phải lê bước với gánh nặng điếc tai nhức óc trên vai, gánh nặng một sự ra đời làm cho cuộc sống nó vô vàn khổ sở. Đứa bé quả đã chọn không đúng lúc cũng không đúng chỗ để xuất hiện trên trái đất này. Tiếng khóc nó làm mọi người chán nãn. Họ đã chịu đựng quá nhiều khổ lụy rồi, họ thương hại ước mong thằng bé chết đi cho họ được yên thân. Nhưng nó không chết, nó tuyệt vọng tìm con đường sống bằng cách khóc lớn hơn, báo động cái đói khát của mình. Mấy người đàn bà vô tâm đã bịt tai lại, và Mikali đi lang thang như một thằng say. Không đồng xu dính túi để mua sữa cho thằng bé, không nhờ được người đàn bà nào trong trại sẵn lòng giúp cho thằng bé bú thép. Một chút thôi để đở lòng cũng được!

Một ngày kia, không thể chịu đựng hơn nữa, thằng Mikali đi về phía bên kia trại, về phía trại của người Anatolia: họ cũng là người tỵ nạn, trốn chạy sự tàn sát của dân Thổ Nhĩ Kỳ ở vùng Tiểu Á. Có người nói với Mikali rằng ở đấy có một người đàn bà có thể thương, giúp thằng bé. Nó đi mà lòng hi vọng tràn trề. Lều trại của họ cũng giống như lều trại ở bên nó-- cũng cái nghèo khổ đó. Mấy bà già còng lưng trên sạp ván kê sát đất; trẻ con chân không, chơi vọc ở mấy vũng nước dơ. Khi nó tới nơi, vài bà già nhỏm dậy hỏi thăm nó cần gì, nhưng nó tiếp tục tiến bước, chỉ ngừng lại trước một một căn lều mở cửa có treo hình Đức Mẹ, từ bên trong vọng ra tiếng khóc của trẻ thơ. "Xin vì Đức Mẹ Bác Ái, Đức Mẹ mà quý bà đã thờ phượng,' nó nói bằng tiếng Hy Lạp, 'Hãy thương hại đứa trẻ mồ côi tội tình này, cho nó một chút sửa. Tôi là một người Armenia khốn khổ bần hèn....' Một thiếu phụ duyên dáng, đen dòn, hiện ra. Tay cô bồng một đứa trẻ đang nút vú mẹ, sung sướng tuyệt cùng, đờ đẫn, lim dim mắt. Cô ta hỏi, "Đưa đứa nhỏ coi, trai hay gái đây?" Tim Mikali đập mạnh vì vui sướng. Vài ba người hàng xóm đến gần để coi, họ giúp Mikali lấy cái bịt đựng thằng bé ra khỏi vai nó, họ tò mò chồm tới nhìn cho rõ. Nó dở tấm khăn ra. Mấy người đàn bà thét lên những tiếng hãi hùng.

Thằng bé không còn chút nhân dạng gì nữa. Cái đầu bị bự lên như trái bí, thân hình đã mỏng thiệt mỏng rồi còn teo rút lại nhỏ xíu nhỏ xiu. Bấy lâu nay thằng bé chỉ có ngón tay để bú, ngón tay bây giờ sưng nở lên, không còn đút vừa vô miệng nó nữa. Thiệt là khủng khiếp! Chính Mikali cũng lùi lại vì sợ hải. "Mẹ ơi!" một người đàn bà kêu lên, "đây là một con dơi hút máu, quả thiệt rồi, một con dơi hút máu! Có sữa, tôi cũng không dám cho nó bú đâu." "Chính là một kẻ phản Chúa!" một người nữa nói trong khi làm dấu thánh giá. "Đúng là con của tụi Thổ rồi!" Một bà già xọm chập choạng đến. "Hu, hu!" bà kêu thét lên khi thấy thằng nhỏ. "Quỷ dữ đây mà!' Rồi quay về phía Mikali bà la mắng: "Đi! Đi ra khỏi chỗ nầy ngay, đồ ôn hoàng dịch lệ xui xẻo, đừng có héo lánh tới chỗ nầy nữa nha. Mầy đem tai vạ tới cho tụi tao đó!" Rồi thì tất cả bọn xúm lại đuổi xô, đe dọa nó. Mắt nó nhòe nhoẹt, nó ra đi, mang theo đứa nhỏ vẫn còn bị cơn đói hành hạ.

