Hôm nay,  

Chết Cha Rồi!

23/06/201800:00:00(Xem: 7758)
Nguyễn Thị Cỏ May

 
Ở Pháp và nhiều nước, lễ Cha được cử hành hôm Chủ Nhựt 17 vừa qua (17/6 năm  2018) nhưng còn nhiều nước Âu châu như Thụy điển, lễ Cha vào tháng 11, Luxembourg, sát biên giới Pháp, vào tháng 10. Cũng giống như lễ Mẹ, lễ Cha không tổ chức thống nhứt cùng một ngày. Nhưng khác hẳn với lễ Mẹ, lễ Cha cho tới nay, vẫn chưa được chánh thức và lịch sử ngày lễ Cha thật đáng buồn. Như thân phận làm Cha! Hay thân phận đàn ông ngày nay. Tuy người Cha tối cao của chúng ta là Thiên Chúa trên Trời. Và Đại diện Cha trên Trời ở Vatican vẫn là Đức Thánh Cha!

Ngày của Cha

Mỗi năm, con cái mừng lễ Cha. Chúng ta cảm ơn sự bảo bọc của Cha, thời gian sống với ông và hơn hết là tình thương ông dành cho chúng ta. Có thể ông là người cha thay mẹ chăm sóc chúng ta, người thường cho chúng ta bánh kẹo, hoặc người Cha độc đoán, khó tánh, nhưng hằng năm, chúng ta đều có dịp đừng quên  nói "Chúng con thương Cha" khi tháng sáu về.

Thế mà ở Pháp, ngày lễ Cha không hề được một văn kiện, một mảnh giấy, chánh thức thừa nhận. Vậy khi chúng ta tổ chức lễ chúc mừng Cha, nếu phải cảm ơn thì chúng ta sẽ cảm ơn ai đây?

Người ta chỉ nhớ lễ Cha lần đầu tiên được đưa ra năm 1952, hai năm sau ngày lễ Mẹ được chánh phủ ban hành chánh thức. Đó là ngày lễ thuần túy thương mại, như ngày Bà Nội (Bà Ngoại) hay Ông Nội (Ông Ngoại) vào tháng 10 hằng năm. Thật vậy, cái ngày mà ngày nay gọi là lễ Cha chỉ là ngày mà nhà sản xuất ống quẹt máy ở vùng Bretagne (miền cực Tây-Bắc của Pháp) đưa ra chiến dịch khuyến mãi sản phẩm của mình.

Giữa thế kỷ XX, thuốc điếu rất thơm, không đầu lọc. Ba số 5 (555), ngoài bao 20 điếu, còn thứ đựng trong hộp thiết tròn 50 điếu. Con Mèo (Craven A) đựng trong hộp thiết dẹp, màu đỏ tuyệt đẹp. Đó là thời đàn ông nhiều người hút thuốc. Không ít người chụp hình, tay kẹp điếu thuốc hoặc miệng đang phì phà điếu thuốc. Nhà làm quẹt máy Flaminaire (flamme là ngọn lửa) có ý kiến đề nghị chọn một ngày để biếu các ông hút thuốc một chiếc quẹt máy. Thế là họ chọn ngày Chủ Nhựt thứ ba của tháng 6 để biếu một quẹt máy Flaminaire cho một người đàn ông có con, tức người cha. Thế là từ đó, Chủ Nhựt thứ ba của tháng 6 trở thành ngày lễ Cha cho tới ngày nay!

Còn quà biếu cha? Không tươm tất như đối với mẹ. Một bông hồng đỏ, tượng trưng ngày mừng Cha hoa nở đẹp. Hoặc một bông hồng trắng đem ra mộ Cha!

Ngày nay, người con trai nào thường "chén cha, chén chú" với Cha thì mang lại biếu cha chai ruọu ngon hoặc một thùng la-de 24 chai, mừng lễ Cha. Theo kết quả điều tra thì trung bình món quà cho Cha năm nay không quá 40 €. Rất ít trường hợp con cái mời cha đi ăn ở nhà hàng. Nhiều nhứt là con cái điện thoại hay e-mail chúc mừng cha.

Thật ra, ngày lễ Cha, theo lịch sử văn minh Tây phương, đã có từ rất xa xưa, thời Trung cổ và vào ngày 19 tháng ba vì lễ Cha được kết hợp với Thánh Josephe, Cha của Đức Jésus - Christ. Nhưng mãi tới đầu thế kỷ XX ngày lễ ấy mới được thế tục hóa nhờ một phụ nữ trẻ người Mỹ, Sonora Smart-Dodd, vận động để thừa nhận vai trò làm cha cũng giống và bằng vai trò làm mẹ vậy. Để nhớ ơn người cha một mình đã nuôi dưỡng bà lớn khôn, bà đề nghị lấy ngày 19 tháng 6 làm ngày lễ Cha. Năm 1924, Tổng thống Mỹ Calvin Coolidge đồng ý chọn một ngày trong năm dành riêng tưởng nhớ công ơn người cha nuôi dạy con cái, nhưng mãi tới năm 1966, Tổng thống Lyndon B. Johnson mới ban hành ngày lễ Cha "Father's Day" ở Mỹ. Đúng là ngày Chủ Nhựt thứ ba của tháng 6.

