Hôm nay,  

Sương Khói Mong Manh

25/04/201900:10:00(Xem: 9066)

SƯƠNG KHÓI MONG MANH
 

Nguyễn Ngọc Phúc
 

Nhân tháng 4 đen và ngày 30/4 trở lại trong năm 2019, tôi muốn nhớ về một kỷ niệm xót xa trong thời chiến trước năm 1975.

Thủa trung học, tôi có hai người bạn rất thân thiết. Không những chúng tôi chia sẻ ngọt bùi  cho  nhau mà ngay cả cuộc đời tình ái của mỗi đứa trong tuổi hoa niên mơ mộng và yêu đương, chúng tôi cũng chẳng dấu diếm gì với nhau.
 

Tình yêu của Dương, một trong hai người bạn thân của tôi, là một câu chuyện tình lãng mạn tôi không bao giờ có thể quên được.

  
 

Ra trường trung học, Dương đã tình nguyện vào Không Quân năm 65 và được gửi sang Mỹ học khóa huấn luyện phi công. Sau khi tốt nghiệp, Dương trở về Việt Nam phục vụ cho đất nước.

 

Trong một buổi tối đầu năm Dương Lịch 1970 vào khoảng cuối năm Kỷ Dậu, Dương đến đánh sập xám ở trên lầu nhà tôi.

 

Mãi mê đánh bài cho tới quá nửa đêm, tôi chợt nhớ và hỏi Dương :

- Mai mày có đi bay không?

Dương trả lời:

- Có

Tôi hỏi tiếp:

- Mấy giờ?

Dương đáp:

- 5 giờ sáng.

Nhìn đồng hồ thì thấy gần 2 giờ đêm rồi. Tôi bèn quyết định:

- Thôi nghe. Hết ván này nghỉ, cho mày về ngủ, mai sáng còn đi bay. Mai mốt chơi tiếp.

Mọi người OK. Sau đó, tụi tôi tan sòng.

 

Tôi lên giường ngủ ở trên lầu và thiếp đi lúc nào không hay. Chớp mắt được một lúc, tôi bật tỉnh người ngồi dậy vì nghe có tiếng dộng cửa dưới nhà rầm rầm liên tục. Mắt nhắm mắt mở và nhăn mày khó chịu, tôi lầu bầu xuống cầu thang chạy ra cửa để xem đứa nào sáng sớm dám dộng cửa nhà mình ầm ầm trong mấy ngày cuối năm này.

 

Mở cửa ra, thấp thoáng thấy một thằng bé trai tuổi chừng 12, 13 đang đứng mếu máo, tôi chưa định thần được xem nó là ai thì nghe tiếng nói trong tiếng khóc:

- chú Nguyên ơi, chú Dương chết rồi.

Nó nói mấy lần như vậy.

Tôi giật nẩy người và tỉnh hẳn trong giấc ngáy ngủ. Lúc đó, mới nhận ra, thằng bé đang khóc  chính là cháu của Dương, tên Thanh, con trai của anh cả của Dương.

Tôi la lên:

- Cái gì? ai chết? Sao chết?

Nó khóc tiếp:

- rớt máy bay.

Trời đã ửng sáng. Quay đầu lại nhìn đồng hồ trong nhà, thấy gần 8 giờ sáng.

Tôi vội nói với nó:

- chờ chú một tí, chú sẽ qua nhà cháu ngay bây giờ.

 

Cho đến nay, tôi vẫn mang nỗi ân hận này hoài. Không biết có phải vì đêm đánh bài khuya ở nhà tôi đã làm cho Dương mệt mỏi để sáng hôm sau bị tai nạn rớt máy bay chăng?

 

Sau 49 năm qua, tôi đã được biết thêm các chi tiết của tai nạn gây ra cái chết cho Dương, một cái chết “định mệnh.”

 

Tai nạn xẩy ra và máy bay rớt ở phi trường Tây Ninh.

 

Thật may mắn, không như tôi nghĩ, Dương không phải là phi công lái chiếc máy bay bà già L19 trinh sát hôm đó mà là observator, quan sát viên, ngồi ghế sau.

