Hôm nay,  

Vn Gian Nan Hội Nhập 2005

11/01/200500:00:00(Xem: 16113)
Cách đây đúng 10 năm, Việt Nam đệ đơn gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO; triển vọng đó giờ đây vẫn mờ mịt và còn có thể khó khăn hơn do những đòi hỏi từ phía Hoa Kỳ.
Phóng viên Việt Long của Đài RFA, trên chương trình Diễn Đàn Kinh Tế, đã trao đổi với kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa về nỗi gian nan của Việt Nam trên con đường hội nhập vào luồng trao đổi toàn cầu như sau.
Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, cách đây không lâu, các nhà lãnh đạo Hà Nội còn hy vọng là Việt Nam sẽ gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào mùng một Tháng Giêng năm nay. Giờ đây, niềm hy vọng ấy không thành, mà dường như Việt Nam còn gặp nhiều trở ngại mới. Chương trình chuyên đề về kinh tế sẽ đề cập tới vấn đề nói trên nên xin ông trước hết tóm lược nội dung của hồ sơ này cho thính giả nghe đài.
-- Về WTO, Tổ chức Thương mại Thế giới này là một câu lạc bộ giữa các nước tự nguyện theo quy luật thị trường để trao đổi và mua bán với tối thiểu hạn chế và tối đa tự do. Tổ chức này gồm hơn 180 hội viên, chi phối luồng trao đổi của 90% hàng hoá trên thế giới và chỉ đón nhận hội viên mới nếu toàn thể đồng ý. Mục tiêu là giải toả mọi hạn chế, như hàng rào quan thuế hay hạn ngạch quota xuất nhập cảng để phát triển ngoại thương giữa các nước vì ngoại thương góp phần đáng kể cho sự thịnh vượng hoặc xoá đói giảm nghèo. Vì là hậu thân của nhiều định chế hợp tác theo quy luật tự do mậu dịch, WTO kết hợp trước sau khoảng 17 hiệp định chung về thương mại và thuế quan, quốc gia nào gia nhập cũng phải tuân thủ các hiệp định ấy. Trong tương lai, nếu kịp hoàn thành vòng đàm phán về tự do mậu dịch phát động hồi tháng 11 năm 2001 tại Doha của xứ Qatar, WTO có thể còn có nhiều quy định mới. Nói chung, đây là một tổ chức năng động, và cơ chế sinh hoạt vì vậy còn thay đổi để đáp ứng tình hình trao đổi thực tế giữa các nước, trong đó có một phần rất quan trọng là những điều kiện đặc biệt cho các nước đang phát triển, nghĩa là các nước nghèo và sở dĩ nghèo cũng vì chủ yếu chưa có tự do kinh tế.
Hỏi: Thế Việt Nam đã xin gia nhập tổ chức ấy như thế nào"
-- Việt Nam chính thức nộp đơn gia nhập WTO vào mùng bốn Tháng Giêng năm 1995 và tổ chức này đã đề cử ra một nhóm đại diện 63 nước hội viên, trong đó có Hoa Kỳ, Nhật Bản, các hội viên Liên hiệp Âu châu, để cứu xét đơn gia nhập. Sau chín đợt hội họp kể từ 1998, đợt thứ chín là ngày 15 tháng 12 vừa qua, WTO cho biết là Việt Nam đã cố gắng mà chưa đủ, và phải thương thuyết thêm cho kịp Hội nghị cấp Bộ trưởng ở Hong Kong vào cuối năm nay. Việt Nam trình bày sự việc như một hy vọng vào cuối năm nhưng từ đầu năm nay, các nước hội viên đều bãi bỏ chế độ hạn ngạch với nhau, nên Việt Nam sẽ bị cạnh tranh rất mạnh, nhất là từ các lân bang Đông Á và dân Việt Nam sẽ bị thiệt nặng.