Nói là "Công cha như núi Thái Sơn" nhưng cho tới ngày nay, ngày lễ Cha vẫn chưa được đồng đều chánh thức thừa nhận để cho ngày đó có một chỗ xứng đáng trong lịch như những ngày lễ khác.

Thân phận đàn ông

Địa vị đàn ông trong gia đình và xã hội ngày nay đã xuống cấp thảm hại thì địa vị Cha theo đó cũng không thể khá hơn. Các bà có được đầy đủ quyền lợi, cả quyền có con mà không cần vai trò người cha để sanh con thì dĩ nhiên người cha không còn chỗ đứng, trên thực tế và trên luật pháp. Rồi hai bà họp nhau làm một gia đình, kẻ làm cha, người làm mẹ. Thì cha ơi, cha ở đâu?

Trong gia đình đề huề cha lẫn mẹ thì người cha phải chia sẻ nghĩa vụ làm cha với người mẹ. Mẹ sanh con, nghỉ chăm sóc con có ăn lương thì cha cũng có quyền nghỉ ăn lương thế người mẹ để người mẹ đi làm trở lại. Bình thường, ngày nay, người cha hay đàn ông, trong nhà phải lãnh làm ít nhứt  phân nửa công việc nhà với bà vợ. Nếu người đàn ông thất nghiệp thì bao trọn gói công việc nhà của bà vợ, tức từ đi chợ, nấu cơm, rửa chén, lau nhà, lo cho con nhỏ,... Khi lãnh vai trò của bà vợ, họ luôn luôn  chu toàn không thể chê vào đâu được và thường có nhiều sáng tạo hơn người phụ nữ.


Ngày nay, cái cảnh chồng đi làm về, bà vợ đón cởi áo, máng lên giá, cởi giày cho, đem khăn nóng cho lau mặt để ông ngồi phô-tơi nghỉ mệt, đọc báo hay coi TV, đã đi vào lịch sử văn minh nhơn loại từ lâu lắm rồi.

Xã hội ngày càng văn minh thì vai trò người đàn ông hay người cha cũng đồng thời thay đổi. Người Cha không còn là hiện thân của quyền lực gia đình nữa. Từ nay, ông không còn thừa hưởng cái quyền đàn ông hay quyền làm cha một cách đương nhiên như ngày xưa. Cả ở nước còn ảnh hưởng thứ Tống nho: quyền của người cha là thứ quyền tuyệt đối "Phụ xử tử vong, tử bất vong, bất hiếu" cũng đã bỏ. Tức ý muốn nói ông không còn "sanh ra là cha, mà ông trở thành người cha" (Simone de Beauvoir, Người phụ nữ không phải sanh ra là phụ nữ mà họ trở thành phụ nữ). Thực tế, có hơn phân nửa số đàn ông xác nhận đồng ý chấp nhận sự chọn lựa vai trò mới này dành cho mình. Tuy cả hai cùng đi làm.

Từ nhiều thế kỷ qua, Âu châu chịu ảnh hưởng mô hình người cha theo La-mã nên đây quyền lực. Cũng giống như văn hóa Tống nho, người cha bỗng trở thành một thứ bạo chúa, thần Jupiter, nắm tất cả quyền hành đối với con cái và vợ, người ăn người làm.  Một thứ quyền sanh sát như của một nhà vua. Tuy nhiên, quyền này chỉ có trên lý thuyết hơn là trên thực tế. Người cha theo La-mã có cả quyền chọn lựa con cái. Ông có thể từ chối đứa con ngay lúc mới sanh và chọn con, cả người cpn này đã trưởng thành.

Thiên chúa giáo có làm dịu bớt sự thái quá nhưng tư tưởng căn bản vẫn không thay đổi. Trong xã hội quân chủ xưa, người cha hành xử quyền bính đối với mọi người trong gia đình cũng như ông vua đối với thần dân. Cách mạng Pháp xóa bỏ quan niệm này, mọi người là công dân của  quốc gia. Xã hội từ nay gồm những cá nhơn bình đẳng với nhau. Và người cha trở thành «người cha gia đình» của mình. Ông là cột trụ gia đình, nền tảng xã hội. Con cái tới 21 tuổi trưởng thành, có đời sống độc lập.

