Hôm nay,  

Người Mẹ Thời Chiến

16/11/201700:00:00(Xem: 10733)
Cổ Tấn Tinh Châu

 
Người Mẹ từ ngàn đời đã trở thành biểu tượng cao quý của lòng nhân hậu, đức kiên trung. Là người con Việt Nam chúng ta càng thêm tự hào về những người Mẹ.

Mẹ là người cả đời lam lũ, tảo tần, chắt chiu nuôi dưỡng bao thế hệ con cháu. Trong cuộc đời mỗi chúng ta, Mẹ là điểm tựa, là niềm tin vững bền, là bóng mát che chở, là nhựa sống truyền cho chồi non lớn lên, thành những người con ưu tú của đất nước.

Hình ảnh người Mẹ luôn bên đời ấm áp, mãi hy sinh, che chở. Từ khi cất tiếng khóc đầu tiên chào đời là ta đã nằm trọn trong tình yêu thương đó. Từng bước đi chập chững trước tiên của đời người, ai đã cầm tay ta dắt đi từng bước một? Khi ta lỡ ngã đau, người lên tiếng xít xoa, cảm nhận được nỗi đau của ta chính là người Mẹ? Ai mừng vui nhứt khi ta cất tiếng nói bi bô của tuổi thơ?

Khi bước chân vào trường, đằng sau ta không bao giờ thiếu vắng cặp mắt theo dõi đầy lo lắng của Mẹ hiền, khó có ai diễn tả được ánh mắt mừng vui hạnh phúc của Mẹ mỗi khi ta được điểm mười?

Từ đó, Mẹ là kho tàng yêu thương hạnh phúc, là tàng cây bóng mát che chở cho con nương náu trong những lúc vấp ngã hay cô đơn thất vọng, con lại tìm về suối nguồn yêu thương ấy để được nghe những lời an ủi, khuyên răn vỗ về sưởi ấm lòng con.

Mẹ đã hy sinh tất cả niềm vui, lẽ sống riêng tư của mình để lo cho con, ở mọi lúc mọi nơi, khi con cần là có Mẹ ở bên cạnh. Mẹ vì con mà ngậm đắng nuốt cay chấp nhận hết tất cả không một lời than van. Mẹ không đòi hỏi sự trả ơn, cũng chưa từng đem sự hy sinh của mình ra đong đếm. Điều mà Mẹ mong chờ nhứt, chính là sự trưởng thành của con mình.

Mẹ luôn nói:

-Các con là sự sống của Mẹ, là niềm tin và tự hào của Mẹ.

 Chúng ta hãy ngẩng cao đầu và vững bước vào đời! Không nên làm gì để hổ thẹn đến gia phong và Tổ Quốc.

Trong thời chinh chiến, người cha phải mang trên vai chí nam nhi bên ngoài chiến trường lửa đạn. Mẹ một mình gồng gánh nuôi con, vượt qua mọi trăm gian ngàn khổ, ôm con chạy giặc. Ta lại nhìn thấy hình ảnh mẹ cao cả, bao la,… trong giây phút nguy hiểm nhứt, lấy thân mình che bom đạn cho con.

Đất nước trải qua bao cuộc chiến xâm lăng trong máu lửa, Mẹ gánh cả giang sơn trên đôi vai gầy lam lũ đi suốt chiều dài lịch sử. Mẹ đã sinh thành, nuôi dưỡng các con, yêu con hơn chính bản thân mình. Hàng triệu-triệu bà Mẹ Việt nam đã lặng lẽ giấu đi những giọt nước mắt để nhìn những đứa con thân yêu của mình ra trận, chiến đấu vì tự do dân chủ của dân tộc và đất nước.

Người Mẹ nuốt nước mắt vào lòng để tiễn chân chồng, con lên đường chiến đấu rồi quay trờ lại một mình vừa lo gia đình còn phải lo chồng, con nơi chiến trận.

Biết bao người Mẹ thao thức đến nửa khuya, lắng nghe tiếng súng nổ vọng về đây từ nơi nào đó có con đang thi hành nhiệm vụ, Mẹ thổn thức nguyện cầu cho con được bình yên.

Mẹ lo âu sầu khổ, nhớ thương, kém ăn, mất ngủ kể từ khi con gia nhập đời lính. Mẹ luôn giật mình mỗi khi nghe tin từ chiến trận vọng về. Bất hạnh thay nếu tin vọng về con không còn nữa, con chết một lần thì Mẹ chết trăm lần, ruột gan nát tan, bút mực nào tả xiết nỗi đau Mẹ mất con! Tiếng nấc đau thương nào thảm thương hơn khi mẹ khóc con.

Một sự hy sinh cao thượng, dũng cảm, thầm lặng ngoài chiến trường không chỉ riêng người lính chiến chịu, mà nỗi đau oằn trên vai những người Mẹ, người vợ, người thân của các anh hùng đã hiến dâng đời mình cho tổ quốc.Tình yêu thương của người Mẹ đã hòa vào tình dân tộc, tình quê hương. Các chiến sĩ bị thương sau khi rời quân y viện lại về trong vòng tay chăm sóc của Mẹ cho đến ngày trở về đơn vị.


