Hôm nay,  

Góc Trời Cổ Tích

24/09/201900:00:00(Xem: 3583)

Gánh xiếc sơn đông mãi võ đang làm rộn ràng cả một góc chợ Cây Da. Một anh lực sĩ nằm trên bàn chông, trên bụng đặt một tảng đá. Một lực sĩ khác dùng búa tạ đập bể tảng đá mà người  nằm dưới không hề hấn gì. Màn khác thì một anh lực sĩ dùng cây giáo dài ấn vào yết hầu một lực sĩ khác, cán giáo cong oằn mà yết hầu không bị thương tích… Nhiều tiếng thét lên, tiếng trầm trồ thán phục, tiếng  hò reo tán thưởng vang dội. Bà Hai tỏ vẻ ngờ:

 - Chắc bọn họ có bùa, nuôi ngải?

 Ông Mười Mắm thì nói:

 - Phép tắc gì đâu, chẳng qua họ luyện võ nên có công phu thôi!

 Anh bảy Chà thì lý sự có vẻ khoa học lắm:

 - Khi một lực tác động vào và tản đều trên bề mặt thì người ỡ dưới bề mặt ấy sẽ không bị thương!

 Còn nhiều ý kiến khác nữa nhưng bị chìm lỉm vào tiếng loa rao bán thuốc của đoàn:

  Cao đơn hườn tán

  Một bán ba cho

  Trị ho trị sảy

  Sản hậu vàng da

  Đàn ba kinh nguyệt

  Đàn ông xụi liệt

  Lậu hoặc di tinh

  Trẻ con cam tích

  Ghẻ lác đầy mình

  Gìa bịnh đau lưng

  Gối xương cốt nhức

  Buồn bực tâm can

  Uống vô một hoàn

  Tiêu tan bịnh tật

  Maị dzô…maị dzô..

 Người lớp trong lớp ngoài móc túi mua, mấy bà thì thích tể, mấy ông thì mua hoàn ngâm rượu đặng “ông uống bà khen”…

 Chợ có tự bao giờ không ai biết, chỉ biết nhóm họp vào các ngày mùng hai, mùng tư, mười ha, mười bốn…Dân các ấp Long, An, Thành, Thạnh, Mỹ, Tài… đều đổ về đây mua bán. Chợ còn là đầu mối bỏ nông sản, hoa quả… cho thành phố biển cách đó mươi cây số. Thành phố này vốn là một hải trấn tiền đồn quan trọng dưới thời Tây Sơn.  Nhà ngoại của gã gắn liền với ngôi chợ này, thuở ấy người ta còn thuần hậu lắm! dù mua bán nhưng  không có tranh giành, thủ đoạn; không có điêu toa gian dối… Thời ấy đời sống rất dễ chịu, công việc làm ăn dễ dàng. Khi Mỹ và đồng minh đổ vào thì việc mua bán laị càng thịnh hơn bao giờ hết. Ngôi nhà của ngoaị trở thành một quầy tạp hóa lớn nhất vùng bán đủ thứ hết nhưng chủ lực là: xi măng Hà Tiên, Bia con cọp Larue, Giấy quyến hiệu Thuyền Rồng, Trà Diệu Ký, sữa Guigo… Lính từ các trại quân đồng minh: Đaị Hàn, Phi Luật Tân…rất thích đến mua hay trao đổi đồ với tiệm của ngoại. Ngày tết thì khỏi phải nói, cả nhà như một xưởng bánh mứt. Con cháu, người làm… đều tốc lực làm bánh mứt, khó nhất vẫn là xăm gừng, xăm bí; những củ gừng gọt chuốt đẹp như bàn tay mỹ nhân rồi xăm cho mềm ra, rồi luộc và đem rim (dụng cụ xăm gừng là những khúc gỗ gòn, một đầu cắm đầy các cây kim may, nghề này xem ra giờ thất truyền); rồi còn đu đủ xanh cắt bông thược dược, cắt nơ…Mùi nước đường rim mứt bay thơm thoảng thoảng trong gió, ra tận ngoài chợ luôn! Bánh mứt ở tiệm của ngoại vừa đẹp vừa ngon nổi tiếng. Ngoài người mình ra, mấy anh lính đồng minh rất thích mua những cái bông thược dược rim từ đu đủ. Công việc mua bán thuận buồm xuôi gió, ngoại trở nên giàu có nổi tiếng khắp vùng.