Hỏi: Thưa ông, cách đây sáu tháng, Hà Nội vui mừng báo tin rằng Liên hiệp Âu châu đã đồng ý ủng hộ việc Việt Nam gia nhập WTO. Vì sao mà giờ này lại còn có trở ngại ấy"
-- Quốc gia nào cũng sẵn sàng ủng hộ một nước khác đi vào con đường tự do mậu dịch, vì điều ấy có lợi cho đôi bên. Và lời phát biểu ấy còn có mối lợi ngoại giao là làm đẹp lòng nhau. Nhưng muốn vào tới đó thì còn phải chấp nhận một quy luật thực tế là “dễ người dễ ta, khó người khó ta”. Mình muốn tự do bán hàng cho xứ khác mà lại chưa chấp nhận cho xứ khác tự do bán hàng vào thị trường của mình thì ta vẫn chỉ có tự do một chiều, tự do hạn chế. Cho đến nay, WTO chưa thấy hài lòng với việc giải tỏa mậu dịch và kinh tế tại Việt Nam, dù vấn đề đã được nêu ra, giải thích và trao đổi nhiều lần trong ngần ấy phiên họp. Từ tháng Ba năm ngoái, WTO cho biết là Việt Nam sẽ phải có “bước nhảy vọt” nếu muốn kịp gia nhập vào cuối năm. Bước nhảy vọt ấy không có, đôi bên vẫn cò kè bớt một thêm hai và Việt Nam vẫn đứng ngoài trào lưu hội nhập vì cải cách quá chậm lụt.
Hỏi: Theo dõi các cuộc đàm phán này, ông thấy các nước hội viên nêu ra những vấn đề gì khi đình hoãn việc Việt Nam gia nhập WTO"
-- Thưa mỗi quốc gia hay nhóm quốc gia lại quan tâm đến một số lãnh vực. Thí dụ như các nước xuất cảng nông phẩm thì phàn nàn về chế độ trợ giá nông phẩm của Việt Nam, như cà phê chẳng hạn, có nước thì đề cập đến chế độ kiểm soát đầu tư, hay hạn chế nhập cảng, hoặc bảo vệ doanh nghiệp nhà nước, v.v... Nói chung, ngoài những trì trệ hay nhiêu khê về luật lệ đã từng được quốc tế khuyến cáo và than phiền, có bảy đề mục đã được nêu ra để lãnh đạo Việt Nam giải thích hay hứa hẹn thời hạn khai thông, cải cách. Đó là thứ nhất, Việt Nam vẫn phân biệt đối xử đầu tư, nôm na là vẫn có chế độ kỳ thị đầu tư nước ngoài, vì hạn chế ngạch số, tỷ lệ hùn hạp, hoặc cấm đầu tư ngoại quốc trong một số lãnh vực. Điều đó khiến ta nhớ đến việc tập đoàn bảo hiểm New York Life vừa quyết định rút khỏi Việt Nam sau hơn ba năm chầu chực với tờ giấy phép mà không nên cơm cháo gì. Hà Nội biện bạch là vì lý do an ninh, bảo vệ trật tự và môi sinh và hứa hẹn là năm nay Quốc hội sẽ ban hành luật lệ bãi bỏ sự kỳ thị ấy. Đề mục này còn đáng chú ý vì điều gọi là an ninh hay trật tự ấy có hạn chế việc đầu tư trong các ngành liên hệ tới truyền thông, xuất bản văn hoá phẩm, v.v... là những ngành mà Hà Nội vẫn muốn giữ độc quyền.

Hỏi: Thế còn đề mục thứ hai và các đề mục khác, thưa ông"
-- Đề mục thứ hai là chế độ trợ cấp của Việt Nam, nhất là đối với nông phẩm. Nhiều nước xuất cảng nông phẩm đòi bãi bỏ trợ cấp ngay từ khi gia nhập chứ không có thời gian ân hạn. Đề mục thứ ba là có sự kỳ thị về quyền mậu dịch nên vi phạm nhiều điều khoản của Thỏa ước Ngoại thương và Quan thuế Tổng quát. Thứ tư là nhiều nước đòi hỏi được cung cấp thông tin rõ rệt hơn về các doanh nghiệp nhà nước. Đề mục này đáng chú ý là vì càng có thông tin, cụ thể là có sổ sách rõ ràng, thì càng phát giác ra nhiều vụ tham nhũng động trời ở cấp cao nhất của doanh nghiệp và nhà nước, như tình hình năm qua có cho thấy. Đề mục thứ năm là Việt Nam có hạn chế nhập cảng một số mặt hàng đã sử dụng, như đầu máy hay lốp xe cũ, hoặc phụ tùng cơ phận và xe gắn máy. Đề mục thứ sáu là tiêu chuẩn quá thấp của Việt Nam so với Thỏa ước về Vệ sinh và Vệ sinh Thực vật. Sau cùng là đề mục được Hoa Kỳ quan tâm, là việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ chưa đạt tiến độ đáng kể.
