Hôm nay,  

Quán Âm Bán Cá

12/04/201917:45:00(Xem: 8977)

QUÁN ÂM BÁN CÁ

Phan Minh Hành

 

blank

Nguồn: Internet

 

     Vào đời nhà Đường bên Tàu trong một thôn làng phần đông thanh niên trai tráng thường tụ tập cờ bạc rượu chè, phá làng phá xóm và nhất là hay chọc ghẹo phụ nữ. Còn số ít là những sĩ tử ham học, tối ngày mài dũa kinh sử đợi chờ ngày thi cữ trúng tuyển ra làm quan, "Trai thời đọc sách ngâm nga, Dùi mài kinh sử  đại khoa đón chờ". Một ngày nọ cả thôn xóm, hàng quán, chợ búa, khắp nơi xôn xao về sự xuất hiện của một cô gái khoảng tuổi tròn 18 mộng mơ ở ngoài chợ. Không ai biết lai lịch của cô gái nầy, chỉ thấy mỗi sáng sớm cô gái xinh tươi như một tiên nữ ôm chậu cá ra chợ ngồi bán. Điều khá ngộ nghĩnh nơi cô bán cá duyên dáng và dễ thương nầy là ở trước ngực mang một miếng vải viết hai hàng chữ ngắn gọn:

          - Mua cá phải phóng sanh.

          - Không phóng sanh không bán.

     Khi được hỏi lý do tại sao phải phóng sanh cá, bằng nụ cười nhân ái trên môi cô gái lễ độ đáp rằng lời dạy của Đức Thế Tôn vẫn luôn văng vẳng bên tai ".. đến một cọng cỏ không được lấy, đến một con kiến không được giết..". Rồi khi được vặn hỏi thêm tại sao không được giết đến một con kiến nhỏ bé, cô gái bán cá vẫn nhỏ nhẹ viện dẫn lời Đức Khổng Tử đã dạy: "Văn kỳ thanh bất nhẫn kiến kỳ thực, kiến kỳ sanh bất nhẫn kiến kỳ tử". (Nghe tiếng kêu la của con vật, không nỡ ăn thịt nó; thấy nó sống không đành thấy nó chết). Nhưng đối với trai tráng trong làng việc mua cá để phóng sanh là việc dễ dàng thực hiện, chứ việc làm thế nào chinh phục trái tim người đẹp mới là việc khó khăn.

Bởi vì cô gái bán cá là cục nam châm thú hút đám trai trẻ đến nhìn ngắm, thả lời ong bướm ghẹo nguyệt trêu hoa; là đề tài hấp dẫn đánh động đám văn nhân tài tử nhả ngọc phun châu làm thơ tặng người đẹp; và cũng là một trinh nữ thơm ngát để các bà mai bà mối nói lời hương thơm mật ngọt, hứa hẹn bắt nhịp cầu duyên đến các quan quân. Nhan sắc đẹp xinh ngất trời của cô gái bán cá lan tỏa sang các làng thôn bên cạnh, khiến nức lòng trái tim của hàng nam giới mơ ước kết tóc se duyên với nàng bán cá. Trước sự ngưỡng mộ và thương yêu của các trai trẻ trong làng, cô gái bán cá dịu dàng nói: 

          " Thân em chỉ có một mình, làm sao thỏa mãn mơ ước của tất cả chàng trai? Thôi thì em sẽ trao thân nầy cho ai thực hiện đúng theo điều kiện của em".

     Mọi người đồng nhao nhao hỏi:

          " Điều kiện gì, mong em hãy nói mau?"

     Cô gái bán cá lễ phép trả lời:

          "Trong bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa chương thứ 25 là Phẩm Phổ Môn. Người nào học thuộc Phẩm Phổ Môn chỉ trong 1 ngày ngày, em sẽ sánh duyên với người đó."

     Mấy ngày sau kết quả có 10 nam tử học thuộc Phẩm Phổ Môn trong vòng 1 ngày đúng như điều kiện của cô gái đưa ra.  Nhưng cô gái bán cá ngậm ngùi thở than:

          "Thân gái đơn côi nầy làm sao chia sẻ cho 10 người vừa đáp đúng câu hỏi ban đầu. Thôi thì em buộc lòng đưa ra điều kiện thứ hai".