Không thể làm gì được hết, đứa nhỏ đã bị kết án tử bằng cách bỏ đói rồi. Chính Mikali cũng cảm thấy vô cùng cô đơn và tuyệt vọng. Một luồng hơi lạnh chạy dài trên sóng lưng khi nó nghĩ tới đang mang trên lưng mình một con quái vật. Nó ngã vật xuống trên bóng mát của một căn lều. Trời vẫn còn quá ấm. Khung cảnh trãi rộng ra trước mắt nó là một giải đất rộng, khô cằn, đầy dẫy rác rếnh. Còi trưa kêu lên từ đâu đây. Tiếng còi gợi nó nhớ rằng mình không ăn gì hết từ hôm trước lận. Phải lỏn ra ngoài phố, quanh mấy quán cà-phê ngoài đường, bóc trộm mấy miếng bánh mì họ ăn dỡ dang còn lại trên dĩa mới được; hay là lục lọi trong mấy cái thùng rác kiếm món gì mà chó chưa ăn. Thình thình nó cảm thấy cuộc đời sao mà đầy những kinh hoàng, nó đưa tay lên che mặt, khóc trong nỗi tuyệt vọng vô bờ. Khi nó ngước mặt lên, một người đàn ông đang đứng trước mặt nó, ngó xuống. Nó nhận ra đây là người Tàu thường đến trại bán mấy thứ trang sức rẽ tiền làm bằng giấy hay là những thứ lẩm cẩm để đeo tay, chỉ thấy chú bán mà không thấy ai mua. Thường thường người ta trêu chọc chú vì màu da và đôi mắt xếch của chú, bọn nhỏ hát ghẹo: "Cắc chú ba tàu thằng nào cũng như thằng nấy, thằng nào láng cháng đuổi cha nó đi về Tàu..." Mikali thấy chú nhìn xuống nó trìu mến, môi mấp máy như muốn nói điều gì. Rồi thì chú nói: 'Đừng khóc, đừng khóc chú bé..." Rồi rụt rè nói thêm: 'Đi theo tôi...." Mikali chỉ có thể trả lời bằng cái lắc đầu; nó muốn chạy trốn. Nó từng nghe biết bao nhiêu là chuyện kinh khủng về sự tàn ác của người phương Đông rồi! Ở trại nó còn nghe cả những chuyện như họ có thói --- giống người Do Thái--- đi bắt cóc trẻ con Công giáo về giết để uống máu! Nhưng người đàn ông kia vẫn đứng đó, không nhúc nhích. Vì vậy trong lúc quá tuyệt vọng, Mikali đã đi theo ông ta. Còn chuyện xấu xa tồi tệ nào hơn nữa có thể xảy ra cho nó chứ? Nó đi mà run rẩy, yếu nhớt, gần té với thằng nhỏ trên lưng. Người Tàu đến gần nó, ẳm giùm nó đứa nhỏ, ôm vào lòng, trìu mến. Họ qua nhiều khu đất trống, rồi thì rẽ vô con lộ nhỏ dẫn đến một cái lều gỗ có vườn rau nhỏ bao quanh. Ông ta ngừng trước cửa, vổ tay hai cái. Có tiếng bước chân nhè nhẹ bên trong, một người nhỏ thó bước ra mở cửa. Nhìn thấy ông ta, khuôn mặt người đàn bà rạng rỡ lên, một nụ cười hạnh phúc nở ra. Bà ta chào họ, đơn giản. Khi Mikali đứng chôn chân ở đó, bối rối thì người Tàu nói với nó: 'Vô đi chứ; đừng ngại ngùng gì hết. Đây là vợ của tôi." Mikali đi vô trong, phòng rộng hơn mình tưởng, chia ra ở giửa bằng một tấm bình phong giấy màu. Mọi chỗ đều sạch sẽ ngăn nắp, dầu rằng có vẽ bần hàn. Trong một góc nhà, nó thấy một cái nôi mây. "Đây là con tôi," thiếu phụ nói trong khi duyên dáng nghiêng đầu về một bên, cười với nó. "Con tôi rất nhỏ, đẹp lắm; đến đây coi." Mikali đến gần, thầm thán phục. Một đứa nhỏ bụ bẩm, nước da không đen như mẹ nó, đang ngủ thanh bình, được đắp bằng một tấm vải có những thêu móc vàng, giống như một tiểu vương gia. Rồi thì người chồng kêu vợ lại, mời vợ ngồi xuống chiếu, không nói lời nào, ông để lên đùi nàng đứa nhỏ đang chết đói rồi cúi đầu thật sâu trước vợ. Người đàn bà ngạc nhiên, khum xuống kéo tấm vải che đứa nhỏ ra. Hiện ra trước mặt nàng đầy đủ tất cả bộ xương kinh khủng của nó. Nàng kêu lên-- một tiếng kêu thương hại tuyệt cùng-- rồi ẳm đứa nhỏ xiết vào chỗ trái tim, cho nó bú. Với một cử chỉ dung dị, bình thường, nàng kéo vạt áo phủ bộ vú căng sửa, đứa trẻ đáng thương, háo đói đang bú chùn chụt ở đó.

