Hôm nay,  

Văn Hóa ‘Kệ’

08/08/202500:00:00(Xem: 9572)

van hoa ke
Hình minh họa: ảnh gốc từ istockphoto.
 
Tôi có một người bạn viết lách văn nghệ. Chị cho rằng mình có chút tài nghệ, đủ để khi cần móc túi lấy ra xài. Chị không viết đều. Chỉ viết khi thích – đôi khi chị viết gửi vài tạp chí mạng, có khi chỉ viết để đó, không gửi ai. Chị sống trên căn gác nhỏ, gọi đó là "giang sơn sáng tác" của riêng mình.

Mỗi ngày chị dậy lúc gần trưa, pha ly cà phê nguội, rồi mở máy tính. Có bài chị viết ngay sau ngụm cà-phê đầu tiên – vài chục phút là xong – gửi đi ngay rồi gập máy, đi ngủ tiếp. Có bài để ba năm hôm, không sửa gì cả, gửi đi như vậy. Tôi hỏi: “Sao không đọc lại?” Chị nhún vai:

– Lúc viết là thật nhất. Sửa nhiều, mất hồn.

Tôi hỏi tiếp: Không sợ thiếu sót? Chị cười, chỉ tay lên bức thư pháp dán lệch trên tường:

“Tri túc giả phú” (Biết đủ là đủ).

Chị tin vào điều đó – nhẹ nhàng, không cố thuyết phục ai, cũng không cần người khác đồng tình. Chị viết cũng như làm việc - sao cho đủ sống, đủ tiêu. Không màng giàu sang, không mưu cầu in sách. Ai biết đến thì mừng. Ai khen thì thích. Bài được đăng thì vui. Không đăng cũng chẳng sao. – “Mình không viết hơn ai. Viết chỉ để viết. Mà nếu không ai đọc, thì thôi”, chị nói.

Lối viết của chị – và cả cách sống nữa – nhẹ nhàng, thong thả, vừa đủ để không tệ, không đủ để gọi là hay. Chị tự hào cho rằng đó là lối sống tự tại. Mọi chuyện chỉ cần không thừa, không thiếu, không gấp. Chẳng việc gì phải tới nơi tới chốn cho mệt thân. Như thể sống chỉ cần nổi trên mặt nước – không chìm là may, còn trôi về đâu thì… kệ.

Đôi khi tôi tự hỏi lối sống đó sẽ đưa chị đi đâu, có làm chị an vui. Mỗi lần đọc bài chị viết, tôi thấy – như một dòng nước không rõ nguồn – chảy nhẹ qua trang giấy, rồi trôi tuột. Mỗi khi nhớ đến chị, tôi nhớ đến cái “kệ” – không phải cái kệ sách còn rất nhiều cuốn chị “không có thì giờ” đọc, mà là cái ‘kệ” chị khiêng đặt vào mọi khía cạnh ngõ ngách trong đời: “Kệ bà nó. Chết thằng tây nào đâu chứ”, chị luôn vui vẻ nói thế.

Làm lưng chừng, sống lừng khừng

Không ít người gọi đó là ‘bí quyết’ sống. Làm cho xong việc. Nói cho có chuyện. Học cho có bằng cấp. Tài nghệ “trời cho” sẽ giúp họ che lấp những khiếm khuyết. Mà dĩ nhiên, chị bạn tôi ít khi thấy mình thiếu sót. Bài viết có người đọc, rồi lại có người ‘like’, đủ để ‘tự sướng’, “đòi hỏi gì nữa,” chị dài giọng.

Lối làm vừa đủ, lối sống lưng chừng dần trở thành một thứ triết lý ngầm: ai làm hơn thì bị cho là bon chen, ai làm kỹ thì bị bảo là cầu toàn thái quá, ai tươm tất, gọn gàng là sống hình thức “bề ngoài”, ai cầu tiến là sân si, ai đặt chuẩn mực tự động bị xếp vào hạng người “quá cao” khó hòa hợp.

Trong chiếc áo khoác mang tên “tự tại”, cái không-tới-nơi bỗng trở thành một lựa chọn sống ‘sâu sắc’.

