Hôm nay,  

Tình Anh Với Em

15/05/202600:00:00(Xem: 519)
 
iStock-2198845859
Trong những mối quan hệ bạo hành, nạn nhân phát triển một thứ tình cảm vừa yêu vừa sợ. Sợi dây ràng buộc đó dệt bằng cảm giác “vừa nhục vừa vinh”. Bị chửi mà vẫn thấy được để mắt tới. Bị dọa mà vẫn thấy mình “quan trọng”. Ảnh: istockphoto.
 
Cô tự nhủ, cũng chưa đến nỗi nào.

Anh la hét, chửi mắng, nhưng chưa hẳn đánh cô. Anh sỉ nhục người khác, nhưng vì cô hiểu và yêu anh, cô tin mình sẽ không bị đối xử như thế. Hồi mới quen anh, cô có việc làm, đủ ăn đủ xài. Bây giờ, móc túi không đủ tiền đổ xăng, cô cũng không một lần oán anh.

Bị anh dụ ngọt, gạt hết lần này tới lần khác, cô ôm khư khư vào lòng cái lần đầu hiếm hoi anh cho cô cảm giác mình được bảo vệ, bênh vực. Chỉ một cái ôm, một câu nói “mình em hiểu anh thôi” là đủ vốn liếng để cô tự nuôi sống mối “tình anh với em” dài tập trong đầu.

Bạn bè phân tích, giải thích. Cô gạt đi. “Mấy người không hiểu anh ấy,” cô nói, “Mấy người không hiểu tôi.” Cô quen dần với lối anh nâng giọng, hạ giọng, bóp cổ, bịt miệng. Là người thông minh, trong sâu thẳm, cô biết có gì đó không ổn nhưng cô vẫn cố bênh vực, cố bào chữa. Bởi vì rời bỏ anh nghĩa là phải nhận mình đã sai lầm lâu năm, mà đối diện chuyện đó, đôi khi, còn đau hơn cả ở lại chịu đòn.

Đến đây, có lẽ bạn đọc nghĩ đến một người phụ nữ không dứt được khỏi người chồng bạo hành.

Nhưng tôi không có ý định nói chuyện vợ chồng. Tôi muốn nói về mối tình giữa một “lãnh tụ” và những người yêu ông. Tôi đang nói về thứ tình yêu mà rất nhiều người, trong đó có nhiều người Việt tại Mỹ, dành cho Donald Trump.

Các nhà tâm lý gọi mối quan hệ này là một dạng “ràng buộc chấn thương”. Trong đó, người trong cuộc dần dần phát triển một thứ tình cảm vừa yêu vừa sợ với kẻ bạo hành. Sợi dây đó dệt bằng cảm giác “vừa nhục vừa vinh”. Bị chửi mà vẫn thấy mình được để mắt tới. Bị dọa mà vẫn thấy mình “quan trọng”. Họ chờ đợi và mang ơn những phần thưởng nhỏ nhoi vốn dĩ là quyền của họ, như người vợ mang ơn chồng… đã không đánh mình trong hai ngày liên tiếp, như cử tri mang ơn tổng thống… đã không trục xuất họ. Dần dần, họ nghi ngờ chính trí nhớ, cảm nhận, lương tri, quyền yêu thương bất cứ ai khác của mình.

Mối quan hệ giữa Donald Trump và những người trung thành với ông, ở nhiều điểm, là một mối tình kiểu “yêu mình anh thôi” như vậy. Trump liên tục chửi bới, bóp méo sự thật, tấn công các nền tảng đạo đức và niềm tin, hạ nhỏ đối thủ, gọi báo chí là “kẻ thù của nhân dân”, tấn công khoa học, tòa án, xỉ vả bất cứ ai dám nói dám nghĩ khác mình, rồi bảo đám đông: chỉ có anh là nói thật, tụi kia toàn “fake news”. Cả giáo hoàng nói khác ý cũng bị ông xỏ là “không biết gì”, “không Công giáo cho lắm”. Ông không nói bừa. Ông nói để dằn mặt cho phe mình hiểu: ngoài ta ra, từ Giáo hoàng tới ông bà cha mẹ các ngươi, hễ không theo ta thì chẳng ai đáng tin. Đó là bài bản của kẻ bạo hành: tấn công mọi người thân tín, mọi nguồn thông tin, cắt dần từng chỗ dựa, để từ nay em có chuyện gì thì chỉ “nghe mình anh thôi”.

