Hôm nay,  

Chúng Ta Là Di Dân!

14/02/202500:00:00(Xem: 4124)
 
hình-1-trang-nhất-South-Vietnamese-patrol-boat-overcrowded-with-escaping-refugees
Một trong những con tàu Hải Quân VNCH tiến vào Vịnh Subic. Credit: Jan Herman
  
Giữa lúc chính quyền mới của Tổng thống Donald Trump ngày càng mạnh tay thực hiện chính sách trục xuất di dân không giấy tờ, thì trong làn sóng ủng hộ, tỏ rõ sự vui mừng ấy, có rất nhiều người Việt máu đỏ da vàng. Bất kể họ là ai, đến Mỹ thời điểm nào, hình như họ quên mất câu chuyện bắt đầu từ 50 năm trước, về những người Việt tị nạn đầu tiên đã đặt chân lên nước Mỹ, cũng mang trên mình căn cước “di dân bất hợp pháp.”  
 
50 năm trước
 
Thứ Hai, ngày 5/5/1975, hạm đội gồm hai hàng tàu VNCH từ từ cùng di chuyển về phía Vịnh Subic. Cho đến lúc đó, Lực Lượng Hải Quân Hoa Kỳ, Philippines, trụ sở chính tại Vinh Subic, và Washington vẫn chưa đưa ra chỉ thị rõ ràng trong việc đón những tàu VNCH và người tị nạn.
 
Bắt đầu xảy ra những vấn đề lo ngại về phân chia nhánh ngoại giao và pháp lý phức tạp liên quan đến các tàu và người tị nạn vào Vịnh Subic. Sài Gòn thất thủ, đồng nghĩa với thể chế VNCH và miền Nam Việt Nam không còn tồn tại. Kỹ Sư Trưởng Hugh Doyle của chiến hạm USS Kirk mô tả những con tàu của VNCH “như những con tàu vô tổ quốc.”
 
Bất chấp thực tế là căn cứ Hải Quân Vịnh Subic nằm dưới sự kiểm soát của Hoa Kỳ theo thỏa thuận, nhưng những người có thẩm quyền ở Subic không biết chính phủ Philippines sẽ phản ứng thế nào về việc các tàu hải quân VNCH đi vào lãnh hải của họ – hoặc điều gì sẽ xảy ra với những người di tản. Trong các cuộc đàm phán với những nhà ngoại giao Hoa Kỳ thời điểm đó, Ferdinand Marcos, Tổng Thống Philippines, tỏ ra do dự trong việc chấp nhận dòng người tị nạn miền Nam Việt Nam đã đến trước “cổng nhà” của nước ông ngày càng đông kể từ tháng 4/1975.
 
Mật thư mà Hạm Trưởng Paul Jacobs của chiến hạm USS Kirk và Hạm Phó Dick McKenna nhận được trong đêm đến Vịnh Subic ám chỉ một cuộc khủng hoảng ngoại giao nghiêm trọng đã xảy ra, một tình thế tiến thoái lưỡng nan đe dọa toàn bộ kế hoạch di tản, và quyền lợi của người tị nạn. Tổng Thống Ferdinand Marcos báo tin cho đại sứ Hoa Kỳ tại Philippines, ông William Sullivan rằng kể từ khi chính thể VNCH không còn tồn tại, những tàu và người tị nạn của họ sẽ không được phép vào Vịnh Subic hoặc bất kỳ cảng nào khác ở Phillipines.
 
Ngay cả trước khi tiểu hạm đội VNCH xuất phát từ Đảo Côn Sơn, Tổng thống Philippines đã nói với đại sứ Sullivan rằng ông sẽ không nhận hơn 2,500 người tị nạn Việt Nam vào quốc gia của mình.
 
Rất may mắn, chiến thuật trì hoãn 24 giờ đã cho ông đại sứ Sullivan thêm thời gian để áp dụng kỹ năng ngoại giao của ông. Ông nhìn thấy một giải pháp khả thi – đó là điều khoản của Chương trình Hỗ trợ Quân sự (Military Assistance Programe - MAP) đề cập trước hết là cung cấp tàu cho hải quân Việt Nam. Nếu quốc gia tiếp nhận (miền Nam Việt Nam) không còn sử dụng – trong trường hợp này là những tàu của Hoa Kỳ – có thể trao trả lại cho chủ sở hữu là Hoa Kỳ.
 