Nhiều người biện minh: xã hội này vốn không công bằng, làm nhiều chưa chắc được gì, cố gắng dễ thành uổng phí. Làm đại khái lại là sống khôn ngoan. Có thể họ đã từng mơ, từng dốc lòng, từng lao vào đời với tin yêu rồi bị dập tắt, bị coi thường, bị làm ngơ. Cũng có thể họ chỉ không đủ sức vượt qua, nên họ thu mình lại – không hẳn vì lười, mà vì sợ bị tổn thương thêm một lần nữa. Cái kệ trở thành cái vỏ – che đậy một niềm tin đã từng rạn vỡ.

Cũng có người biện minh kiểu hay-dở, xấu-đẹp, cao-thấp tùy cách nhìn của mỗi người. Miễn là sống đúng với “chính mình”. Miễn là hạnh phúc, là bình yên trong lòng. Làm theo khả năng, sống theo bản năng – là đủ. Tự mãn với cái gọi là “chân thật với bản thân” nên không thấy nhu cầu cần vươn lên. “Trèo cao té đau”, họ thường nói.  Nhưng cái “mình là chính mình” mà họ vịn vào – đôi khi chỉ là cái cớ để xoa dịu lòng tự ái, một thứ tự tôn khoác áo tự ti. Như người cộng sản khi vào Sài Gòn sau 1975 – bất cứ thứ gì họ không có hay không “với tới”, họ nhanh chóng liệt chúng vào sản phẩm đồi trụy của Mỹ ngụy, cấm không đụng tới.

Tự nhủ những điều trên mức mặc định là không cần thiết hay không “màng tới”, người ta yên tâm mặc kệ, để lối sống dễ dãi trở thành thói quen. Điều đáng lo không chỉ là mất đi đam mê, hoài bão, mà là mất luôn cảm giác cần đi tới nơi tới chốn, cần làm công việc đủ trách nhiệm. Không dừng lại sửa một câu. Không cần rà soát lỗi. Không cảm nhận cảm xúc. Để hấp tấp trở thành nhịp sống, lâu dần, cái "làm cho xong" trở thành bình thường. Và người ta ngộ nhận sự lè phè, thờ ơ, làm biếng là biết sống, biết an vui.

Chị bạn tôi có lần than thở thế giới bây giờ nhanh quá, làm gì cũng thiếu “chất lặng”. Chị rủ tôi đi khóa thiền ba ngày. Tôi từ chối vì đúng ngày làm báo. Chị phẩy tay: – “Có gì mà ‘hệ trọng’ dữ. Để chị giúp em hôm nay, ngoáy cái xong liền”. Chị muốn tôi đi cùng, để thỉnh thoảng nếu “chán” hai chị em còn có thể lẻn ra xe ngồi... tán dóc. Một điều chị không thể hiểu, vấn đề không nằm ở thế giới, mà là ở chính bản thân, kể cả khi chị muốn lặn sâu hơn, thói quen sống trên bề mặt vẫn khiến chị lềnh bềnh.

Vượt Lên Chính Mình

“Chúng ta là kết quả của những gì mình lặp đi lặp lại. Sự xuất sắc, vì thế, không phải là hành động nhất thời, mà là sự tập luyện.”
– Aristotle.

Có người vẽ mãi vẽ hoài không xong một bức tranh. Mỗi ngày lại sửa, mỗi tuần lại thay màu sắc, đổi ánh sáng. Ba năm trôi qua, người ta tưởng ông đã bỏ ngang. Nhưng rồi bức tranh hoàn thành – là tác phẩm để đời The Last Supper của Leonardo da Vinci.