Kể từ hôm nay và mai sau, chúng ta phải nói lên sự mất mát quá lớn lao của những bà Mẹ và vợ chiến sĩ tiễn chồng và con ra đi, đã phải khóc thầm trong đau đớn khi chồng và con mình vĩnh viễn không trở về.

Ngoài chiến trường để bảo vệ đất nước là nhiệm vụ nam nhi, nhưng khi giặc tràn về, qua thôn xóm thì người phụ nữ cũng chung bổn phận cùng chồng con. Ngoài nhiệm vụ nặng nề của người phụ nữ khi chiến tranh nổ ra là ở hậu phương. Nhưng thực tế, thành phần phụ nữ tham gia cuộc chiến ở Việt Nam là một con số rất đáng kể, trong mọi ngành nghề yểm trợ tác chiến và ngay cả việc cầm súng chiến đấu, tiếp tế đạn cho chồng bên chiến hào là những tấm gương sáng không thiếu trong chiến sử Quân Lực VNCH.

Khi đất nước bị xâm lăng, người phụ nữ vẫn rời khỏi gia đình, khỏi vị trí truyền thống của họ để tham gia vào những nhiệm vụ thay cho nam giới trong các cơ sở, văn phòng… Người phụ nữ tham gia quân sự, và kết quả đã cho thấy họ cũng là những tác nhân biến đổi chiến tranh cho sự tiến bộ của phụ nữ.

Phụ nữ đã cống hiến cho Tổ Quốc tài năng, trí tuệ và lòng dũng cảm tuyệt vời, nêu những gương sáng cho con cháu mai sau. Một biểu tượng rất chân thực, thể hiện sự can trường mà cũng rất mực nhân hậu trong người phụ nữ Việt Nam.

Dẫu biết rằng chiến tranh có đau thương, mất mát nhưng không nỗi đau nào sánh bằng nỗi đau của người Mẹ mất con. Trong sự mất mát chia lìa bởi chiến tranh, người Mẹ nào chẳng khóc đau xé lòng vì con mình hy sinh trong trận mạc, dẫu biết chiến tranh nghiệt ngã sinh tử là điều không tránh khỏi, nhưng tình mẫu tử khiến nước mắt Mẹ không còn để khóc những người con lần lượt ra đi, đi mãi mãi.

Đôi mắt Mẹ mờ đi sau bao đêm dài vì thương nhớ con nhưng Mẹ luôn tự nhủ mình không thể gục ngã, còn đàn con thơ và nhứt là còn những đứa cháu nhỏ dại.

Khi bà Mẹ mất một người con, con dâu trở thành goá phụ, cháu nhỏ trở nên mồ côi cha. Trên bàn thờ gia đình thêm một linh bài tử sĩ. Chưa hết, khi chiến tranh tàn, người Cha tàn cuộc sống trong lao tù CS thì chính là lúc người phụ nữ, người Mẹ là nguồn sống còn duy nhất cho đàn con bé dại. Đàn con chỉ biết trông cậy vào sự bảo bọc, vào đôi tay yếu gầy đầy tình yêu thương của người mẹ mà thôi.

Chiến tranh đã đi qua hơn 40 năm rồi, vết thương trên da thịt đã lành theo năm tháng, nhưng vết thương lòng Mẹ vẫn nặng mang. Khói lửa chiến tranh đã tan rồi, còn lại một mình Mẹ thôi. Hình ảnh người Mẹ ngồi lặng lẽ bên mâm với mấy chén cơm chờ các con về ăn cùng, ở giữa là bình hương đã khiến tim chúng ta nghẹn lại vì cảm động.

Mẹ mong sao con mình thành nhân, phải sống cho có nghĩa, cho dù phải đánh đổi cái giá quá đắt cho đời mình. Có sức mạnh nào lớn hơn lòng Mẹ, có tình yêu thương nào trải khắp các vùng lửa đạn như tình yêu thương của Mẹ.

Chiến tranh không những cướp đi những người thương yêu, mà còn nhẫn tâm bào mòn nhan sắc, tuổi thanh xuân, niềm yêu đời, và ý nghĩa cuộc sống của những người phụ nữ.

Chúng ta luôn trân trọng, ghi nhớ và tri ân những cống hiến vô giá của những người Mẹ, người vợ của các anh hùng tử sĩ đã ngã xuống cho đất nước.

Cuộc đời cũng như sự đóng góp to lớn của các người Mẹ cho đất nước luôn là tấm gương soi sáng cho bao thế hệ phụ nữ noi theo. Mỗi chúng ta - những người đang được hưởng cuộc sống tự do - cần luôn luôn tự dặn mình phải làm gì, làm thế nào để góp phần làm vơi bớt nỗi đau trong lòng các Bà Mẹ.

Kính chúc các Mẹ luôn sống vui, sống khỏe để thế hệ trẻ được chăm sóc, bù đắp phần nào những đau thương mất mát các Mẹ đã trải qua.

Cổ Tấn Tinh Châu

Tháng 8-2017

 

Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.