Song song, Trump rất mê diễn vai “anh hùng”, đem người yếu thế ra giễu cợt cho thiên hạ mua vui. Ông nhại điệu bộ một ký giả khuyết tật ngay trên sân khấu vận động, tay chân vặn vẹo, nói giọng ngọng nghịu, chờ đám đông “yêu ông” cười hả hê. Khi tuyên bố tranh cử, ông gom cả một cộng đồng người Mễ vào chung rọ “buôn ma túy”, “tội phạm”, “hiếp dâm”, rồi ném thêm câu “chắc cũng có vài đứa tốt” kiểu đại ca giang hồ ban ơn, cho thiên hạ thấy mình cũng biết “công bằng”.

Đụng đến phụ nữ, ai ông không ưa thì tỉnh bơ gọi là “heo nái”, “chó má”, “đồ rỗng não, đĩ thỏa”, như thể đó là thứ ngôn ngữ hoàn toàn chấp nhận được ở cửa miệng một nguyên thủ. Mấy xứ da màu hay xứ nghèo thì ông gộp luôn thành mấy “xứ hố phân” cho gọn. Riêng mấy nữ dân biểu da màu, ông phán thẳng: “Không ưa thì xách gói cút về xứ tụi bây đi”, bất kể họ là công dân Mỹ.

Ở mức độ đó, ông không chỉ buột miệng vài câu cho qua chuyện mà dựng hẳn một giáo trình nhục mạ bài bản. Kẻ đầu đàn đứng giữa sân khấu biểu diễn sự tàn nhẫn, đám đông xung quanh học cách nuốt nhục giùm người khác mà vẫn tưởng không phải nhục của mình. Ví dụ điển hình là vụ người Việt yêu ông nuốt xuống lời lẽ hạ tiện khi Trump ví việc “tránh bệnh hoa liễu lúc chơi gái” với “chiến tranh Việt Nam của tôi”.

Chiêu kinh điển nữa là lỗi không bao giờ ở anh. Chính sách trục trặc là do “thằng kia”, do “bọn di dân”, “truyền thông dối trá”, “deep state”, “tụi nó phá”, tuyệt nhiên không bao giờ vì quyết định của anh. “Anh đâu có vấn đề, chỉ là bọn tồi tệ nói xấu anh”. “Em làm anh giận nên anh mới phải bạt tai em”. Em mà bỏ anh là em “phản bội” nên anh mới phải trừng trị em.

Cứ thế, giữa một người đàn ông đội nón đỏ đứng trên sân khấu và đám đông dưới kia, sợi xích nối họ không chỉ là quan điểm chính trị, mà là một dạng dây trói tâm lý quen thuộc: vừa sợ, vừa nghiện, vừa tự thuyết phục mình rằng ăn chửi, ăn hắt hủi như vậy là… dấu hiệu của một thứ “tình yêu dịu vợi”.

Với cộng đồng người Việt tị nạn, những người mang theo vết thương 1975, triền miên bị ám ảnh cộng sản và nỗi sợ Trung Quốc – bài ca “anh là người duy nhất yêu em” đằng sau sợi dây bạo hành rất dễ đâm trúng tim đen. Lịch sử một ngàn năm Bắc thuộc, một trăm năm Pháp thuộc, chiến tranh tương tàn, biến cố mất nước 1975, thuyền nhân, trại tị nạn… để lại những mất mát, những vết sẹo tập thể khó lành. Trong ký ức của nhiều người, thế giới chia làm hai màu: một bên là cộng sản và những kẻ “thân cộng”; một bên là bất cứ ai “chống tụi nó” đủ to tiếng.

Trong cái khung trắng–đen đó, chỉ cần ai lên giọng hô khẩu hiệu chống xã hội chủ nghĩa, chống cộng sản, chửi “Tàu”, đánh thuế hàng Trung Quốc là lập tức được phong “anh hùng trong tim em”, bất kể người đó có thật sự làm điều đó, có tôn trọng luật pháp, có bảo vệ tự do dân chủ, có giẫm lên những cộng đồng yếu thế khác hay không.

Chính ở đây, câu chuyện chính trị trượt sang quỹ đạo bạo hành tâm lý. Trong một quan hệ bạo hành, người trong cuộc thường bám lấy một chi tiết nhỏ nào đó: một vòng ôm, một lời xin lỗi, một lần không bị chửi – tất cả chỉ để khỏa lấp cả một chuỗi hành vi làm nhục, bóp nghẹt, kiểm soát. Nghe một tổng thống Mỹ chửi “Tàu”, chửi “xã hội chủ nghĩa”, thậm chí chửi bọn da “đen hơn mình”, mặc cảm được vuốt ve. Người ta hả dạ vì cuối cùng cũng có người quát thay, giận thay, trả thù thay mình, hay ít gì cũng coi mình hơn “bọn chúng”. Trong một thế giới khéo xếp hạng màu da và đẳng cấp, thấy người khác bị đạp xuống thấp hơn mình mang lại cảm giác mình “vẫn còn trên cơ”. Những cơn hả hê đó nặng cân đến mức mọi giá trị căn bản lâu đời bị dẹp sang một bên. Người Việt yêu Trump mặc kệ cách ông ta ăn nói cư xử vô văn hóa, vô đạo đức, bỏ qua luôn việc ông ta làm khó di dân, kỳ thị người khuyết tật, nhục mạ da màu; xem thường luật lệ, đạp đổ những thể chế tự do dân chủ từng bảo vệ chính họ và con cái họ.