 

Theo lời kể của bạn bè, máy bay đáp xuống phi trường Tây Ninh quá ngắn và có đàn bò đi ngang phi đạo ở cuối sân trong khi máy bay chưa kịp thắng đứng lại. Vì vậy, sợ đụng đàn bò, phi công phải lấy lại tay lái và tống ga để cất cánh lên ở cuối phi đạo.

 

Nhưng vì không đủ cao độ an toàn, cho nên, hai bánh xe của máy bay đã vướng vào giây cột điện ở cuối phi đạo làm máy bay bị giựt lại và lật ngược ở cuối đường.

 

Máy bay rớt lật ngửa và nổ trong một đám cháy lớn. Dân chúng trong làng chạy ra cứu nhưng thật khó khăn và kinh hoàng vì lửa bùng lên quá lớn, cháy lan ra phòng lái và ở cánh phi cơ lại có gắn hỏa tiễn. Dân làng mở được cửa phòng lái bị lật ngược và cứu được người phi công lái ở đằng trước, còn Dương ở đằng sau, vẫn còn sống và bị gẫy chân, không ra được vì bị dính vào seat belt máy bay, dân làng không biết cách mở seat belt để cứu và kéo Dương ra ngoài. Trong khi đó, ngọn lửa càng ngày càng lớn cháy lan rộng tới dàn hỏa tiễn ở bên cánh.

 

Dương vẫn còn sống ở trong phòng lái nhưng rồi tuyệt vọng và tuyệt vọng cho cả Dương lẫn người cứu. Cuối cùng, dân làng chịu thua bỏ chạy và đã để Dương ở lại một mình trong cõi chết.

 

Ông bố của Nghĩa, người bạn thân thứ hai của tôi, đã nói một câu về Dương khi mất đi như một lời khắc trên mộ bia cho Dương. Cho đến bây giờ, tôi vẫn ghi trong lòng :

 

" Một cái chết định mệnh "

 

Bởi Dương đã yêu một cô gái nhưng đời trai lính chiến sống chết nay mai là một nỗi lo sợ của gia đình cô gái vì không muốn con gái mình trở thành góa phụ quá sớm. Cho nên, tình yêu đó chỉ đếm được từng ngày trong nỗi buồn của đôi tình nhân.

 

Thôi thì cứ để định mệnh trôi theo dòng đời ở mỗi ngày và từng ngày đi qua nhưng không ngờ tạo hóa đã kết thúc định mệnh đó thật bi thảm và bất ngờ.

 

Tình yêu của Dương là cửa ngõ đi vào thiên đường nhưng Dương không thể nào bước chân qua được ngưỡng cửa địa đàng. Dương đã đứng ở đó chờ rất lâu và không biết bao giờ cánh cửa thiên đường sẽ mở. Không ai kể cả Dương và người yêu của mình có được cái chìa khóa để mở.

 

Cuối cùng, định mệnh đã lấy đi cái chìa khóa đó và cánh cửa thiên đường đã bị khép lại vĩnh viễn.

 

Lúc còn sống, Dương là một người bạn hiền lành, hay cười xuề xòa vui vẻ, dễ dãi, không có những ước mơ nào to lớn và cũng không bao giờ có lời ta thán về cuộc đời và tình yêu.

 

Một khuôn mặt, một con người và một người bạn tôi không bao giờ quên.

 

Sau khi được biết chuyện về tai nạn của Dương, tôi đã được giải thoát khỏi nỗi ân hận sau 49 năm dài mang trong người nhưng nỗi nhớ và buồn về người bạn thân này vẫn còn đây.

 

Nỗi day dứt của tôi cho một cái chết định mệnh đã khiến tôi viết ra được một ca khúc để tưởng nhớ đến người bạn thân và câu chuyện tình sử của bạn mình.

 

Nó có thể nguội, nó có thể mờ, nó có thể nhạt nhòa trắng đen không mầu sắc, nó có thể vô nghĩa xa lạ với mọi người, nó có thể không hay và tầm thường nhưng với tôi, nó là một lời tôi muốn nói với Dương từ khi Dương mất đi.