Người cha trong gia đình Việt nam

Theo Bà Mariam Darce Frenier Giáo sư lịch sử Đại học Minnesota về người Phụ nữ Huê Kỳ và các nước Đông Nam Á, tức Việt nam, thì địa vị người Phụ nữ Việt nam có tính chất đặc biệt hấp dẫn ở chỗ đã từng và đang ở mức độ cao hơn so với địa vị của Phụ nữ ở các nước trong vùng. Mà địa vị phụ nữ đo lường cho kết quả rõ ràng nhứt chỉ bằng cách đem so sánh với địa vị người đàn ông nơi người Phụ nữ sanh sống. Thí dụ, trong xã hội Triều tiên, người chồng phải thể hiện phẩm cách, người vợ phải biểu lộ sự tuân phục. Có như vậy thì gia đình mới được yên ấm nhờ được cai quản tốt. Trong lúc đó, theo Giáo sư William S. Turley cho rằng “Vai trò của Phụ nữ Việt nam trong xã hội truyền thống được xác định bởi một sự pha trộn phức tạp mà hấp dẫn giữa đạo đức Nho Giáo, các tập quán bản địa mang theo dấu vết của chế độ mẫu hệ, và các đạo luật chánh thống đầy mâu thuẫn; nó lại càng trở nên phức tạp hơn bởi sự thâm nhập của từng yếu tố nói trên, ở mức độ khác nhau, vào đới sống của xã hôi (William S. Turley, Phụ nữ trong cách mạng cộng sản ở Việt nam, Nghiên cứu Á châu, Tập 12, năm 1972, trong “Gia đình và Địa vị người Phụ nữ trong xã hội, xb Khoa học xã hội”, Hà nội, 1995).  Một học giả khác, Yu Insun, nhận xét người Phụ nữ Việt nam trong quan hệ với chồng trong gia đình “Nếu như gia đình Trung hoa đặc trưng bởi quyền lực của người cha trùm lên tất cả các thành viên trong gia đình, thì gia đình Việt nam nổi bật ở địa vị người vợ bình  đẳng với chồng và bởi sự khẳng định cá nhơn của các thành viên trong gia đình (Yu Insun, Luật pháp và gia đình ở Việt nam, thế kỷ 17 và 18, trong Gia đinh và Địa vị người Phụ nữ trong xã hội,sdd).

Người Phụ nữ Việt nam trong xã hội thời quân chủ vẫn được sống đúng nhơn phẩm của mình nhờ được tương đối cân bằng với địa vị người cha, người chồng. Của chồng, công vợ.

Chỉ khi người cộng sản tới làm giải phóng Phụ nữ thì người Phụ nữ Việt nam mới làm nhiệm vụ của đàn ông ở chiến trường, đảm nhiệm thay đàn ông những công việc nặng nhọc và nguy hiểm. Khi chiến tranh giải phóng thành công thì người Phụ nữ Việt nam được Nhà nước cộng sản xuất cảng lao động, bán rẻ ra nước ngoài làm đủ thứ nô lệ, ở trong xứ, biến thành công cụ phục vụ cho sanh hoạt của đàn ông có chức quyền. Như cô giáo phải đi hầu rượu các ông quan chức.

Nguyễn Thị Cỏ May

 

Đã từ lâu, những gì Donald Trump nói, làm, hoặc tung ra trên Truth Social Media, đã không còn là một tuyên bố mang tính chuẩn mực cao nhất của quốc gia. Nó cũng không còn bao hàm những quyết định quan trọng mà người dân mong chờ sẽ mang đến một xã hội tốt đẹp hơn, an toàn hơn. Không phải những cận thần chung quanh Trump không nhận ra điều đó. Rõ nhất là “Thằng Ất” và “Thằng Giáp” – hai kẻ đã từng đưa ra lời chỉ trích mạnh mẽ thời chưa bước vào cửa quan. “Thằng Ất” JD Vance hồi năm 2016 đã nhắn tin cho một người bạn học cũ, gọi Trump là "Hitler của nước Mỹ.” Trong một bài viết đăng trên tờ The Atlantic vào năm 2016, Vance mô tả Trump như một thứ "’heroin’ văn hóa.”
Trong kho tàng ngụ ngôn Aesop có hai câu chuyện. Một chuyện kể về cậu bé chăn cừu thích lấy nỗi sợ của cả làng ra làm trò đùa. Cậu nhiều lần hét to “Sói! Sói!” để lừa người lớn chạy hộc tốc lên đồi, rồi bỏ về, bực bội vì bị lừa. Đến một ngày nọ, sói thật xuất hiện, cậu kêu cứu đến khản cổ mà không còn ai buồn chạy lên đồi cứu giúp, khiến đàn cừu của cậu bị sói vồ sạch. Chuyện thứ hai kể về một con sói thật kiên nhẫn. Ngày này qua ngày khác, nó lảng vảng đến gần đàn cừu. Lúc đầu, người chăn cừu cảnh giác, luôn tay xua đuổi nó. Nhưng sói chỉ đứng xa, trông hiền hòa, không vồ con nào. Lâu dần, chàng chăn cừu quen thuộc với sự hiện diện của Sói, cho đến khi bóng dáng con vật trở nên một phần của phong cảnh xung quanh đàn cừu. Tới một hôm bận việc, anh cả tin đến mức gửi luôn đàn cừu cho sói “trông hộ”. Tối về, chuồng chỉ còn vài con sót lại.
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.