Tàu Hải Quân VNCH sẽ trao trả cho Hoa Kỳ, và quốc kỳ VNCH sẽ được thay bằng quốc kỳ của Mỹ. Những con tàu tháo bỏ vũ khí, tiến vào Vịnh Subic với nhân danh là tàu Hải Quân Hoa Kỳ. Những người tị nạn có thể ở lại Philippines chỉ vài ngày cho đến khi Hoa Kỳ sắp xếp để chuyển họ đến nơi nào khác.
 
Đây chính là nguyên nhân dẫn đến buổi lễ hạ quốc kỳ VNCH không bao giờ quên trong ký ức những người vượt biển trên các hạm đội năm đó. Chỉ như thế, đoàn người tị nạn miền Nam Việt Nam mới có thể vào Vịnh Subic an toàn. Dù cho đến lúc đó, họ vẫn là những người vô tổ quốc, những di dân bất hợp pháp.
 
Chúng ta là di dân!
 
“Hồi xưa, tàu của tui cập bến đảo của Indonesia, tui cũng là di dân lậu. Hàng chục ngàn người Việt được Hải quân Hoa Kỳ đưa vào Mỹ, trước khi được bảo trợ để định cư bên ngoài, họ cũng là những di dân lậu, bất hợp pháp .... Dù có được đưa vào bởi Hải quân Hoa Kỳ thi vẫn không thay đổi được sự thật di trú ‘bất hợp pháp’ ấy ... nhắc lại vẫn còn thấy đắng ở cổ.”
 
Một người vượt biển vào cuối những năm 80s đã nói như thế, khi nhận định về làn sóng cổ võ, ca tụng các cuộc bố ráp bắt di dân không giấy tờ trong thời của Tổng thống Trump.
 
Nhưng ngược lại, trên một trang truyền thông Việt ngữ, có ý kiến như sau:
 
“Phải vậy thôi. Nước Mỹ không phải thùng rác. Đã nhập cư lậu không giấy tờ. Chẳng khác gì bạn đang có người vô danh có thể gây nguy hiểm cho bạn và người thân, hơn nữa là an ninh quốc gia. Không đánh đồng hết người nhập cư lậu là xấu. Nhưng nếu họ ra đi có trật tự. Thì standing the line anywhere not impossible do it.” Đây chỉ là một trong rất nhiều ý kiến tương tự.
 
Có lẽ vị độc giả này không biết, hoặc đã quên, hoặc né tránh không muốn “đánh đồng” một trong những cuộc di tản hỗn loạn nhất trong lịch sử thế giới sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc với những “di dân trèo tường” ngày nay. Có lẽ, trong tâm thức của những người ủng hộ chính sách bạch hóa nước Mỹ của Trump, trèo tường biên giới, vượt sông Rio Grande trên những chiếc thuyền phao mỏng manh, thì đó là những di dân sẽ gây nguy hiểm cho người thân của họ và an ninh quốc gia?
 
Có công bằng không khi chúng ta so sánh những cuộc chạy trốn của người Mexico, các quốc gia Trung Mỹ, India, Venezuela, và nhiều quốc gia khác trên thế giới, với cuộc di tản của dân tộc mình? Thời điểm có thể khác nhau, nhưng bản chất cuộc ra đi là một. Chúng ta cùng ra đi để mưu cầu sự sống.
 
Giá trị của nước Mỹ từ thưở khai thiên lập quốc chính từ giá trị gốc rễ của di dân. Trong một bức thư Tổng Thống George Washington viết năm 1783 gửi cho học giả, nhà văn và giáo sĩ François Van der Kemp: “Nước Mỹ dang rộng vòng tay để tiếp nhận không chỉ những người khách lạ sang trọng và đáng kính mà còn cả những người bị áp bức, ức hiếp từ tất cả các quốc gia và tôn giáo khác; những người mà chúng ta sẽ chào đón họ, cho họ được hưởng tất cả các quyền và đặc ân của chúng ta.”

hình-2-RioGrande
Chiếc thuyền phao chở di dân Mexico vượt sông Rio Grande, Texas, qua biên giới vào Mỹ. Credit: Kalynh Ngô
 
Nước Mỹ tự hào là quốc gia hùng mạnh trên thế giới mấy trăm năm qua chính vì American Dream – Giấc Mơ Mỹ – điểm đến an toàn cho những người trốn chạy tìm tự do hoặc bị đe dọa mạng sống. Người Việt tị nạn sau chiến tranh, và nhiều dân tộc Đông Nam Á khác nằm trong số đó.
 