 

Tôi muốn để kỷ vật này thay lời khắc " Một cái chết định mệnh" trên mộ bia cho Dương dù rằng tất cả đã mờ nhạt theo thời gian.

 

Bài hát có tên Bâng Khuâng, là một nửa đầu về cuộc tình của bạn tôi.

 
Xin mời thưởng thức bài hát qua YouTube

   

 

BÂNG KHUÂNG

   Nhạc & lời: Nguyễn Ngọc Phúc
 

 Chiều xuống bâng khuâng

Theo em về cuối trời

Chiều tím bâng khuâng

Chân anh mang nỗi ngàn Thu

Yêu tà áo trắng

Tim khờ khạo im bước

Khép nỗi cô đơn

Anh ngập ngừng lặng lẽ theo

 

Ngày tháng bâng khuâng

Em mang cả thiên đường

Có áo em bay

Bên hoa thơm nắng lượn quanh

Sợi tóc tung tăng

Tay vội vàng cuống quít

Cuộn đời mưa bay

Nghiêng vai rơi một chút tình

 

Một mình bước

Theo em từng cơn mưa buồn

Chiều nhẹ rơi

 Yêu em từ muôn kiếp nào

Chờ đợi tình

Thương tà áo trắng

Chờ đợi người

 Mơ chiều hoang vắng

Rồi thì thầm

Khắc khoải

 Yêu em

 

Giờ hết bâng khuâng

Anh đi mang cả thiên đường

Không áo em bay

Không hoa không nắng lượn quanh

Ôi! nắng phôi pha

Ôi! Ngàn trùng xa vắng

Cuộn mình chơi vơi

Buông tay khép lại thiên đường

 

Vỗ giấc ngủ vùi

Quên dấu địa đàng

Quên những chiều vàng

Giấc mơ tan rồi.

 

Khi viết xong Bâng Khuâng tháng 4 năm 2018, tôi thật xúc động và trong trái tim mình, bỗng nhiên,  thật nhiều kỷ niệm và hình ảnh xa xưa đã dồn dập ào ạt trở về.

 

Tôi không thể ngăn chận được nỗi cảm xúc lớn lao đó. Vì vậy, một thời gian ngắn về sau, tôi quyết định viết thêm một nửa sau về cuộc tình của Dương.

 

Cái chết của Dương năm 1970 đã trôi qua cả chục năm sau đó, tôi không biết cuộc đời của bạn bè nhất là người yêu của Dương đã sang trang như thế nào nhưng tôi biết chắc một nửa sau của cuộc tình này sẽ là một nỗi cô đơn chơ vơ rất lớn:

 

Một tiếng yêu anh

Ở cuối thiên đường

Tưởng đã phai nhòa

Òa....nỗi nhớ

 

và người ở lại:

Từ mỗi cơn mê

Từ lúc đêm về

Mở cánh thư xưa

Em...úa tàn.

 

Từ đó, bài thơ Thiên Đường Đã Khóc đã được viết ra trước tiên và sau đó, được phổ nhạc.

 

Ca khúc Thiên Đường Đã Khóc ra đời vào ngày 1 tháng 1 năm 2019.

 

Chắp nối hai nửa này với nhau, tôi nghĩ tôi đã hoàn tất trọn vẹn một câu chuyện tình đẹp trong cuộc chiến với một kết thúc buồn thảm mà nhà thơ Linh Phương và Phạm Duy đã từng gọi đó là Kỷ Vật Cho Em.

 

Cái tên nghe xót xa quá. Tôi không muốn vậy. Đối với tôi, cuộc tình thơ mộng và lãng mạn này phải được thăng hoa lên trên đỉnh yêu thương thật cao, trên cả những xót xa và bi lụy của cuộc đời.

 

Những lời thơ được phổ nhạc chính là dáng dấp của tình yêu đã ở lại với người tình mà tôi muốn dành tặng cho những người con gái Việt Nam nào đã từng có người yêu là lính và hy sinh trong chiến tranh Việt Nam.