Hỏi: Nói tới Hoa Kỳ, thưa ông, Việt Nam có thể chờ đợi gì từ hội viên này của WTO"
-- Tôi nghĩ là chờ đợi những lời khích lệ và rất nhiều khó khăn vì Hoa Kỳ đang có những tiêu chuẩn khác trong lãnh vực mậu dịch. Trước khi nói đến trường hợp Việt Nam và hồ sơ WTO, có lẽ mình cần nhìn ra toàn cảnh. Sau bế tắc tại Cancun vào tháng Chín năm kia, tổ chức WTO bị khựng và vòng đàm phán Doha mà tôi vừa nhắc tới đã gặp trở ngại mất gần một năm. Đồng thời, vì lý do an ninh, Hoa Kỳ đang theo đuổi cuộc chiến chống các lực lượng Hồi giáo ngụy danh Thánh Chiến mà tiến hành khủng bố. Mục tiêu an ninh ấy trở thành ưu tiên chiến lược của Mỹ và dẫn tới hệ quả bất ngờ cho nhiều người là muốn chống khủng bố thì phải dân chủ hóa như Tổng thống Bush đã loan báo tại Anh từ tháng 12 năm kia. Trong cảnh ách tắc của các diễn đàn đa phương về mậu dịch và ưu tiên chiến lược là diệt trừ khủng bố, chính quyền Mỹ mở ra hàng loạt các đàm phán song phương để ký kết hiệp định thương mại hay đầu tư với từng nước được coi là đồng minh. Chúng ta phải nói tới lá phiếu của Hoa Kỳ cho Việt Nam gia nhập WTO trong khung cảnh mới ấy.
Hỏi: Hậu quả cụ thể của những yếu tố mới ấy là gì"
-- Chính quyền Hoa Kỳ ngày nay chủ trương và thúc đẩy tự do mậu dịch, nhưng chủ động tiến hành việc ấy với từng quốc gia hay từng nhóm quốc gia trong từng khu vực và tạo ra một thế cạnh tranh rất gay go cho các nước, vì quốc gia nào cũng muốn có quy chế tự do như vậy với Hoa Kỳ, với một thị trường nhập cảng lớn nhất thế giới. Thứ hai, trong khi Hoa Kỳ đang đứng trên tuyến đầu của trận chiến chống khủng bố thì nhiều xứ lại phản đối mà vẫn muốn làm buôn bán dễ dàng với Mỹ. Tại Trung Đông, nhiều nước không ủng hộ kế hoạch hoà bình của Hoa Kỳ nhưng vẫn muốn kiếm lợi trong kế hoạch tự do mậu dịch do Mỹ đề xướng. Trước sự bành trướng đáng ngại của Trung Quốc khi Hoa Kỳ bận đối phó với khủng bố thì nhiều nước Đông Á lại bọc xuôi theo Bắc Kinh để kiếm lời mà vẫn mong được Hoa Kỳ bảo vệ về an ninh khi hữu sự. Kể từ nay, người ta nên chờ đợi là ngần ấy vấn đề về an ninh và quyền lợi mậu dịch sẽ được giàng với nhau. Một cách cụ thể, Hoa Kỳ xướng xuất khái niệm mới là “vượt qua WTO”, “WTO Plus”, với biện pháp giải tỏa còn triệt để hơn những quy định của WTO. Tiêu chuẩn về tự do kinh tế, dân chủ chính trị và hợp tác an ninh nay được đặt cao hơn và gần như lồng làm một. Việc Đại sứ Robert Zoellick, Đại diện Thương mại của Hoa Kỳ, được đề cử làm Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ báo hiệu rất nhiều biện pháp ngoại giao triệt để và rốt ráo từ phía Hoa Kỳ.