Nếu 50 năm trước không có chương trình MAP, một chương trình có chức năng tương tự như USAID nhưng đặc trách về lĩnh vực quân sự thì hơn 2,000 thuyền nhân đó sẽ bị trả về cho chế độ vừa mới tiếp quản Miền Nam.
 
Nếu 50 năm trước, nếu Tổng Thống Jimmy Carter không đánh đổi sự nghiệp chính trị và làn sóng phản đối để ký ký ban hành Đạo Luật Tị Nạn (Refugee Act of 1980) ngày 17/5/1980, cho phép gia tăng gần gấp ba lần số thuyền nhân vào Mỹ, từ 17,500/năm lên 50,000/năm, thì số phận hàng trăm ngàn thuyền nhân Việt sẽ ra sao? Thời ấy, dù có đến 57% người phản đối việc chính phủ nới lỏng chính sách nhập cư cho những người tị nạn từ Đông Nam Á, nhưng đó là người Mỹ trắng.
 
Tổng Thống Carter đã nói với cử tri trong một buổi vận động tại vùng nông thôn tiểu bang Iowa vào ngày 23/8/1979: “Tôi muốn nhắc nhở quý đồng bào rằng Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ là một xứ sở di dân. Chúng ta là một đất nước di dân. Vì vậy, tôi hy vọng tất cả người Mỹ sẽ nhận ra rằng chính gia đình của quý vị đã đến đất nước này nhiều năm trước để mưu cầu cuộc sống, đây cũng chính xác là điều mà những người tị nạn Việt Nam đang tìm kiếm hiện nay.”
 
Những người Việt tị nạn ấy khi đặt chân vào Mỹ, không nghiễm nhiên họ trở thành “người Mỹ.” Nước Mỹ cũng không tự nhiên đón hàng trăm ngàn thuyền nhân Việt vượt biển sống lây lất tại các trại tị nạn ở vùng Đông Nam Á vào thời điểm cuối thập niên 1970. Tất cả là những luật lệ, dự luật, rồi đạo luật, theo từng thời điểm.
 
Sau mấy mươi năm, rất nhiều những người tị nạn ấy, và cả những người nhập cư sau này, đang ủng hộ chính sách bài trừ di dân của tổng thống đương nhiệm, quên mất rằng, dân tộc của họ, những người đi trước, cũng từng khoác lên mình chiếc áo “Unauthorized immigrants” – nhập cư trái phép, trong một thời gian chờ Quốc Hội Mỹ thông qua các đạo luật cụ thể.
 
Lời hứa thiết lập lại hoàn toàn vấn đề nhập cư của nước Mỹ là chiếc vé đắt giá mà Donald Trump đã lấy được từ cử tri để quay trở lại Tòa Bạch Ốc. Trump và chính quyền của ông ấy đang chạy hết tốc lực, dù là đạp lên Hiến Pháp để “bạch hóa” nước Mỹ. Chính sách trục xuất của Trump bao gồm cả “Unauthorized immigrants” – những người nhập cư trái phép đang nhận quy chế bảo vệ tạm thời hợp lệ như Temporary Protected Status (TPS), ân xá nhân đạo hoặc trì hoãn (bao gồm cả DACA) vốn thường không bị trục xuất. Những tình trạng này được cấp trên cơ sở tạm thời hoặc tùy ý, nên chúng có khả năng bị thu hồi, do đó khiến cá nhân có thể bị trục xuất. Đặc biệt, dưới chính quyền của Donald Trump.
 