Có người viết mãi một bản nhạc, mỗi lần mỗi bôi xóa, mỗi sửa, bẻ gãy giai điệu cũ. Giai điệu trong đầu luôn chạy đè lên giai điệu đã viết xuống. Ông viết, xóa, viết, xóa, viết lại. Không phải từ cảm hứng, mà từ sự vật lộn với trí óc. Bản giao hưởng số 5 của Beethoven ra đời – một trong những tác phẩm vĩ đại nhất lịch sử – là kết quả của sự không ngừng thử, không ngừng sai, không ngừng bắt đầu lại.
Trong lần làm việc thâu đĩa nhạc “Gội Đầu-Bay” của Trần Dạ Từ, tôi có dịp làm việc với một vài ca sĩ, từ những giọng hát mới đến những ca sĩ thượng thặng trong dòng âm nhạc Việt. Khi tất cả mọi người khác đã hài lòng với những bài hát đã thâu của mình, Khánh Ly vẫn tiếp tục ra vào phòng thâu, hát lại, làm lại, hát lại, làm lại nữa. Cuối cùng khi bài hát đã được thâu ‘hoàn chỉnh’, Cô lại nói: ‘Các anh chị xin tiếp tục nghe lại, còn gì cần sửa thì sẽ sửa, phải sửa.’ Tôi vẫn nghe nhiều người nói Khánh Ly có giọng hát trời phú, riêng tôi hiểu để đạt đến vị trí của mình, Cô không dựa vào tài năng trời phú, mà vào sự nghiêm chỉnh, siêng năng, lương tâm nghề nghiệp, tôn trọng thính giả, và lòng tự trọng - luôn đặt cho chính mình tiêu chuẩn cao nhất, hoàn mỹ nhất.

Trong tòa soạn Việt Báo có một người luôn được mọi người gọi đùa là "Ông Từ giữ chùa" – không phải vì ngày nào Ông cũng đến sớm, về trễ, hiện diện bất kể giờ nào; cũng không vì Ông kiên trì, tỉ mỉ, không bỏ qua một chi tiết nào dù nhỏ nhất, mà vì Ông không bao giờ ngưng sửa "sản phẩm cuối cùng". Báo lên khuôn rồi, Ông vẫn còn tiếp tục chỉnh sửa. Có khi đứng chờ báo in ra ở nhà in, đọc lại thấy còn có thể sửa một câu, ông nằng nặc đòi bỏ tiền túi ra in lại. Hỏi vì sao phải "khổ" thế – đâu ai thấy khác biệt? Ông trả lời: "Tôi thấy." Ai làm việc với ông đều nhớ mãi bài học về sự nghiêm cẩn trong từng việc nhỏ, nhất là đối với bản thân, vượt lên chính mình, luôn làm hết sức có thể. Mọi người tuy càm ràm, nhưng ai nấy đều hiểu nhờ những nguyên tắc không kệ, không thỏa hiệp, tờ Việt Báo luôn ở cấp bậc chuyên nghiệp, và cái nghề này vẫn còn giữ được một chuẩn mực đúng phẩm giá.

Tự mãn khoác áo tự tại

Khi dễ dãi với chính mình, người ta dần dễ dãi với mọi thứ xung quanh.

Một người nói năng lủng củng vẫn được khen là “dễ thương”. Một bài nói chuyện không chuẩn bị trước, thiếu đầu đuôi, vẫn được cho là “có tâm”. Một tổng thống phát ngôn sai ngữ pháp, lời lẽ ngây ngô thô thiển, vừa thiếu chữ vừa tự cao tự đại – vẫn được tung hô là “nói thật”. Từ việc cho qua những lỗi căn bản, người ta dần bỏ qua luôn cả điều quan trọng hơn: sự trung thực, sự tử tế, sự sâu sắc. Và khi dễ dãi đã thành thói quen, không còn ai nhận ra đó là dễ dãi nữa.

“Tuân tử khuyến học” – không có công mài sắc, sao có ngày nên kim? Không đủ trí tuệ căn bản để tự soi xét, người ta dễ lầm giữa sơ sài và giản dị, giữa tùy tiện và tự nhiên. Và khi cái dở không còn bị nhận ra là dở, nó trở thành thước đo mới – rồi lan rộng, rồi bám chặt như một nếp sống.