  Năm ấy khoảng đầu thập niên bảy mươi. Dì cùng với học sinh các trường Cường Để, quốc Học, Trưng vương… cắm traị ở vận động trường. Ông tỉnh trưởng đến chúc mừng. Bọn người bên kia cử thích khách đến ném bom. Ông tỉnh trưởng đứng trên đài cao nên không hề hấn gì nhưng học sinh thì chết la liệt, lớp vì bom  lớp vì hoảng loạn dẫm đạp nhau. Dì cũng chết trong đám học sinh xấu số ấy. Người chết và bị thương nhiều đến nỗi nhà thương tỉnh không còn cả bông gòn và thuốc đỏ để sơ cứu. Đài truyền hình đưa tin, dân chúng kinh hoàng tiếc thương cho những người xấu số. ( không biết những kẻ thủ ác ra lệnh và thi hành ấy có bao giờ thấy hối hận chăng? chắc là không, vì hàng năm chúng vẫn tổ chức kỷ niệm chiến thắng, vẫn đeo huy chương đỏ khé trên ngực!)  Ngoại tưởng chừng như suy sụp nhưng rồi công việc làm ăn laị bận bịu, thời gian dần dần xoa dịu nỗi đau… Cho đến một ngày kia, khi mà quốc gia sụm bà chè! lần này thì suy sụp thật, suy sụp vĩnh viễn! lần naỳ không phải mỗi  ngoại sập tiệm mà tất cả đều sập tiệm! Mọi người khép nép hạ mình xuống, mai danh ẩn tích, bôi xóa vết tích thân phận, tẩu tán chôn giấu tài sản, che đậy ăn uống…Tất cả như cơn ác mộng giữa ban ngày!

 Những năm sau đó mặc dù đóng tiệm nhưng ngoại vẫn mua bán lẻ tẻ vụng vặt để mưu sinh, bấy giờ cả nước thành một cái chợ trời khổng lồ, cái gì cũng mua, cái gì cũng bán…Nhưng luôn dòm trước ngó sau. Lúc bấy giờ gã cũng còn là một chú bé con, rất tò mò, hay nghe lóm chuyện người lớn, thích mò vào trong kho hàng cũ của ngoại để lục lạo tìm kiếm ( nhưng chẳng biết tìm cái gì mới lạ chứ!). Gã thích thú nhìn những két bia con cọp Larue chất cao tới nóc ( không biết hồi ấy người nhà uống hay bán lẻ mà vẫn còn những cái két chứa vỏ chai như thế?), những hộp nhựa to dài cả thước dùng đựng giấy quyến ( loại giấy dùng để vấn thuốc lá, nghe người lớn kể laị, những năm sau tháng tư đen ấy, mỗi cây giấy quyến này đổi một cây vàng), những thùng giấy cạc tông (carton) dùng chứa trà Diệu Ký ( một thương hiệu nổi tiếng thời ấy)…Cái kho hàng của ngoại như một góc trời cổ tích của gã. Mỗi ngày đi học về, gã vẫn thường chui rúc vào trong kho hàng ấy như chú bé đi tìm thế giới thần tiên trong truyện cổ tích ngày xưa.

 

Tiểu Lục Thần Phong

Ất Lăng thành, 2/2019

Đã từ lâu, những gì Donald Trump nói, làm, hoặc tung ra trên Truth Social Media, đã không còn là một tuyên bố mang tính chuẩn mực cao nhất của quốc gia. Nó cũng không còn bao hàm những quyết định quan trọng mà người dân mong chờ sẽ mang đến một xã hội tốt đẹp hơn, an toàn hơn. Không phải những cận thần chung quanh Trump không nhận ra điều đó. Rõ nhất là “Thằng Ất” và “Thằng Giáp” – hai kẻ đã từng đưa ra lời chỉ trích mạnh mẽ thời chưa bước vào cửa quan. “Thằng Ất” JD Vance hồi năm 2016 đã nhắn tin cho một người bạn học cũ, gọi Trump là "Hitler của nước Mỹ.” Trong một bài viết đăng trên tờ The Atlantic vào năm 2016, Vance mô tả Trump như một thứ "’heroin’ văn hóa.”
Trong kho tàng ngụ ngôn Aesop có hai câu chuyện. Một chuyện kể về cậu bé chăn cừu thích lấy nỗi sợ của cả làng ra làm trò đùa. Cậu nhiều lần hét to “Sói! Sói!” để lừa người lớn chạy hộc tốc lên đồi, rồi bỏ về, bực bội vì bị lừa. Đến một ngày nọ, sói thật xuất hiện, cậu kêu cứu đến khản cổ mà không còn ai buồn chạy lên đồi cứu giúp, khiến đàn cừu của cậu bị sói vồ sạch. Chuyện thứ hai kể về một con sói thật kiên nhẫn. Ngày này qua ngày khác, nó lảng vảng đến gần đàn cừu. Lúc đầu, người chăn cừu cảnh giác, luôn tay xua đuổi nó. Nhưng sói chỉ đứng xa, trông hiền hòa, không vồ con nào. Lâu dần, chàng chăn cừu quen thuộc với sự hiện diện của Sói, cho đến khi bóng dáng con vật trở nên một phần của phong cảnh xung quanh đàn cừu. Tới một hôm bận việc, anh cả tin đến mức gửi luôn đàn cừu cho sói “trông hộ”. Tối về, chuồng chỉ còn vài con sót lại.
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.