Niềm tin của Tổng Thống Washington về một quốc gia đa dạng nhưng gắn kết, nơi những người nhập cư có thể tự do phát triển và đóng góp vào lợi ích chung cho nước Mỹ đã chứng minh bằng con số cụ thể ở trăm năm sau. Tờ Bloomberg ghi nhận những người nhập cư chưa có giấy tờ (undocumeted immirgrants) đã đóng cho sở thuế vụ Hoa Kỳ gần $100 tỷ. Cụ thể hơn trên web của Viện Chính Sách Thuế Và Kinh Tế ghi nhận những người nhập cư không có giấy tờ đã nộp $96,7 tỷ đô la tiền thuế liên bang, tiểu bang và địa phương vào năm 2022. Phần lớn số tiền đó, $59,4 tỷ, trả cho chính quyền liên bang trong khi số tiền còn lại là $37,3 tỷ trả cho chính quyền tiểu bang và địa phương.
 
Hãy khoan vội thắc mắc vì sao người nhập cư không giấy tờ mà có thể đóng thuế. Tất cả đều là những kiến thức không khó tìm. Thay vào đó, chúng ta hãy cùng nhìn lại, chúng ta là ai?
 
Hàng triệu người Việt 50 năm trước đã cầu khấn mười phương tám hướng, chấp nhận chín phần chết một phần sống để ra đi. Đó là thời gian hoảng loạn của một dân tộc, và cả thế giới. Một nữ thuyền nhân năm xưa kể lại câu chuyện cả đời bà không thể quên, đó là khi bà chăm sóc cho cô gái duy nhất sống sót trên con thuyền trôi dạt vào đảo. Cô gái đó tỉnh dậy trong đôi mắt vô hồn, đôi mắt của một người điên, đôi mắt của người đã mất tất cả.
 
Chúng ta là dân tộc đã ra đi tìm giá trị dân chủ, sự công bằng, những điều không thể tìm được trên quê hương mình. Chúng ta chính là di dân!
 