    Mười người thỏa đáng điều kiện thứ nhất đồng thanh hỏi:

          "Điều kiện thứ hai là gì, mong nàng hãy nói mau?"

          "Người nào học thuộc kinh Kim Cang trong vòng 3 ngày, thân em sẽ thuộc về người đó."

     Vài ngày sau kết quả có 3 người học thuộc lòng kinh Kim Cang chỉ trong 3 ngày. Lần nữa cô gái bán cá ôm đầu suy tư rồi từ tốn nói:

          "Trong ba người xuất chúng thông minh nầy, thân em biết trao về ai đây? Thôi thì em bất đắc dĩ phải đề ra điều kiện thứ ba vậy".

     Ba người có trí nhớ tốt đó tự tin hỏi:

          "Điều kiện thứ ba là gì, mong nàng hãy nói mau?"

          "Trong Phật giáo Đại thừa có bộ kinh được xem là vua của các kinh, đó là bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Người nào học thuộc kinh Pháp Hoa trong vòng 7 ngày, em nhất định sẽ kết thành phu phụ với người đó."

     Theo Hòa Thượng Tuyên Hóa phải mất đến 6 tháng mới có thể học thuộc lòng 554 câu thần chú Thủ Lăng Nghiêm, nên mọi người đều nghĩ rằng không ai có thể đáp ứng được điều kiện thứ ba của cô gái. Nhưng rồi chỉ có một người độc nhất với trí huệ sáng ngời đã học thuộc kinh Pháp Hoa trong một thời gian ngắn ngủi 7 ngày, đúng như điều kiện cô gái đòi hỏi và do đó trở thành phu quân của cô gái bán cá với sắc đẹp như tiên nữ trên trời.

     Theo tục lệ ngày xưa ở Trung Hoa, trong phòng hoa chúc của chú rể và cô dâu phải có cặp hoa nến được thắp sáng (nên được gọi là hoa chúc), và giữ làm sao cho cặp nến nầy cháy sáng song hành hay tàn lụi với nhau cùng một lúc, nhằm mong mỏi cặp vợ chồng mới cưới sống trăm năm hạnh phúc, chứ không sống trong cảnh người chết trước kẻ chết sau. Nhưng trong đêm động phòng phòng hoa chúc của cô dâu và chàng rể, một cây nến tắt ngủm bao giờ không ai thấy. Trước giờ động phòng cô dâu hoan hỉ hỏi chàng rể:

          " Chàng có thể nói em nghe chàng có bí quyết gì, hay phương cách gì giúp chàng học thuộc lòng bộ kinh Pháp Hoa chỉ trong 7 ngày được không?"

          " Nàng ơi, đó là bấy lâu nay hằng đêm anh thường chuyên thọ trì tụng niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, khiến trí huệ anh tăng trưởng và cầu gì được nấy. Nhờ nàng anh đã có duyên lành to lớn học thuộc lòng kinh Pháp Hoa và kinh Kim Cang, nên anh nguyện sau nầy anh sẽ làm bất cứ việc gì nàng muốn."

    Khi nghe chàng rể nói như thế, cô dâu vui mừng khôn xiết  nên liền nhờ chú rể giúp thực hiện điều tâm nguyện ấp ủ bấy lâu nay:

          " Chàng có nhận thấy không, trong làng nầy chùa thì ít, kỹ viện lại nhiều, hàng quán thì đông, trường học lại vắng, nên quá ít người hiểu đạo, giữ năm giới, tất sinh ra nhiều tệ trạng xấu xa và sa đọa."

          " Anh đồng ý với nàng, bởi thế trai trẻ trong làng nầy sớm ngày cờ bạc, rượu chè, hút sách, mê chốn lầu xanh quá nhiều.

          " Vì vậy em xin chàng hãy nhớ làm giùm em, cố gắng khuyên nhủ mọi người, nhà nhà, trai gái trong làng hãy hằng đêm lễ bái và tụng niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, đặng nhờ oai lực của Quán Thế Âm Bồ Tát sao cho trai thì không rượu chè, cờ bạc, hút sách ma túy, gái thì trao dồi đức hạnh, chăm sóc gia đình."