 

Tôi sẽ góp lại hai nửa câu chuyện của tôi ở trong tùy bút Sương Khói Mong Manh và để Dương, nếu được thở chữ yêu thương bên tai người yêu, lời thì thầm của Dương sẽ như gió thoảng:

 

“ Sương là Em, Khói là Anh và Mong Manh vì tình yêu của chúng mình thật mong manh như Sương và Khói, không biết tan vỡ vào lúc nào.”

 

Xin mời thưởng thức: 

MP3 Thiên Đường Đã Khóc

  

THIÊN ĐƯỜNG ĐÃ KHÓC

Nhạc và thơ:  Nguyễn Ngọc Phúc

 

Trăm năm buồn

Giờ là sương khói

Một chút hương thơm

Cho cõi đời

Trăm năm dài

Trải vào hư vô

Dù đã phôi pha

Ngày tháng tàn

 

Trăm năm đợi

Từ ngàn đêm tối

Rơi xuống thinh không

Hạt mưa sầu

Trăm năm chờ

Từng giọt sương khuya

Từ lúc trăng lên

Ôm lịm hồn em

 

Mê trầm mình em

Cuộn nỗi cô đơn

Đêm mưa hiu hắt

Bước chân ai về

Như tiếng anh thì thầm

Bên tai lời

Nồng nàn êm ái

Thở chữ yêu thương

Thiên đường đã khóc

 

Hạnh phúc mong manh

Từng nỗi xót xa

Đêm nghe hoang vắng

Vói ánh trăng khuya

 Che nỗi chơ vơ buồn

Một tiếng yêu anh

Ở cuối thiên đường

Tưởng đã phai nhòa

Òa....nỗi nhớ

 

Lệ ướt tim em

Rơi xuống hương yêu

Trên căn gác cũ

Bóng anh xa xôi

Em ngóng trông mong chờ

Từ mỗi cơn mê

Từ lúc đêm về

Mở cánh thư xưa

Em...úa tàn.

 

Nguyễn Ngọc Phúc

Ngày 1 tháng 1 năm  2019.

 

 

Đã từ lâu, những gì Donald Trump nói, làm, hoặc tung ra trên Truth Social Media, đã không còn là một tuyên bố mang tính chuẩn mực cao nhất của quốc gia. Nó cũng không còn bao hàm những quyết định quan trọng mà người dân mong chờ sẽ mang đến một xã hội tốt đẹp hơn, an toàn hơn. Không phải những cận thần chung quanh Trump không nhận ra điều đó. Rõ nhất là “Thằng Ất” và “Thằng Giáp” – hai kẻ đã từng đưa ra lời chỉ trích mạnh mẽ thời chưa bước vào cửa quan. “Thằng Ất” JD Vance hồi năm 2016 đã nhắn tin cho một người bạn học cũ, gọi Trump là "Hitler của nước Mỹ.” Trong một bài viết đăng trên tờ The Atlantic vào năm 2016, Vance mô tả Trump như một thứ "’heroin’ văn hóa.”
Trong kho tàng ngụ ngôn Aesop có hai câu chuyện. Một chuyện kể về cậu bé chăn cừu thích lấy nỗi sợ của cả làng ra làm trò đùa. Cậu nhiều lần hét to “Sói! Sói!” để lừa người lớn chạy hộc tốc lên đồi, rồi bỏ về, bực bội vì bị lừa. Đến một ngày nọ, sói thật xuất hiện, cậu kêu cứu đến khản cổ mà không còn ai buồn chạy lên đồi cứu giúp, khiến đàn cừu của cậu bị sói vồ sạch. Chuyện thứ hai kể về một con sói thật kiên nhẫn. Ngày này qua ngày khác, nó lảng vảng đến gần đàn cừu. Lúc đầu, người chăn cừu cảnh giác, luôn tay xua đuổi nó. Nhưng sói chỉ đứng xa, trông hiền hòa, không vồ con nào. Lâu dần, chàng chăn cừu quen thuộc với sự hiện diện của Sói, cho đến khi bóng dáng con vật trở nên một phần của phong cảnh xung quanh đàn cừu. Tới một hôm bận việc, anh cả tin đến mức gửi luôn đàn cừu cho sói “trông hộ”. Tối về, chuồng chỉ còn vài con sót lại.
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.