Dân gian gọi đó là “ếch ngồi đáy giếng” – thấy trời chỉ nhỏ bằng miệng giếng, và tưởng rằng thế giới bao trọn trong đó. Miệng giếng càng hẹp, sự tự mãn càng lớn.

Trong xã hội hiện nay, lắm người viện dẫn triết lý “biết đủ” để sống an nhiên. Nhưng nếu không biết rõ “đủ” là gì, không phân biệt được đâu là giới hạn, đâu là khả năng, đâu là cái cớ để dừng lại – thì cái gọi là “biết đủ” ấy thật ra chỉ là một kiểu tự mãn ngọt ngào. Khi đó, sự tự tại không còn là thanh thản – mà là tự xoa dịu; không phải là bình an – mà là né tránh.

Và “sống vừa đủ” trở thành cái bẫy trói buột khả năng con người.

Bề Mặt và Chiều Sâu

Sống trong thời đại thông tin, con người ngày càng sống trên bề mặt.

Đọc tin thì chỉ đọc tựa, quá lắm là đọc bản AI tóm tắt. Du lịch thì nhét vào thật nhiều danh lam thắng cảnh chỉ đủ giờ để chụp hình. Học thì lướt video, ghi chú vội vài dòng. Làm việc chỉ vừa đủ để khỏi bị xếp nhắc. Mọi thứ đều chỉ “đủ dùng”, “đủ biết”, “đủ quen”, “đủ vui”. Cái “đủ” ấy – là cái đủ qua loa – đủ để tạo thành những phiên bản đại khái của cuộc đời.

Và người ta sống giữa trăm nghìn thứ biết, chuyện gì cũng biết, nhưng hiếm khi biết rõ điều gì. Thay vì nhận ra rằng mình chỉ đang nỗi trên bề mặt biển thông tin – người ta viện cớ không đủ thời gian, hoặc không còn thói quen – để dừng lại và tìm hiểu. Phản ứng nhanh dần thay thế cho suy nghĩ kỹ. Một bài viết hay chỉ cần đánh giá qua số lượt ‘like’, một câu chuyện thật bị bỏ qua vì không đủ tít giật gân. Những điều phức tạp bị lướt qua, còn cái dễ hiểu – dù vô nghĩa – lại lan truyền nhanh chóng. Cái cạn thắng cái sâu. Cái rỗng át cái đầy.

Cái “kệ” giờ đây không chỉ nằm trong căn gác nhỏ của một người viết, mà len vào khắp nơi: từ phòng họp hành chính đến giảng đường đại học, từ phòng treo tranh đến chương trình nhạc hội, từ bản tin truyền hình cho đến lời ăn tiếng nói thường ngày. Và mỗi khi một người quyết định “kệ”, thế giới xung quanh lại mất đi một phần độ sâu.

Điều nguy hiểm là khi sống quá lâu trên bề mặt, con người không chỉ đánh mất khả năng chịu đựng chiều sâu, mà còn quên mất rằng mình từng có nó. Không phải vì không còn cảm xúc, mà vì thiếu kiên nhẫn để lắng lại. Chiều sâu đòi hỏi thời gian, nỗ lực, và cả sự can đảm để đối diện với chính mình. Trong khi bề mặt thì dễ hơn – nhanh, tiện, và không đau.

Kệ hay không kệ

Không ai bắt buộc chúng ta phải theo đuổi sự xuất sắc. Nhưng mỗi lần buông tay quá sớm, mỗi lần gật đầu với cái-không-tới mà không còn cảm thấy áy náy lương tâm, mỗi khi hài lòng với cái “tạm đủ” để phô trương chút tài mọn, là mỗi lần chúng ta dọn đường cho cái "kệ" trở thành mặc định.

Có lẽ chị bạn tôi – người viết trên căn gác – cũng chẳng muốn trở thành nhà văn nhà báo gì. Không phải vì chị không có tài, mà vì chị đã quen với sự “tự tại” – như một vỏ bọc cho những giới hạn chị không muốn vượt qua. Cho đến khi nào chị viết không vì thói quen cầm bút, mà vì một điều buộc mình phải đào sâu, phải gắng sức, phải thành thật đến tận cùng – thì lúc đó, ý tưởng mới chắp cánh đưa chị vượt khỏi cái ngưỡng giới hạn tự mãn với ‘chính mình’.