          " Anh xin hứa với nàng anh sẽ hết lòng gắng sức thực hiện điều tâm nguyện của nàng. Anh sẽ nói với mẹ cha bỏ tiền xây chùa, độ tăng, in kinh, cúng dường tam bảo cùng bố thí kẻ tàn tật nghèo khó. Và anh sẽ cố gắng nghiêm trì giới luật, học hỏi kinh điển, trao dồi trí tuệ đặng quảng bá đạo pháp đến khắp mọi nơi"

      Cô gái bán cá vui sướng vô ngần khi nhận thấy nàng rất may mắn chọn được một người hôn phối có tâm tư quá gần gũi với đạo pháp như nàng. Cô dâu nhìn chú rể bằng ánh mắt kính trọng, thương yêu và nói:

          " Bây giờ xin chàng chiều lòng em một điều cuối nầy thôi."

          " Anh rất vui làm những điều em muốn."

          " Em vào phòng buông mùng nằm nghỉ trước. Ở ngoài nầy em muốn chàng đọc tụng kinh Phổ Môn cho em nghe. Sau khi tụng xong chàng vào phòng với em, chàng nhé."

     Chờ cô gái đi vào buông mùng, chàng rể liền ngồi xuống kiết già và tụng…. Phật bảo Bồ tát Vô Tận Ý "Này Thiện nam tử! Nếu có vô lượng muôn ức chúng sanh đương chịu các khổ não, nghe đến danh hiệu Bồ tát Quán Thế Âm, thiết tha xưng niệm, tức thời Bồ tát Quán Thế Âm quán triệt âm thanh đó, khiến cho họ đều được giải thoát."

          Khi chàng rể tụng xong chương thứ 25 Phẩm Phổ Môn trong kinh Pháp Hoa, chàng bước ra đi đóng tất cả cửa trong nhà, rồi bước vào phòng ngủ. Dưới một ngọn nến lung linh mờ ảo, chàng rể nhìn thấy cô dâu trong bộ y phục ngày cưới màu đỏ chưa thay, nằm thư thái trên giường, ánh mắt khép lại và khuôn mặt toát ra niềm mãn nguyện, hạnh phúc. Cũng trong bộ y phục ngày cưới màu đỏ chưa thay, chàng rể đến bên giường, lòng hoan hỉ cầm tay cô dâu. Bỗng chợt nhận ra bàn tay cô dâu lạnh toát, tim ngưng đập và hơi thở không còn! Chàng rể uất nghẹn, gục đầu trên người cô dâu, bậc lên tiếng nấc nghẹn ngào:  

                   Tưởng đời như mơ

                   Nhưng ai nào ngờ

                   Hôm nay đại hỉ

                   Ngày mai đại tang!

    

      Nắng đã lên cao nhưng mây xanh vẫn còn bao phủ bầu trời, gió thổi vi vu trong nghĩa trang, chàng rể cùng các thân nhân và họ hàng đang lấp đất đầy ngôi mộ cô gái bán cá. Đôi mắt chàng rể nhuốm lệ và đỏ hoe, quỳ trước quan tài cô dâu, hai bàn tay bốc từng nấm đất bỏ lên quan tài. Bỗng đâu xuất hiện một lão tăng già mặc áo tràng nâu, chống gậy đi đến nói với chàng rể hãy đừng làm một việc vô nghĩa nầy nữa. Ngước mắt nhìn lão tăng chàng rể nghẹn ngào hỏi:

          " Tại sao vậy thưa cụ?"

          " Chẳng có ai nằm trong quan tài hết."

     Không để chàng rể hỏi tiếp, lão tăng chậm rãi nói rằng bởi vì cô gái bán cá chính là Bồ Tát Quán Thế Âm thị hiện, nhằm giáo hóa và cứu độ trai tráng trong làng thoát khỏi bờ mê của ngũ dục. Vừa nghe qua chàng rể và mọi người chung quanh đều rợn người kinh hãi, tưởng chừng như sóng biển vang ầm, như sấm nổ bên tai. Rồi như một phản xạ tự nhiên chàng rể cào đất ra khỏi mộ và mở nắp quan tài. Quan tài trống rỗng, không thấy xác thân cô gái bán cá nằm trong đó! Chàng rể sững sờ, chết lặng hồi lâu, rồi quay mặt định nói vài lời với lão tăng, nhưng mọi người không thấy lão tăng đâu cả.