Lá phiếu của một bộ phận lớn người Việt này, vì thế, không dựa trên đời sống hằng ngày trên đất Mỹ – lương bổng, bảo hiểm, giáo dục, sức khỏe, tương lai con cái – mà dựa trên những ám ảnh của quá khứ, của “kẻ thù truyền kiếp” và sự mặc cảm nhược tiểu. Họ bỏ phiếu như người đang đứng trên boong tàu nửa thế kỷ trước, chứ không như công dân một nước Mỹ của hôm nay. Họ nhắm mắt trước những giá trị tự do, dân chủ mà chính quyền Trump đang ra sức đục khoét. Từ ngoài nhìn vào, lòng sùng bái của một cộng đồng mất nước thật khó giải thích, nhưng nhìn kỹ cũng hệt như lý lẽ của người vợ bị bạo hành, thà chịu đòn còn hơn một lần nữa bị quẳng ra đường.

Nhắc đến những người Việt yêu Trump, sẽ thiếu sót nếu chỉ dừng ở vài nhãn “cuồng”, “mê muội”, “vô cảm”, vì thật ra họ là nạn nhân của một chuỗi dài bạo lực lịch sử, mang vết thương  chưa lành, và đang bị một lãnh đạo chính trị rất thiện nghệ khai thác đến tận cùng.

Và như mọi quan hệ bạo hành khác, chúng ta thay vì chỉ ngồi ngoài hỏi “sao chịu đựng hoài vậy”, điều hữu ích hơn là tìm cách soi đèn vào hầm, để người trong cuộc tự tìm lại niềm tin vào cảm nhận, vào giá trị và lương tri của chính họ, để có ngày đủ tỉnh, đủ giận mà bước ra khỏi hấp lực ấy.

Nhìn rộng ra khỏi cộng đồng Việt, đây không phải chuyện riêng của người tị nạn. Cả nước Mỹ hôm nay có hàng chục triệu người đang ở trong một mối quan hệ bạo hành với Donald Trump mà từ chối nhận ra điều này. Họ say sưa với câu chuyện đẹp đẽ họ tự thêu dệt về ông – người duy nhất dám nói thẳng, dám bảo vệ họ, dám đuổi đám nhập cư “giết người, cướp của, giành công ăn việc làm” với họ, dám đề cao các chính sách bảo vệ làn da, nòi giống thượng tôn của họ khiến nước Mỹ của riêng họ “vĩ đại trở lại”. Để bảo vệ câu chuyện tình đó, họ chấp nhận đạp lên những gì xưa nay thật sự làm nên nước Mỹ vĩ đại, bao gồm luật pháp bình đẳng, báo chí tự do, xã hội đa dạng, tư pháp độc lập... Họ trở nên hoang tưởng, bất an, lúc nào cũng trong tư thế “chuẩn bị đánh nhau” với thiên hạ.  Bởi nếu ngừng bênh ông ta, họ phải thú nhận rằng mình chưa từng “đặc biệt”, chưa từng “hơn tụi kia” như ông đã ‘vì họ’ mà điểm mặt bọn chúng.

Ai từng chứng kiến một người bước ra khỏi một quan hệ bạo hành đều biết khoảnh khắc “nở bung” ấy như thế nào: nạn nhân nhìn lại được gương mặt mình trong gương, nhìn lại được thế giới, nhận ra mình xứng đáng hơn những gì đã chịu đựng. Rồi tự hỏi: “Sao mình lại để người ta đối xử với mình kiểu đó lâu dữ?” Nước Mỹ – với tất cả những người đang bị Trump mê hoặc – cũng xứng đáng có một khoảnh khắc bừng tỉnh như thế.