Stephen King viết: “Complacency—that’s what kills you.” Không phải thất bại, không phải bị từ chối, mà chính sự tự bằng lòng với cái-chưa-tới của bản thân – mới âm thầm giết chết tri thức con người.

Nina HB Lê

Có một sự khác biệt rất lớn giữa thế hệ Gen Z và một thế hệ người Mỹ đã quá chán nản với những con đường mòn rập khuôn, nỗi sợ hãi không dám “lệch đảng.” Ở Gen Z, họ có một nguồn năng lượng mà những chiếc ghế lâu năm ở Quốc Hội không thể có. Kết quả của bầu cử sơ bộ 2026 ở tiểu bang Colorado đã cho thấy khá rõ nét điều này. Một thế hệ Gen Z cho rằng "hệ thống đã đổ vỡ và chúng tôi nhận ra sẽ không có ai đến cứu chúng tôi ngoài chính chúng tôi.”Họ, là những người sinh trưởng trong gia đình di dân.
Mấy tuần đầu World Cup trên đất Mỹ là một chuyện lạ: giải đấu diễn ra đã vài tuần mà tên Donald Trump ít được nhắc đến. Người ta coi bóng, bàn luật, uống bia và cãi nhau, khán giả quốc tế thấy nước Mỹ tổ chức một kỳ bóng đá vui vẻ, tử tế. Ông tổng thống thì bận mừng 250 năm nước Mỹ, chưa để mắt vào sân bóng. Nhưng đâu dễ “too good to be true” như thế. Thẻ đỏ của Folarin Balogun xảy ra vài ngày trước, trong trận gặp Bosnia: anh tranh bóng với hậu vệ Tarik Muharemović. Xem nhanh, pha bóng chẳng có gì đặc biệt. Vào phòng VAR, quay chậm cho thấy mũi giày cà xuống sau ống chân, cổ chân xoắn lại. Trọng tài rút thẻ đỏ. Theo luật, thẻ đỏ ở World Cup thì trận sau nghỉ. Không kháng cáo, không ngoại lệ. Lẽ ra chuyện kết thúc ở đó.
Tổng thống Donald Trump đến Ankara với đe dọa hơn là củng cố quan hệ với NATO. Ông văng ra những điều khó nghe, sẽ rút quân Mỹ khỏi châu Âu nếu không chiếm được Greenland, vô cùng bất mãn vì các nước Âu châu không tham gia chiến tranh Iran, và tuyên bố cắt hết mậu dịch với Tây Ban Nha. Nhưng trước khi ra về, ông lại nói đến “tình bằng hữu to lớn” giữa các đồng minh.
Dĩ nhiên, mỗi người Mỹ hôm nay sẽ có cách riêng để hiểu và thể hiện lòng yêu nước của mình. Lễ Độc Lập năm nay còn đánh dấu cột mốc 250 năm ngày một bản Tuyên ngôn đặt nền cho nước Mỹ ra đời – vì vậy, hai chữ “lòng yêu nước” lại trở thành khẩu hiệu đầu môi. Nhưng giữa pháo bông và diễu hành, giữa những lá cờ bay trên sân vận động và những đứa trẻ từ chối hát quốc ca, người Mỹ nói chung, và người Mỹ gốc Việt nói riêng thật sự nghĩ gì về lòng ái quốc?
Ngày 4 Tháng Bảy năm nay, Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ tròn 250 tuổi. Đó là một con số thiêng liêng. Một phần tư thiên niên kỷ. Người Mỹ nào cũng hiểu rằng ngày 4 Tháng Bảy mang ý nghĩa lớn lao hơn nhiều so với cá nhân của mỗi người, ở một góc độ nào đó. Đó là dịp để tôn vinh nền dân chủ và vai trò công dân – ai cũng bình đẳng trong nền dân chủ ấy. George Washington thấu hiểu sâu sắc điều này. Trong bản di chúc của mình, ông tự mô tả bản thân là “một công dân Hoa Kỳ, và từng là tổng thống của quốc gia này.” Ông trân trọng danh phận công dân Mỹ, một danh xưng mà chính ông cùng các nhà cách mạng Mỹ khác đã góp phần tạo dựng, và coi trọng vị thế đó hơn cả vinh dự nhất thời của chức vụ tổng thống. Trong Tuyên Ngôn Độc Lập, Abraham Lincoln từng nói rằng mọi quan điểm chính trị của ông đều "bắt nguồn từ những tư tưởng được thể hiện trong Tuyên Ngôn Độc Lập.” Ông tin tưởng tuyệt đối sứ mệnh của nước Mỹ là trút bỏ "gánh nặng khỏi đôi vai mọi người.”