Hỏi: Nếu như vậy thì điều đó sẽ ảnh hưởng ra sao đối với Việt Nam"
-- Tôi nghĩ rằng điều đó còn tùy vào giới lãnh đạo Việt Nam. Đối với Hoa Kỳ, Việt Nam là một ưu tiên thấp; đối với toàn khu vực Đông Á, Việt Nam là một thực thể kinh tế không đáng kể. Ta có thấy báo chí quốc tế nói gì đến những thăng trầm hay thành bại của Việt Nam ngày nay đâu" Nhưng, trong vụ tranh chấp về tôm, Việt Nam được bộ Thương mại Mỹ đề ra một thuế biểu rất thấp nếu so với thuế biểu trừng phạt đặt ra cho ngành tôm của Trung Quốc. Và một phần những khó khăn về hạn ngạch dệt may của Việt Nam đã xảy ra chính là vì nạn tham nhũng trong chính quyền, chứ không hẳn là từ phía Hoa Kỳ. Vì vậy, ngoài yêu cầu về cải cách như WTO và các định chế quốc tế từng đề ra cho Việt Nam, Hoa Kỳ không đòi hỏi gì hơn là một nền kinh tế thị trường đích thực, một chế độ chính trị dân chủ hơn, không đàn áp nhân quyền hay tự do tôn giáo, và một lập trường thân thiện hơn với Hoa Kỳ trên các diễn đàn quốc tế. Những điều đó tùy thuộc vào sự chọn lựa khôn ngoan của nhà cầm quyền Việt Nam. Dĩ nhiên là họ cũng tìm cách vận động nước khác hay các tổ chức ngoài chính phủ bênh vực quan điểm của mình để thuyết phục Hoa Kỳ, nhưng hiệu quả đến đâu thì cuối năm nay mình mới biết được trong khi chờ đợi một kỳ họp nữa với WTO vào giữa năm nay.

Đã từ lâu, những gì Donald Trump nói, làm, hoặc tung ra trên Truth Social Media, đã không còn là một tuyên bố mang tính chuẩn mực cao nhất của quốc gia. Nó cũng không còn bao hàm những quyết định quan trọng mà người dân mong chờ sẽ mang đến một xã hội tốt đẹp hơn, an toàn hơn. Không phải những cận thần chung quanh Trump không nhận ra điều đó. Rõ nhất là “Thằng Ất” và “Thằng Giáp” – hai kẻ đã từng đưa ra lời chỉ trích mạnh mẽ thời chưa bước vào cửa quan. “Thằng Ất” JD Vance hồi năm 2016 đã nhắn tin cho một người bạn học cũ, gọi Trump là "Hitler của nước Mỹ.” Trong một bài viết đăng trên tờ The Atlantic vào năm 2016, Vance mô tả Trump như một thứ "’heroin’ văn hóa.”
Trong kho tàng ngụ ngôn Aesop có hai câu chuyện. Một chuyện kể về cậu bé chăn cừu thích lấy nỗi sợ của cả làng ra làm trò đùa. Cậu nhiều lần hét to “Sói! Sói!” để lừa người lớn chạy hộc tốc lên đồi, rồi bỏ về, bực bội vì bị lừa. Đến một ngày nọ, sói thật xuất hiện, cậu kêu cứu đến khản cổ mà không còn ai buồn chạy lên đồi cứu giúp, khiến đàn cừu của cậu bị sói vồ sạch. Chuyện thứ hai kể về một con sói thật kiên nhẫn. Ngày này qua ngày khác, nó lảng vảng đến gần đàn cừu. Lúc đầu, người chăn cừu cảnh giác, luôn tay xua đuổi nó. Nhưng sói chỉ đứng xa, trông hiền hòa, không vồ con nào. Lâu dần, chàng chăn cừu quen thuộc với sự hiện diện của Sói, cho đến khi bóng dáng con vật trở nên một phần của phong cảnh xung quanh đàn cừu. Tới một hôm bận việc, anh cả tin đến mức gửi luôn đàn cừu cho sói “trông hộ”. Tối về, chuồng chỉ còn vài con sót lại.
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.