Và cái ngày soi gương đó chính là bây giờ, không phải là ngày mai. Người Mỹ hôm nay phải hỏi thẳng mình đang sống với Donald Trump trong thứ quan hệ gì vậy? Sau bao lần bênh vực, bào chữa cho những lời nói và việc làm của ông, sau khi đã thấy ông thò tay vào bữa ăn, việc làm, tương lai con cháu mình, sau khi thấy ICE bịt mặt chĩa súng vào dân cư, lôi ông già ra khỏi nhà trong chiếc quần tà lỏn, lôi trẻ em ra khỏi lớp học ngay trong cộng đồng mình sinh sống, thấy nhà báo bị đuổi khỏi phòng họp, người khác chính kiến bị bắt, bị trục xuất – hãy tự hỏi mình bỏ quê hương đi tìm tự do nhưng trở lại cam chịu sống dưới mũi súng nhà nước này tới bao giờ. Đã đến lúc nỗi sợ “mất mặt” nhỏ hơn nỗi sợ mất tương lai con cháu. Đã đến lúc đứng dậy làm bổn phận.

Mà đứng dậy, trong một xứ vẫn còn lá phiếu, không phải là cho ông ta thêm cơ hội mong “anh sẽ khá hơn”. Kẻ bạo hành không “khá hơn”. Họ chỉ xây tường cao hơn, khóa cửa kỹ hơn, siết cổ chặt hơn, để lần sau muốn trốn bạn sẽ không còn lối ra. Với những người này, mỗi lần quay lại là một lần tự chặt bớt đường thoát của chính mình.

Cơ hội hôm nay không đâu xa - ở ngay trong phòng phiếu. Đừng nghĩ rằng cuộc bầu cử giữa kỳ và những lá phiếu địa phương sắp tới không quan trọng, bởi đó chính là lúc chúng ta quyết định có trao thêm quyền lực vào tay người đã nhiều lần dùng chính cỗ lực đó đè cổ, bịt miệng, bóp bụng cộng đồng mình hay không.

Cách duy nhất để thoát khỏi mối quan hệ bạo hành này – với người Việt yêu Trump cũng như với cả nước Mỹ – rốt cuộc vẫn là bài học cũ: nhận lại giá trị của chính mình, nhớ lại mình từng tin vào những gì, và dùng chính lá phiếu của mình để giữ những giá trị đó thay vì nhắm mắt tiếp tục “dâng hiến”.
Không phải vì “phe này đúng, phe kia sai” mà vì một điều tưởng là hiển nhiên mà đôi lúc người ta quên đi: KHÔNG AI ĐÁNG ĐƯỢC PHÉP BÓP CỔ, BỊT MIỆNG MÌNH dù họ nhân danh bất kỳ thứ tình yêu, cờ quạt nào.

Một nước Mỹ từng hãnh diện là thành trì dân chủ, và một cộng đồng người Việt sau hành trình liều mạng tìm tự do - xứng đáng với những gì tốt đẹp hơn mối “tình anh với em” kiểu này.
 
Nina Hòa Bình Lê
 
Tài liệu tham khảo
  • Linh Lê & Vivianne Nguyen, “Why some Vietnamese Americans support Donald Trump”, The Conversation, 18.8.2020.
  • CVDVN, “Why do Vietnamese Americans support Donald Trump? And why not?”, 23.11.2020.
  • “Vietnamese Americans, Donald Trump, and Intergenerational Trauma”, paper trình bày tại American Academy of Religion, 2024.
  • Bài viết “The Abusive Relationship of Trump and His Supporters”, John Pavlovitz, Substack, 2025.
  • “Trauma Bonding: Why Victims Get Attached to Their Abuser”, Recovery Unplugged, 2024; và “Trauma Bonding”, Psychology Today
 
 

Trong kho tàng ngụ ngôn Aesop có hai câu chuyện. Một chuyện kể về cậu bé chăn cừu thích lấy nỗi sợ của cả làng ra làm trò đùa. Cậu nhiều lần hét to “Sói! Sói!” để lừa người lớn chạy hộc tốc lên đồi, rồi bỏ về, bực bội vì bị lừa. Đến một ngày nọ, sói thật xuất hiện, cậu kêu cứu đến khản cổ mà không còn ai buồn chạy lên đồi cứu giúp, khiến đàn cừu của cậu bị sói vồ sạch. Chuyện thứ hai kể về một con sói thật kiên nhẫn. Ngày này qua ngày khác, nó lảng vảng đến gần đàn cừu. Lúc đầu, người chăn cừu cảnh giác, luôn tay xua đuổi nó. Nhưng sói chỉ đứng xa, trông hiền hòa, không vồ con nào. Lâu dần, chàng chăn cừu quen thuộc với sự hiện diện của Sói, cho đến khi bóng dáng con vật trở nên một phần của phong cảnh xung quanh đàn cừu. Tới một hôm bận việc, anh cả tin đến mức gửi luôn đàn cừu cho sói “trông hộ”. Tối về, chuồng chỉ còn vài con sót lại.
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.