Trong chính trị đương đại, có hai mô hình dân chủ chân chính. Đó là tổng thống chế như tại Hoa Kỳ và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Hoa Kỳ như Brasil, Argentina, hay quốc hội chế (hoặc đại nghị chế) tại Anh Quốc và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Anh Quốc như Canada, Úc.
Cách đây mười năm, ngày 23 tháng 6 năm 2016, với khẩu hiệu chủ đạo “Người dân phải giành lại quyền kiểm soát”, phe vận động Brexit đã muốn giành lại quyền tự chủ mà theo họ đã bị Liên minh châu Âu (EU) tước đoạt, đồng thời kiểm soát chặt chẽ hơn biên giới của nước Anh...
Sự khác biệt giữa chủ nghĩa xã hội dân chủ và chủ nghĩa cộng sản là một hệ thống giữ gìn dân chủ và một hệ thống hủy diệt dân chủ. Chủ nghĩa cộng sản, như đã thực sự được dựng lên trong suốt thế kỷ 20, nghĩa là sự cai trị độc đảng, việc xóa bỏ sở hữu tư nhân, một nền kinh tế chỉ huy, và sự trấn áp bất đồng chính kiến cùng tôn giáo. Chủ nghĩa xã hội dân chủ nghĩa là thắng cử, mở rộng nhà nước phúc lợi, và chấp nhận – theo đúng định nghĩa – rằng bạn có thể bị phế truất bằng lá phiếu. Cái thứ nhất chấm dứt dân chủ, cái thứ hai phụ thuộc vào dân chủ. Toàn bộ ý nghĩa của chữ dân chủ, được thêm vào một cách có chủ ý từ một thế kỷ trước, chính là để đánh dấu bức tường ngăn cách đó.
Trong một cuộc hỏi đáp về thỏa thuận Iran, Tổng thống Donald Trump được hỏi một câu rất căn bản: ông có đưa văn kiện này ra Quốc hội hay không? Câu trả lời: “Chưa từng nghĩ tới. Nhưng sẽ làm.” Chính vế đầu mới đáng nói.Trong một nền dân chủ hiến định, Quốc hội không phải là điều “nghĩ tới sau”. Nhất là với những quyết định liên quan đến chiến tranh, hòa bình và đối ngoại — những lĩnh vực mà Hiến pháp không trao trọn cho một cá nhân.
Phó Tổng thống Hoa Kỳ JD Vance hôm nay Chủ nhật đến Thụy Sĩ để mở màn vòng thương thuyết với các giới chức cao cấp của Iran, với kỳ vọng nối dài một thỏa ước đình chiến hãy còn mong manh, nhằm chặn lại cuộc chiến đang làm đảo lộn trật tự Trung Đông. Cuộc họp bốn bên giữa Hoa Kỳ, Iran, Pakistan và Qatar tại Geneva được xem như cơ hội hiếm hoi để cứu vãn hòa bình trên giấy, trong khi ngoài chiến trường, tiếng súng và những toan tính quyền lực vẫn chưa chịu lắng. Trong khi giới thương thuyết ngồi lại ở Geneva, những con số dưới đây cho thấy cái giá thực sự của cuộc chiến đối với các bên tham chiến, với cả vùng, và với phần còn lại của thế giới.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.