    Sau nầy chành rể nhớ lại cô gái bán cá đã lôi cuốn các chàng trai trong làng bằng sắc đẹp mỹ miều, duyên dáng và bằng đức hạnh hiền hòa, đoan trang. Rồi sau đó cấy vào họ những chủng tử thiện lành qua các bộ kinh đại thừa Phât giáo, rất phù hợp với lời kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết, quyển trung, phẩm thứ tám:" Trước là dùng dục để lôi kéo, sau khiến nhập Phật tri kiến" (Tiên dĩ dục câu khiên, hậu linh nhập Phật trí ). Chàng rể cũng hồi tưởng lại những lời tâm nguyện của cô gái bán cá, nên chàng hoàn toàn tin tưởng rằng cô gái bán cá và cả vị lão tăng, chính là Bồ Tát Quán Thế Âm thị hiện. Chính Đức Thế Tôn đã nói trong phẩm Phổ Môn rằng Bồ Tát Quán Thế Âm đã thị hiện rất nhiều thân khác, từ thị hiện thân Phật, Thanh Văn..v..v.. cho đến thân cư sĩ, trưởng giả, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, đồng nam đồng nữ nói pháp, với mục đích hóa độ chúng sanh thoát khỏi bờ mê đến bờ giác ngộ. Sau nầy nhờ vào hình ảnh và câu chuyện Quán Âm Bán Cá, dân trong làng đã buông bỏ rất nhiều sự tham đắm ngũ dục (tiền tài, danh vọng, sắc dục, ăn uống, ngủ nghỉ), thay vào đó họ siêng năng thăm viếng chùa chiền cùng tinh tấn tu học kinh điển Phật giáo. Vì thế Phật giáo đời nhà Đường được xem là hưng thịnh nhất ở Trung Hoa, mà công lao của bà Hoàng Đế Võ Tắc Thiên không phải là nhỏ. Ngày nay hầu hết các phật tử đều thuộc lòng 4 câu "Khai Kinh Kệ" của bà Hoàng Đế Võ Tắc Thiên sáng tác:
 

          Phật pháp rộng sâu rất nhiệm mầu
          Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu
          Con nay nghe được chuyên trì tụng
          Nguyện rõ Như Lai nghĩa nhiệm mầu

 

Ngày 10 tháng 4, 2019

Phan Minh Hành

 

Đã từ lâu, những gì Donald Trump nói, làm, hoặc tung ra trên Truth Social Media, đã không còn là một tuyên bố mang tính chuẩn mực cao nhất của quốc gia. Nó cũng không còn bao hàm những quyết định quan trọng mà người dân mong chờ sẽ mang đến một xã hội tốt đẹp hơn, an toàn hơn. Không phải những cận thần chung quanh Trump không nhận ra điều đó. Rõ nhất là “Thằng Ất” và “Thằng Giáp” – hai kẻ đã từng đưa ra lời chỉ trích mạnh mẽ thời chưa bước vào cửa quan. “Thằng Ất” JD Vance hồi năm 2016 đã nhắn tin cho một người bạn học cũ, gọi Trump là "Hitler của nước Mỹ.” Trong một bài viết đăng trên tờ The Atlantic vào năm 2016, Vance mô tả Trump như một thứ "’heroin’ văn hóa.”
Trong kho tàng ngụ ngôn Aesop có hai câu chuyện. Một chuyện kể về cậu bé chăn cừu thích lấy nỗi sợ của cả làng ra làm trò đùa. Cậu nhiều lần hét to “Sói! Sói!” để lừa người lớn chạy hộc tốc lên đồi, rồi bỏ về, bực bội vì bị lừa. Đến một ngày nọ, sói thật xuất hiện, cậu kêu cứu đến khản cổ mà không còn ai buồn chạy lên đồi cứu giúp, khiến đàn cừu của cậu bị sói vồ sạch. Chuyện thứ hai kể về một con sói thật kiên nhẫn. Ngày này qua ngày khác, nó lảng vảng đến gần đàn cừu. Lúc đầu, người chăn cừu cảnh giác, luôn tay xua đuổi nó. Nhưng sói chỉ đứng xa, trông hiền hòa, không vồ con nào. Lâu dần, chàng chăn cừu quen thuộc với sự hiện diện của Sói, cho đến khi bóng dáng con vật trở nên một phần của phong cảnh xung quanh đàn cừu. Tới một hôm bận việc, anh cả tin đến mức gửi luôn đàn cừu cho sói “trông hộ”. Tối về, chuồng chỉ còn vài con sót lại.
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.