(Dịch theo bản tiếng Anh)

Đã từ lâu, những gì Donald Trump nói, làm, hoặc tung ra trên Truth Social Media, đã không còn là một tuyên bố mang tính chuẩn mực cao nhất của quốc gia. Nó cũng không còn bao hàm những quyết định quan trọng mà người dân mong chờ sẽ mang đến một xã hội tốt đẹp hơn, an toàn hơn. Không phải những cận thần chung quanh Trump không nhận ra điều đó. Rõ nhất là “Thằng Ất” và “Thằng Giáp” – hai kẻ đã từng đưa ra lời chỉ trích mạnh mẽ thời chưa bước vào cửa quan. “Thằng Ất” JD Vance hồi năm 2016 đã nhắn tin cho một người bạn học cũ, gọi Trump là "Hitler của nước Mỹ.” Trong một bài viết đăng trên tờ The Atlantic vào năm 2016, Vance mô tả Trump như một thứ "’heroin’ văn hóa.”
Trong kho tàng ngụ ngôn Aesop có hai câu chuyện. Một chuyện kể về cậu bé chăn cừu thích lấy nỗi sợ của cả làng ra làm trò đùa. Cậu nhiều lần hét to “Sói! Sói!” để lừa người lớn chạy hộc tốc lên đồi, rồi bỏ về, bực bội vì bị lừa. Đến một ngày nọ, sói thật xuất hiện, cậu kêu cứu đến khản cổ mà không còn ai buồn chạy lên đồi cứu giúp, khiến đàn cừu của cậu bị sói vồ sạch. Chuyện thứ hai kể về một con sói thật kiên nhẫn. Ngày này qua ngày khác, nó lảng vảng đến gần đàn cừu. Lúc đầu, người chăn cừu cảnh giác, luôn tay xua đuổi nó. Nhưng sói chỉ đứng xa, trông hiền hòa, không vồ con nào. Lâu dần, chàng chăn cừu quen thuộc với sự hiện diện của Sói, cho đến khi bóng dáng con vật trở nên một phần của phong cảnh xung quanh đàn cừu. Tới một hôm bận việc, anh cả tin đến mức gửi luôn đàn cừu cho sói “trông hộ”. Tối về, chuồng chỉ còn vài con sót lại.
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.