Kalynh Ngô
  

Người ta hay ca ngợi tình yêu tuổi già như thể đó là đích đến viên mãn của mọi cuộc tình - hai người nắm tay nhau nhìn hoàng hôn, bình yên như trong tranh. Nhưng thực tế thì không phải cặp nào cũng may mắn như vậy. Có những cặp già đi cùng nhau không phải trong hạnh phúc mà trong đau khổ. Họ không chia tay vì già rồi, ly hôn tốn kém và xấu hổ. Họ không yêu nhau nhưng cũng không rời nhau. Họ sống chung một mái nhà như hai kẻ thù bị giam trong cùng một căn phòng, chờ xem ai chết trước để người còn lại được giải thoát. Đó là thứ bi kịch mà không ai muốn nhắc đến, nhưng nó tồn tại, âm thầm và đau đớn, trong biết bao gia đình.
Trong cái lạnh cắt da cắt thịt của cơn bão tuyết mùa Đông ở Minnesota, hai mạng người đã bị tước đoạt chóng vánh dưới tay các đặc vụ biên phòng (CBP) và Cảnh Sát Di Trú (ICE), những cơ quan thuộc Bộ Nội An (DHS.) Một lần nữa, chúng ta lại vật lộn với những câu hỏi cũ rích: Từ khi nào mà huy hiệu cảnh sát lại trở thành giấy phép để hành quyết và đồng thời là “kim bài miễn tử”?
Thảo Trường kể chuyện rất tỉnh. Ông không cần tố cáo, không cần gào thét. Chỉ tả: ban ngày, những đứa lớn chơi trò “cai tù” — đứa bắt, đứa bị bắt; quát tháo, tra hỏi, úp mặt vào tường. Tất cả đều học từ người lớn quanh mình. Những đứa còn nhỏ, chưa biết đi, ngồi nhìn. Có bà mẹ mang thai bị đánh đến sẩy thai, sinh con trong tù. Sinh xong, gửi con vào nhà trẻ để quay lại “lao động tốt”. Sáng, bọn nhỏ chạy theo cô giáo sang nhà trẻ để có ăn. Tối, chạy về khu B để kịp chỗ ngủ cạnh mẹ.
Thuế quan được áp dụng, rồi lại thu hồi; biện pháp quân sự được nêu ra như một chọn lựa, rồi bất chợt bị gạt sang một bên. Trong những tháng gần đây, kiểu hành vi thất thường, khó lường như vậy bỗng được nói tới nhiều trong các vòng bàn luận về đối ngoại, nhất là quanh Bạch Ốc, như thể đó là một thứ lợi khí chiến lược hơn là một nhược điểm của chính sách. Thật ra, chuyện ấy không mới. Những lời đe dọa ầm ỹ, những cú xoay trục bất ngờ trong chính sách, cùng lối phát biểu cố ý mập mờ từ lâu đã được dùng để làm đối phương mất thăng bằng, nhằm tìm thế thượng phong trên bàn cờ quốc tế. Trong ngôn ngữ quan hệ quốc tế, lối đó có tên hẳn hoi: “thuyết kẻ điên”.
Hôm qua, tại một tiệm làm tóc ở Chicago, một người đàn bà, còn mặc áo choàng giữa hai khách, dựng chiếc iPhone trước gương, quay một đoạn nói chuyện về ICE. Ba mươi giây. Đăng lên. Rồi nàng trở lại với công việc. Một giờ sau: không một người xem. Nàng xoá. Quay lại. Lần này dùng biểu tượng 🧊 thay cho chữ ICE, e rằng thuật toán để ý những từ “nhạy cảm”. Đăng lên. Đêm xuống, màn hình vẫn sáng trên tay. Vẫn là con số không. Sáng hôm sau, nàng quay ly cà phê latte. Đến trưa, đã ba nghìn lượt xem.
Sau 26 năm đàm phán, Liên minh châu Âu (EU) đã đạt được thỏa thuận ký kết Hiệp định Thương mại với khối MERCOSUR bao gồm Argentina, Brazil, Uruguay và Paraguay và sẽ hứa hẹn tạo ra những tác động sâu rộng về kinh tế, nông nghiệp, môi trường và địa chính trị cho cả hai bên...
Trong một đêm mùa Đông, an toàn trong căn phòng ấm, câu chuyện giữa những người sống đời di dân nhiều thập niên, dù cố gắng né tránh, rồi cũng trở về thực trạng nước Mỹ. Hành động của chính quyền liên bang buộc người Mỹ – đặc biệt là những ai đã từng nếm trải mùi vị của cuộc trốn chạy – phải tự hỏi mình: Chúng ta là ai khi bàn tay quyền lực siết chặt? Có phải chúng ta đang nhìn lịch sử độc tài tái diễn, trên một đất nước xa quê hương nửa vòng trái đất?
Sáng nay, mở trang mạng Việt Báo ra, tôi đi thẳng xuống những đề mục “comment” dưới các bài thời cuộc – cái phần mà lẽ ra chỉ để “tham khảo ý kiến độc giả”, vậy mà đọc vào thành cả một bữa no nê. Người ta không nói chuyện với nhau nữa, người ta ném vào nhau từng tràng chữ thô lỗ, cay nghiệt. Mỗi phe đều tin mình đang bảo vệ “sự thật”, nhưng nhìn kỹ thì cái sứt mẻ trước tiên chính là… văn hóa chữ nghĩa, rồi tới tự trọng.
Trong nhiều năm qua, diện mạo chính trị Trung Hoa dần khép lại dưới chiếc bóng ngày càng đậm của Tập Cận Bình. Chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” được mở rộng không ngừng, và đến năm 2025, cơ quan kiểm tra kỷ luật trung ương cho biết đã xử lý gần một triệu đảng viên, phản ánh một bộ máy thanh trừng vừa mang danh chống tham nhũng vừa củng cố uy quyền của người cầm đầu.
Trên đỉnh Davos năm nay, giữa tuyết trắng, cà phê nóng và những lời kêu gọi “đa phương, bền vững, trách nhiệm” - xuất hiện giữa quần hùng là một giọng nói “ngoại môn” chẳng xa lạ gì với chính trường: Donald Trump. Ông lên núi Thụy Sĩ không phải để trồng cây, bàn cứu khí hậu, hay nói chuyện hòa giải, mà để nói với thế giới một câu thẳng thừng: Greenland là “CỦA TÔI”. Bài diễn văn của tổng thống Hoa Kỳ mở đầu bằng một màn “điểm danh công trạng” đúng kiểu độc thoại: chỉ trong một năm trở lại Nhà Trắng, ông tuyên bố đã tạo nên “cuộc chuyển mình kinh tế nhanh và ngoạn mục nhất trong lịch sử nước Mỹ”, đánh bại lạm phát, bịt kín biên giới và chuẩn bị cho đà tăng trưởng “vượt mọi kỷ lục cũ” của nước Mỹ, hay “của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới”.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.